CHƯƠNG 1 KHÁI LƯỢC VE THE GIỚI NGHỆ THUAT VÀ TẬP TRUYỆN HUONG RUNG CA MAU CUA SƠN NAM 1. Khái niệm thế giới nghệ thuật va thé giới nghệ thuật trong truyện ngắn 1. Khái niệm thế giới nghệ thuật Tác pham van học được sáng tac bởi một cá nhân hoặc tập thể nhằm thể hiện những khái quát bằng hình tượng về cuộc sống con người, biểu hiện tâm tư, tình cảm, thái độ của chủ thể trước hiện tại. Để một văn bản có được những giá trị đích thực, được mọi người công nhận thì chúng ta không thể phủ nhận sự lao động nghệ thuật không ngừng nghỉ của mỗi nhà văn, nhà thơ.
Bởi thế giới nghệ thuật là sản phẩm sáng tạo của người nghệ sĩ, vì vậy nó là kiểu ton tại đặc thù vừa trong chất liệu, vừa trong cảm nhận của người thưởng thức, đồng thời cũng là sự thống nhất giữa nội dung và hình thức trong chỉnh thé thâm mỹ của tác phẩm. Trong tiến trình lịch sử phát triển khách quan của nghệ thuật, do tính đa dạng của các quá trình và các hiện tượng trong thực tại, đời sống xã hội đã trở thành cội nguồn của nội dung nghệ thuật. Hà Minh Đức trong cuốn Li luận văn học từng nhận định: “Nghệ thuật là một hình tháiý thức xã hội, phản ánh ton tại xã hội, bày tỏ thái độ của con người trước đời sống hiện thực. Nhưng nghệ thuật là một sản phẩm thẩm mỹ độc đáo, nảy sinh trong quá trình sáng tạo theo quy luật cái đẹp.
Vi vậy, nghệ thuật được xem xét từ hai phương diện: Phương diện hình thai ý thức xã hội đặc thù và phương diện góp phan tạo ra môi trường sống mang tinh thẩm mĩ" [14, tr. Nghệ thuật phát sinh và hình thành trên co sở lao động, nhưng một khi ra đời nghệ thuật hình thành và hoàn thiện ở con người một năng lực cảm nhận vạn năng mà nó có thể vận dụng vào mọi lĩnh vực hoạt động của đời sống xã hội- khoa học, chính tri, sinh hoạt. Vậy thế giới nghệ thuật là gi? Theo nhóm tác giả biên soạn cuốn Tir điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Thế giới nghệ thuật chỉ tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, sáng tác của tác giả, một trào lưu). Thể giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thé giới riêng được sáng tạo ra theo các nguyên tắc tu tưởng, khác với thé giới thực tại vật chất hay thé giới tâm lý của con người, mặc dù nó phản ánh các thé giới ấy.
Thế giới nghệ thuật có không gian riêng, thời gian riêng, có quy luật tâm lý riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm dao đức, thang bậc gid trị riêng. chỉ xuất hiện một cách có woc lệ trong sáng tác nghệ thuật" [18, tr. Từ định nghĩa trên chúng ta có thé hiểu: Thế giới nghệ thuật là toàn bộ các phương diện nội dung, hình thức nằm trong chỉnh thể thâm mĩ được xây dựng bằng một hệ thống nguyên tắc tư tưởng - nghệ thuật vừa bị chi phối bởi cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ, vừa bắt nguồn từ thế giới quan, đặc điểm văn hóa và cảm hứng của thời đại ấy. Thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Có thé nói, đây là một khái niệm chưa được cắt nghĩa rành mach và trọn ven trong bat cứ một công trình luận văn nào.
Theo suy nghĩ hạn hẹp của chúng tôi, thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn vừa mang những đặc điểm chung của thế giới nghệ thuật trong sáng tác văn học lại vừa có những nét riêng gắn với đặc trưng thé loại của nó. Đặc điểm riêng ấy là “chất văn xuôi” gần gũi với đời sống hàng ngày, súc tích, dé đọc, lại thường gắn liền với hoạt động báo chí, do đó có tac dụng va anh hưởng kịp thời trong đời sống. Thế giới nghệ thuật có tính độc lập tương đối so với thế giới tự nhiên hay thực tại xã hội. Đó chính là sự thừa nhận quyền sáng tạo của người nghệ sĩ.
Người nghệ sĩ sáng tạo ra tác phẩm văn học không phải là sự sao chép, lệ thuộc máy móc vào thực tại bên ngoài mà là một thế giới riêng được sáng tạo theo các nguyên tắc tư tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lý của con người, mặc dù nó phản ánh thé giới ấy. Như vậy, thế giới nghệ thuật phản ánh thế giới quan, nhân sinh quan, vũ trụ quan và cách cắt nghĩa đời sống rất riêng của chủ thể sáng tạo. Mỗi nhà văn khi sáng tạo một tác phẩm bat kỳ đều có thế giới nghệ thuật của riêng mình. Sự hiện diện của thế giới nghệ thuật không cho phép chúng ta đánh giá và lí giải tac pham 10 văn học theo lối đối chiếu giản đơn giữa các yếu tố hình tượng với sự thực đời sống riêng lẻ mà buộc người đọc phải đặt văn bản trong một chỉnh thé dé xem xét tính chân thực của tư tưởng tác phẩm so với chỉnh thé hiện thực.
Các yếu tố của hình tượng chỉ có ý nghĩa trong thế giới nghệ thuật của nó. Ví dụ: Trong truyện ngắn Làng, nhà văn Kim Lân đã xây dựng lên một tình huống truyện vô cùng đặc sắc. Đó là việc anh cu Trảng “nhặt” được vợ. Thông thường, chúng ta chỉ nhặt được những thứ bỏ đi hoặc những món đồ có giá trị nhỏ do người khác đánh rơi, còn việc nhặt được vợ thì đây là một điều khiến bạn đọc phải suy nghĩ.
Nếu chỉ xét trên tình huống đó chúng ta sẽ không thé hiểu hết ý nghĩa câu chuyện. Chỉ khi đặt tác phẩm vào bối cảnh giữa nạn đói năm 1945 con người có thể bỏ mạng bat cứ lúc nào, bạn đọc mới thấy hết nỗi xót xa mà Kim Lân muốn nhắn gửi. Chỉ vì bốn bát bánh đúc mà cô gái nọ đã theo không Tràng về làm vợ. Giữa cái đói, cái nghèo, con người đã xích lại gần nhau hơn và sự sống cũng trở nên lung linh đẹp dé hơn.
Trong mỗi tác phẩm sẽ có một thế giới nghệ thuật riêng và trong thế giới nghệ thuật sẽ có thời gian và không gian riêng. Ở đó, nhà văn sẽ thỏa sức sáng tạo theo ý nghĩ chủ quan của mình. Thời gian và không gian trong tác phẩm thông thường sẽ không đồng nhất với thời gian và không gian thực tại. Chính vì vậy, trong mỗi văn bản, chúng ta gọi đó là thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật.
Trong thi pháp học hiện đại, thời gian nghệ thuật và không gian nghệ thuật có vai trò rất quan trọng trong việc sáng tác và phê bình tác phâm. Hai yếu tố này đã góp phần tạo nên thế giới hình tượng sinh động và phong phú. Nó không chỉ thể hiện thế giới vào tác phẩm mà còn biểu đạt những cảm thức, những quan niệm của người viết. Tìm hiểu về không gian nghệ thuật trong văn bản văn học không đơn thuần là xác định nơi chốn hay tái hiện những khung cảnh hiện thực mà nó được xây dựng như một kí hiệu đặc biệt dé thé hiện tâm trạng của nhân vật hay bộc lộ quan điểm của tác giả về thé giới.
Không gian trong tác phẩm văn học có sự phận biệt hắn so với không gian khách quan, chứa đựng một giá trị tình cảm, do đó nó được tô chức theo quan niệm riêng của tác giả và hoàn toàn không giống với không gian bên ngoai. 11 Không gian nghệ thuật được xây dựng hết sức đa dạng, với mỗi tác giả, không gian nghệ thuật sẽ được sử dụng ở một mức độ nhất định. Nếu trong văn học trung đại, không gian có một giá trị riêng, gắn liền với cảm thức của chủ thể sáng tạo, sự xuất hiện thường xuyên của không gian vũ trụ và không gian thiên nhiên trở thành điểm nhắn trong sáng tác của những nhà thơ lớn thì đến văn học hiện đại, yếu tố không gian đã có sự thay đổi. Lúc này, không gian nghệ thuật trở thành không gian của tinh thần, không gian của tâm tưởng, cảm xúc, ước vọng và hồi tưởng.
Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về không gian nên mang tính chủ quan hơn. Trong tác phẩm văn học, không gian có tác dụng mô hình hóa các mối liên hệ của bức tranh thế giới như thời gian, xã hội, dao đức, tôn ti, trật tự. hoặc mang tinh dia điểm, tính phân giới để mô hình hóa các phạm trù thời gian như bước đường đời, con đường cách mạng. Dù hiểu theo cách nào thì ngoài việc cho ta thấy cấu trúc nội tại của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ đặc trưng, không gian nghệ thuật còn cung cấp một quan niệm rất riêng về thế giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay của một giai đoạn văn học bat kỳ.
Nó cung cấp cơ sở khách quan dé khám phá tính độc đáo cũng như nghiên cứu loại hình của các hình tượng nghệ thuật. Cũng tương tự không gian nghệ thuật, thời gian nghệ thuật là yếu tố bên trong của văn bản. Sự miêu tả, trần thuật trong văn học nghệ thuật bao giờ cũng bắt nguồn từ một điểm nhìn nhất định trong thời gian. Khác với thời gian khách quan được do bằng đồng hồ và lịch, thời gian nghệ thuật có thé đảo ngược, quay về quá khứ, có thể bay vượt tới tương lai xa xôi, có thể dồn nén một khoảng thời gian dài trong chốc lát, đồng thời có thé kéo dài ra thành vô tận.
Theo định nghĩa các tác giả cuốn Từ điển thuật ngữ văn học viết: “Thoi gian nghệ thuật được đo bằng nhiều thước đo khác nhau, bằng sự lặp lại đều đặn của các hiện tượng đời sống được ý thức: sự song, cai chét, gặp gõ, chia tay, mua nay, mua khác. tạo nên nhịp điệu trong tác phẩm. Như vậy, thời gian nghệ thuật gắn lién với tổ chức bên trong của hình tượng nghệ thuật. Khi nào ngòi bút của nghệ sĩ chạy qua sự kiện thì thời gian trôi nhanh, khi nào dừng lại miêu tả chi tiết thì thời gian chậm lai” [18, tr.
Theo định nghĩa này, thời gian nghệ thuật chính là một phương tiện dé phan ánh đời 12 sống và nó được rong ruồi ngược xuôi, đảo chiều một cách tự do mà không hoàn toàn phụ thuộc vào thời gian vật lý. Thời gian nghệ thuật luôn giữ vai trò là hình thức tồn tại, triển khai hành động va cảm thụ trong tác phẩm nghệ thuật. Trong thời gian nghệ thuật luôn tồn tại hai lớp là thời gian trần thuật và thời gian được tran thuật. Trong thời gian trần thuật lại bao gồm nhiều kiểu thời gian khác nhau như thời gian nhân vật, thời gian tâm lý, thời gian lịch sử, thời gian sự kiện.