Chương 1. TRAN QUANG QUÝ VA HANH TRÌNH SÁNG TẠO THO 1. Thơ hiện đại Việt Nam sau 1975 Sự đa dạng về phong cách và sự phong phú về giọng điệu là đặc điểm nỗi bật của thơ Việt sau 1975. Nếu trước đây, Tổ Hữu và Chế Lan Viên được coi là những người lĩnh xướng của thơ ca kháng chiến thì sau 1975, hiện tượng này không xuất hiện trở lại.
Thay vào đó, mỗi người có cách thể hiện cái nhìn nghệ thuật của mình. Sự gần gũi về quan niệm và phong cách giữa một số nhà thơ có thể hình thành một xu hướng, một phái nhóm chứ không xuất phát từ một phương pháp sáng tác độc tôn nào đó. Chính sự đa dạng và sự “phân cực” về tư duy nghệ thuật, về khuynh hướng thâm mĩ, về bút pháp và ngôn ngữ là một dấu hiệu cho thấy thơ ca sau 1975 đang sải những bước chân mạnh mẽ trên con đường hiện đại hoá. Người ta không còn thấy lạ khi bên này là những nhà thơ đắm mình trong văn hoá truyền thống và bên kia là những cách tân theo kiêu phương Tây, bên này là những nhà thơ có ý thức tỏ bày cảm xúc mãnh liệt và bên kia là những cây bút tỉnh táo giấu kín cảm xúc của mình.
Tất cả những phương cách ấy đều có quyên tôn tại với điều kiện là thơ họ phải có hay và mới. Nhưng mới không có nghĩa là đoạn tuyệt với truyền thống và hay không đồng nghĩa với những thuật xiếc chữ để tạo nên sự tân kì mà trống rỗng. Đọc thơ, suy cho cùng cũng một cách tiếp cận kinh nghiệm sống, tiếp cận những giá tri tinh than do nhà thơ sáng tạo nên. Nhưng mỗi nhà thơ đều phải sống trong một thời đại cụ thể, trong một không gian tinh than cụ thé.
Vì thế, thơ họ, một mặt, thê hiện những suy tư cá nhân độc đáo nhưng mặt khác, những suy tu ấy phải thê hiện được tâm thé và trạng thái tinh than của thời đại 12 mình. đây không phải là chuyện thể hiện “tinh thần công dân” trong sáng tao nghệ thuật mà thực chất, là năng lực cảm nhận chiều sâu thế giới của nghệ sĩ. Bỏ qua điều này có nghĩa là rời bỏ quan điểm lịch sử khi xem xét và đánh giá các giá trị nghệ thuật của các thời đại khác nhau. Điều đó đòi hỏi việc đánh giá thơ ca nước nhà trong hơn ba mươi năm qua cần được được nhìn nhận một cách khách quan và xuất phát từ những tiêu chí khoa học hợp lý.
Không vì đánh giá cao những đổi mới trong thơ đương đại mà xem nhẹ những đóng góp của thơ ca thời kháng chiến và cũng không nên xuất phát từ tư duy nghệ thuật thời kỳ 1945-1975 dé bắt bẻ và hat hui những nỗ lực cách tân (thậm chí có khi cực đoan) của những cây bút mong muốn đổi mới nhiệt thành. Thơ ca hậu chiến cho thấy những chuyền đổi về tư duy nghệ thuật và ý thức “cởi trói” để xác lập một quan niêm về nghệ thuật. Gắn liền với những thay đổi ấy trong cấu trúc tư duy nghệ thuật là vị thé của nhà thơ trong hoàn cảnh mới. Nhà thơ không phải là những người rao giảng đạo đức hay minh họa cho một tư tưởng sẵn có mà anh ta phải góp phần đánh thức những khát khao, những niềm trắc ẩn của con người trên cơ sở trình bay cảm nhận của mình về các giá trị.
Nỗ lực khám phá sự phong phú của “cái tôi ân giấu”, đám phơi bày những bi kịch nhân sinh, hoài nghi những giá trị vốn đã quá ổn định để đi tìm những giá trị mới. Đây là lý do nhiều tác phẩm xuất hiện cảm hứng “giải thiêng” và khát vọng muốn tìm đến những hình thức tổ chức ngôn từ mới lạ. Đọc thơ bây giờ, có cảm giác phần đông nhà thơ đều muốn chống một cái gì đó cho đúng vẻ có bản lĩnh cách tân và hiện đại hóa; cố gắng phô diễn sự vi phạm một điều gì đây cho có vẻ hợp thời và thể hiện sự bạo dạn của người cầm bút. Nhiều nhà thơ sáng tác sau 1986 muốn chống lại ngôn ngữ sử thi, thơ điệu ca trước kia; đối với họ đó là thứ ngôn từ đã trở thành sáo rong, nham chan, phién diện, cần dứt khoát từ bỏ dé truyền cho thơ một điệu 13 thức mới, một đời sống thực sự mới mẻ.
Họ có thé chống lại những quy ước chung của cộng đồng, những gì được cho là cấm ki, phi thơ, phi văn học; có thé chéng chính thé hệ đi trước, những văn bản văn học trước đó được lưu hành và có ảnh hưởng nhất định đối với công chúng, chống lại một thứ ngôn ngữ kiến tạo ra những con người điển hình. Thậm chí, họ chống lại sự diễn giải có tính chất quán tính về thơ của họ, mọi sự đọc theo cách cũ, tiêu chuẩn cũ, chống lại những nhà phê bình quen “cầm roi” và độc quyền chân lý. Nhu vậy là, nhà thơ bây giờ tiếp tục đòi hỏi mở rộng tư duy và cách viết, muốn làm mới bằng cách chống lại mọi thứ hiện hữu - từ quan niệm văn học, khuôn mẫu thể loại, mỹ cảm, ngôn từ, đến những cách nhìn, cách cảm thế giới và những thiết chế xã hội văn hóa đang ràng buộc, hiệu chỉnh, quyết định mọi cái việt; kháng cự lại những cái viet chức năng/ công cụ. Bản chất của thơ, của văn học như là sự chống lại những thói quen, những cái hàng ngày, những thứ lâu ngày đã trở thành quán tính trượt ra ngoài sự chú ý của chúng ta? Phải chăng sử dụng ngôn ngữ cam ky, miêu tả những vùng cấm ky, bộc lộ thái độ cắm ky là sự đổi mới thơ/ văn học đích thực? Người viết nao cũng đối diện với một bên là bảo tồn, duy trì, triển diễn những nội dung cũ, hình thức cũ - một sự quay trở về, hòa tan vào đám đông, bồi đắp cho “những ngọn núi”; với một bên là kháng cự cái đã biết, tim cách thay đổi, làm khác đi, nhằm tạo ra những hình thức mới, nội dung mới - một sự mở đường, tiến về phía trước.
Sáng tạo là sự chống lại cái cũ, cái đã quen theo nhiều đường hướng khác nhau. Chống lại cái đã quen dé làm khác, làm mới, làm cho văn học phong phú hơn, đa dang hon và còn dé thỏa mãn khoái cam thâm mỹ, đánh dấu sự hiện diện của cá nhân. Sáng tạo bao giờ cũng là sự thay đôi, tháo đỡ, “sai khác”, cấu trúc lại. nhằm tạo ra cái khác.
Vì vậy, sáng tạo là một hành động nguy hiểm, đầy khó khăn thử thách, không ít rủi ro và khó tránh khỏi sự chỉ trích, chê giêu, phủ nhận của đám đông đại diện cho cái cũ. 14 Đích của sáng tạo không phải hướng đến cái tôi hay cái ta, mà là ngôn ngữ mới, luật chơi mới, tri thức mới - những thứ có thể gây ra ở người đọc một khoái cảm, hiệu ứng nao đó, thậm chí một sự khó chịu. Không có tham vọng làm khác, tạo ra một ngôn ngữ moi, lời nói mới, kí hiệu mới, cách nhìn mới nào thì sự viết đó coi như chưa có ý thức sáng tạo, chưa có bản lĩnh sáng tạo. Khoái cảm của người viết thể hiện ở chỗ anh ta say mê với ngữ pháp mới, quan niệm mới, cách nhìn mới, ý tưởng mới, từ ngữ mới.
Khoái cảm của anh ta là khoái cảm với những câu chữ, kí hiệu - tự do nghĩ ra những phát ngôn mới, nỗ lực tìm kiếm cách nói mới, đặt ra những từ ngữ mới, cau trúc những nhịp điệu khác và lạ. Trần Quang Quý đời sống và sáng tạo thơ 1. Tác giả Trần Quang Quý Nhà thơ Trần Quang Quý, sinh năm 1955, quê xã Xuân Lộc, huyện Thanh Thuỷ, tỉnh Phú Thọ. Từ năm 1971-1977, là công an nhân dân vũ trang (nay là bộ đội biên phòng).
Năm 1983-1985, học khoá II, trường viết văn Nguyễn Du. Năm 2000, cử nhân Anh ngữ, đại học Ngoại ngữ Hà Nội. Anh đã từng là cán bộ văn hóa Vĩnh Phú; Tổng biên tập tạp chí Dân số & Gia đình; Tổng biên tập báo Gia đình & Xã hội; Phó ban nhà văn trẻ Hội Nhà văn Việt Nam. Hiện đang là Phó Giám đốc Nhà xuất bản Hội Nhà văn.
Tác giả làm báo và sáng tác văn thơ. Thơ Trần Quang Quý thường phát hiện từ khía cạnh thầm kín trong tâm hồn và có cách tân về hình thức; từng được giải nhì thơ của tạp chí Văn nghệ Quân đội, giải thưởng thơ của tuần báo Văn nghệ và của Hội Nha văn Việt Nam. Trần Quang Quý quan niệm: "Thdi độ sống quyết định sang tác. Tôi cho rang, dù làm bat cứ việc gì, nếu không tận tâm, tận lực với nó thì chỉ có thể thành thợ.
Văn chương lại khó khăn hơn nhiều; đặc biệt là thơ. Nó doi hoi sự ky thác máu thịt, một thái độ văn hoá, một sự dong cam lon. Hành trình sang tạo thơ Sinh thời M.Gorki đã từng khang định “Nghệ sĩ là người biết khai thác những ấn tượng riêng chủ quan của mình, tìm thấy trong những ấn tượng có cái giá trị khái quát và biết làm cho những ấn tượng ấy có được hình thức riêng”. Có thê nói, tiêu chuẩn cao nhất dé đánh giá một nghệ sĩ là ở chỗ anh ta có đem lại một cái gi mới mẻ, riêng biệt hay nói chính xác, là một phong cách độc đáo cho nền văn học dân tộc hay không? Những sáng tác của Trần Quang Quý “không muốn lặp lại những nẻo đường người khác đã từng đi.
Anh muốn đưa thơ vươn tới tầm tư duy mới mẻ của thơ ca hiện đại” (Nguyễn Đăng Điệp). Những sáng tác của anh được độc giả và các nhà nghiên cứu, phê bình đánh giá cao như các tập thơ: Viét tặng em trong ngôi nhà chật (1990); Mắt thắm (1993); Giấc mơ hình chiếc thot (2003); Siêu thị mặt (2006); Cánh đông người (song ngữ Việt — Anh, 2010). Ngoài ra, còn có : Bo sông trăng sáng (iập truyện ngắn, 2010), Lời sam hồi muộn man, chi Châu (Phim truyện — đã phát trên VTV3 và nhiều truyện ngắn, bút ký. Với những đóng góp của mình, Trần Quang Quý đã giành được nhiều giải thưởng Văn học — nghệ thuật: Giải nhì tạp chí Văn nghệ Quân đội, 1984 Giải thơ tuần báo Văn nghệ các năm 1990 -1991, 1994-1995.
Giải ba truyện ngắn báo Người Hà Nội, 1995. Giải thưởng Văn học 2004, Hội Nhà văn Việt Nam. Giải thưởng Béng lúa vàng (Viết về nông nghiệp, nông thôn và nông dân năm 2011). Những yếu tố hình thành phẩm chất thơ của Trần Quang Quý 1.
Quê hương — Vùng bán sơn địa.