Chương 1 KHÁI LƯỢC VE YEU TO Ki AO VÀ SÁNG TAC CUA NGUYEN TUAN 1. Khái niệm về “yếu tố kì 40” hay “cái kì ảo” Cho đên nay việc xác lập đường viên ranh giới cho nội hàm các khái niệm “Cái kì ảo”, “yếu tố kì ảo”, “cái huyén hoặc”, “cái di thường”.là rất z A 99 66 A A 33 66 99 66 khó khăn. Điều này có nhiều nguyên nhân. Có nguyên nhân nằm ở hệ thống thuật ngữ, ở cách chuyên ngữ các thuật ngữ từ tiếng nước ngoài, có nguyên nhân nămở tính chất nhòe mờ, giao thoa ngữ nghĩa của khái niệm.
Khái niệm được sử dụng một cách phổ biến nhất, thông dụng nhất là “cái kì ảo” hay “yếu tố kì ảo”. Yếu tố kì ảo trong văn học là một thành tố mang giá trị nghệ thuật, xuất hiện trong tác phẩm văn học với tư cách là hạt nhân của loại truyện kinh di. Nó được coi như một phương tiện hữu hiệu dé nhận thức và phản ánh cuộc sông nhằm mang lại những giá trị thâm mĩ nhất định. Trên cơ sở tìm hiểu từ điển giải nghĩa của Pháp, thuật ngữ văn học Rumani, từ điển Pháp Việt, Lê Nguyên Cần cho rằng: “Cái ki do là sản phẩm của trí trong tượng, được tạo ra nhờ khả năng suy tưởng, ở đó cái siêu nhiên chiếm ưu thế.
Đó là những cái không mang tính chân thực, chỉ tuân theo quy luật của tưởng tượng. Đó là cai ki quặc, di thường, hư ao, quai di, siêu nhiên, kinh khủng, huyễn hoặc”[4. Từ những năm bảy mươi của thé kỉ trước, Tzevan Todorov đã dày công nghiên cứu, khảo sát, từ đó xác lập những vấn dé lí thuyết liên quan đến truyện kì ảo qua công trình Dan luận về văn chương kì ảo. Qua đó, ông dẫn ra nhiều cách nói khác nhau về cái kì ảo (yếu tố kì ảo) nhưng nội hàm của cách nói đó vê cơ bản là không khác nhau và ông đã đi 10 đến kết luận: “Cẩn ghi nhận thêm rằng những định nghĩa về cái kì ảo thường thay gan đây trong những bài viết ở Pháp, nếu không giống hệt như của chúng tôi thì cũng không nói ngược lai” [41, tr.
Và dé chứng minh cho điều đó, ông dẫn ra một số quan niệm của các nhà nghiên cứu, các nhà lí luận hàng đầu châu Âu trước đó. Theo Tzevan Todorov, nhà triết học thần bí người Nga Soloviov cho rang: “Trong cái ki ảo thực sự, người ta luôn giữ một khả năng bê ngoài và về hình thức của một sự giải thích đơn giản những hiện tượng, song dong thời sự giải thích này lại hoàn toàn thiếu khả năng có thật trong nội tai” [41, tr. Montague Rhodes Fames, một nha văn Anh chuyên viết truyện kinh di, cũng có một cách hiểu như vậy khi cho rang: “Đồi khi can phải có một cái cua đi ra cho một sự giải thích tự nhiên, nhưng tôi can nói thêm: cdi cửa ấy phải khá hep dé người ta không sử dụng nó được” [41, tr. Cũng cách nhìn ấy, Olga Reimann cho rằng: “Nhân vật liên tục cảm thấy rõ rệt mâu thuần giữa hai thé giới, thé giới của cái thật và của cái kì ảo, và bản thân anh ta cũng phải ngạc nhiên trước những sự khác thường quanh minh” [41, tr.
Còn Castex viết trong Truyện kể kì ảo ở Pháp: “Cái kì do. một sự xâm nhập đường đột cua cải bi ẩn và khuôn khổ của cuộc sống thực” [41. Trong công trình Đặc trưng nghệ thuật truyện ngắn Anh Mỹ, Lê Huy Bắc đã phan nao lí giải yếu tố kì ảo. Theo ông, “Các yếu to kinh di da phan là yếu tổ kì do, hoang đường, những yếu to con người không thể cắt nghĩa bằng lí trí thông thường” [2.
Có cùng cách hiểu như các nhà nghiên cứu trước đó, tuy nhiên Lê Nguyên Cân lại có cái nhìn gần hơn khi xét cái kì ảo trong phạm vi văn ban van học. Ông viết: “Nhu vậy, cái kì ao là một phạm trù tu duy nghệ thuật, nó được tạo ra nhờ trí tưởng tượng và được biểu hiện bằng các yếu to siêu nhiên, khác lạ, phi thường, độc đáo.Nó có mặt trong văn hoc dan gian, văn học viết qua các thời đại. Nó ton tại trên trục thực - ao, va ton 11 tại độc lập, không hòa tan vào các dạng thức khác của trí tưởng tượng” [4, tr. Từ những cách hiểu trên đây chúng tôi tổng hợp và đi đến một cách hiểu thống nhất về yếu tố kì ảo như sau: Yếu t6 kì ảo là một thủ pháp được sản sinh bằng trí tưởng tượng, liên tưởng, kết nối thực và ảo nhằm tạo nên những nỗi sợ hãi ghê gớm.tác động vào phẩm chat sợ hãi của con người qua các hình tượng ma quái, với không gian, thời gian cõi âm cõi trần đồng hiện, đa chiều.
Không thể giải thích các yếu tố hiện tượng đó bằng cách này hay cách khác. Chỉ có thể cảm nhận bằng văn hóa tâm linh. Khái lược về yếu tố kì ảo trong sáng tác của Nguyễn Tuân 1.1 Nguyễn Tuân cuộc đời và văn nghiệp 1. Cuộc đời nhà văn Nguyễn Tuân Nhà văn Nguyễn Tuân sinh ngày 10/07/1910 tại phố Hàng Bạc, Hà Nội.
Thân sinh ông là cụ Nguyễn An Lan tức ông tú Hải Văn, một nhà nho tải hoa đậu khoa thi Hán học cuối cùng, nhưng cũng là một nhà nho bất đắc chí dưới chế độ phong kiến. Nguyễn Tuân sinh ra trong một gia đình Nho học nhưng giữa lúc Nho học thất thế, nhường chỗ cho Tây học và ông lớn lên vào buôi giao thời Tây — Tàu nhé nhăng “6i a ba phèng”. Bối cảnh xã hội, không khí gia đình đặc biệt ấy đã ghi dấu ấn sâu sắc vào trong cá tính, tư tưởng cũng như phong cách nghệ thuật của Nguyễn Tuân. Là một tri thức giàu tinh thần dân tộc, Nguyễn Tuân đã phải trải qua những năm tháng khô sở, có lúc bề tắc, tuyệt vọng.
Nguyễn Tuân sinh ra ở Hà Nội, nhưng thời thanh thiếu niên đã cùng với gia đình sống nhiều ở các tỉnh miền Trung, Khánh Hòa, Phú Yên, Hội An, Đà Nẵng, Huế, Hà Tĩnh, Thanh Hóa. Năm 1929, khi đang học trung học ở Nam Định vì tham gia một cuộc bãi khóa phản đối chống giáo viên người Pháp nói xấu người Việt Nam nên ông bị đuôi học, không chịu được cảnh 12 sống nô lệ, ông cùng một nhóm bạn vượt biên sang Lào rồi bị bắt ở Thái Lan, đưa về giam ở Thanh Hóa (1930). Ké từ đây, Nguyễn Tuân rơi vào tinh trạng khủng hoảng tinh thần sâu sắc, ông đi vào con đường ăn chơi trụy lạc, thành kẻ “đại bất đắc chí”, như một người “hư hỏng hoàn toàn”. Ở tù ra, Nguyễn Tuân làm thư kí nhà máy đèn và bắt đầu cam bút.
Ông làm báo viết văn và bắt đầu nỗi tiếng từ năm 1938, 1939 với tác pham Mot chuyến di, Vang bóng một thời.Ngoài văn học Nguyễn Tuân còn say mê diễn kịch, đóng phim. Ông là một trong những diễn viên điện ảnh đầu tiên ở nước ta. Năm 1940 cuốn Vang bóng một thời được in. Đến 1941 Nguyễn Tuân bị bắt tại Hà Nội và bị đưa đi trại giam tập trung.
Khi di ở trại tập trung về, Nguyễn Tuân lại bắt đầu viết và cho in một loạt tác pham mới. Cách mạng tháng Tám đã làm “hồi sinh” tác giả, ông hòa vào dòng người hân hoan đón chào cuộc sống mới, tự “lột xác” và chân thành đứng vào hàng ngũ nhà văn phục vụ cách mạng. Kháng chiến toàn quốc bùng nổ, Nguyễn Tuân tham gia vào đoàn văn hóa kháng chiến, làm kịch tuyên truyền ở Thanh Hóa, Vinh. Năm 1947, ông làm trưởng đoàn kịch tuyên truyền của khu Bốn.
Ông được bầu làm Tổng thư ký Hội văn nghệ toàn quốc từ 1948 — 1956, là ủy viên Chấp hành Hội liên hiệp văn học nghệ thuật Việt Nam và Hội nhà văn Việt Nam từ 1957 tới lúc mat. Nguyễn Tuân đã đi tới moi noi xa xôi nhất, bat kê ở đâu dù là miền núi hay đồng bang, tham gia cả vào những trận đánh của bộ đội, cho ra đời những trang viết hết sức sống động, phản ánh kịp thời không khí đánh giặc sôi động của quân và dân ta. Trong những năm 60, 70 ông còn viết phê bình văn học. Ông viết về tác giả trong nước, ngoài nước, các vân đê văn học mà ông đang quan tâm.
13 Nguyễn Tuân hoạt động trên nhiều phương diện: viết truyện, kí, phê bình văn học, dịch thuật, diễn kịch. Nguyễn Tuân hăng hái tham gia vào hai cuộc kháng chiến, bằng ngòi bút tài hoa của mình, ông đã có công đóng góp lớn vào việc ngợi ca quê hương đất nước và con người Việt Nam trong chiến đấu, sản xuất và xây dựng. Nguyễn Tuân mat ngày 28/07/1987 tại Hà Nội. Ong được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học va nghệ thuật năm 1996.
Văn nghiệp Nguyễn Tuân Nguyễn Tuân là một trí thức dân tộc rất mực tài hoa, uyên bác, ông am tường cả Hán học lẫn Tây học, đặc biệt có lòng say mê thiết tha với tiếng Việt. Doc văn ông ta không chỉ thấy một Nguyễn Tuân “ bậc thay của nghệ thuật ngôn từ Việt Nam” (Mai Quốc Liên) mà ta còn được bồi đưỡng thêm tri thức về nhạc, họa, điêu khắc, kiến trúc, lịch sử, địa lý, điện ảnh. Thực tế ay chứng tỏ Nguyễn Tuân là một tài nang da dang, có năng lực ở nhiều lĩnh vực nghệ thuật. Sự nghiệp hơn nửa thé ki của Nguyễn Tuân là một quá trình lao động nghệ thuật thực sự nghiêm túc, ông luôn nghiêm khắc với chính mình.
Nhà văn Nguyễn Dinh Thi đã nhận xét: “Nguyễn Tuân là một nhà văn suốt đời di tìm cái đẹp, cái that” [23. Đã làm nghệ thuật, người nghệ sĩ nào cũng mong muốn di tìm cái đẹp, cái thật, còn đối với Nguyễn Tuân, ông là nghệ sĩ nâng cái đẹp thành tôn giáo dé phụng thờ, phụng sự. Nguyễn Tuân là tín đồ nhiệt thành của tôn giáo có tên là Nghệ Thuật, cái đẹp với nhà văn này thiêng liêng và có tác dụng cứu rỗi linh hồn, tâm hồn con người. Trước cách mạng tháng Tám, trong hoàn cảnh đất nước bị xâm lược, moi thang bậc giá trị trong xã hội bi đảo lộn “đi a ba phèng”, Nguyễn Tuân đứng hắn về phía dân tộc và truyền thống, chống lại lối sống xu thời.
Sáng tác 14 của ông thời kì này chủ yếu dồn lại ở việc phục hiện các giá trị văn hóa truyền thống thuộc lĩnh vực tinh thần của xã hội. Nhà văn tìm về vẻ đẹp chỉ còn Vang bóng một thời trong niềm xót xa, tiếc nuối.Ông hi vọng sẽ gìn giữ được những nét đẹp, những giá trị thiêng liêng của dân tộc.