phần mở đầu, kết luận và thư mục tham khảo, luận văn được triển khai theo ba chương: Chƣơng 1 - Vài nét về tiến trình của thể lục bát từ ca dao đến thơ hiện đại Chƣơng 2 - Yếu tố ca dao trong thơ lục bát Đồng Đức Bốn trên bình diện giọng điệu Chƣơng 3 - Yếu tố ca dao trong thơ Đồng Đức Bốn trên bình diện hệ thống đề tài 10 z Nguyễn Quốc Khánh Luận văn thạc sĩ Phần nội dung CHƢƠNG 1 Vài nét về tiến trình của thể lục bát từ ca dao đến thơ hiện đại 1.1 Mối liên hệ giữa Văn học dân gian và Văn học viết 1.1 Khái niệm văn học dân gian Theo một số nhà nghiên cứu văn học Việt Nam thì trước những năm 50 của thế kỷ XX, khái niệm Văn học dân gian được gọi là “văn chương truyền khẩu”, “văn nghệ dân gian”, “sáng tác dân gian”… Chúng ta có thể nhầm lẫn giữa các khái niệm mà thoạt nghe có vẻ không khác nhau là mấy như “văn hóa dân gian”, “văn nghệ dân gian”… Tuy nhiên, giữa văn học dân gian với văn hóa dân gian và giữa thành phần ngôn ngữ với các thành phần nghệ thuật khác trong nội bộ văn học dân gian có những mối quan hệ hữu cơ hết sức chặt chẽ. Vì thế, văn học dân gian có vị trí đặc biệt trong nền văn hóa dân gian và trong hệ thống các loại hình nghệ thuật. ở phương Tây, người ta dùng thuật ngữ Folklore dùng để chỉ những di tích của nền văn hóa vật chất và chủ yếu là những di tích của nền văn hóa tinh thần của nhân dân có liên quan với nền văn hóa vật chất như: phong tục, đạo đức, ca dao, việc cúng tế… của các thời trước. Ngay cả thuật ngữ này cũng được hiểu theo hai khuynh hướng.
Khuynh hướng thứ nhất hiểu Folklore là tất cả các hiện tượng của nền văn hóa tinh thần và thậm chí cả một số hình thức của nền văn hóa của nhân dân. Khuynh hướng thứ hai muốn giới hạn thuật ngữ đó và coi Folklore là những sáng tác ngôn từ truyền miệng, tức là chỉ văn học dân gian. Nhà nghiên cứu của Nga là V. Guxep cho rằng nếu hiểu Folklore là văn học dân gian thì coi như ta đã cố tình thu hẹp phạm vi của khái niệm này.
Ông cho rằng phải định nghĩa Folklore như một lĩnh vực đặc biệt trong nghệ thuật dân gian và thuật ngữ Folklore không biểu thị toàn bộ 11 z NGUYỄN QUỐC KHÁNH LUẬN VĂN THẠC SĨ nghệ thuật dân gian nói chung mà chỉ biểu thị cái lĩnh vực trong nghệ thuật dân gian. Như thế khái niệm văn học dân gian không tương đồng với thuật ngữ Folklore mà nó chỉ là một bộ phận trong đó. Vấn đề ở đây là cả phương Đông lẫn phương Tây nhìn nhận văn học dân gian là khởi nguồn cho sự phát triển văn học sau này. Các nhà nghiên cứu đều đi đến kết luận rằng, mối quan hệ thẩm mĩ đối với thực tại nói chung và văn học nghệ thuật nói riêng ra đời và tồn tại với tư cách là một hình thức hoạt động tinh thần tương đối độc lập, suy cho đến cùng không đối lập mà có mối quan hệ không thể chia cắt được với thực tiễn hoạt động và với sự nhận thức của con người về thế giới xung quanh.
ở văn học dân gian, mối quan hệ đó biểu hiện ra một cách đặc biệt rõ ràng. Điều này có nguyên nhân ở nguồn gốc cổ sơ và điều kiện tồn tại của văn học dân gian trong suốt quá trình phát triển lịch sử của nó. “Văn học dân gian là sáng tác tập thể, truyền miệng của nhân dân lao động, ra đời từ thời kỳ công xã nguyên thủy, trải qua các thời kỳ phát triển lâu dài trong các chế độ xã hội có giai cấp, tiếp tục tồn tại trong thời đại hiện nay” [24, 7]. Một tính chất quan trọng của văn học dân gian, đó là tính chất nhiều chức năng.
Trong văn học dân gian, chức năng “nhận thức”, chức năng “giáo dục”, chức năng “thẩm mĩ” và chức năng “sinh hoạt” hợp thành một thể thống nhất. Lê - nin đã chỉ ra, trong văn học dân gian có sự thể hiện “thế giới quan”, “những mong chờ và khát vọng” của quần chúng, “tâm hồn của nhân dân” và đã xem văn học dân gian là một trong những hình thức biểu hiện của “những tư tưởng triết học nhân dân”. Cho dù là dòng văn học thời kỳ sơ khai của loài người nhưng văn học dân gian đã mang gần như đầy đủ các yếu tố và bản chất của văn học. Chính mối quan hệ với hoạt động thực tiễn và tính nguyên hợp về hình thái ý thức xã hội bao giờ cũng làm cho văn học dân gian sinh động và đa dạng.
12 z Nguyễn Quốc Khánh Luận văn thạc sĩ Cuộc sống văn học dân gian không phải là cuộc sống dưới hình thức văn bản, cuộc sống của văn học dân gian phải là cuộc sống gắn liền với một môi trường sinh hoạt nhất định của văn hóa dân gian. Do đó cuộc sống của văn học dân gian được biểu hiện ra thành vô số hình thức sinh hoạt, những hình thức sinh hoạt này cũng phong phú, đa dạng như bản thân những hình thức sinh hoạt trong đời sống thực tiễn của nhân dân.2 Sự hình thành của dòng văn học viết Văn học dân gian luôn đóng vai trò hết sức quan trọng trong nền văn học dân tộc. Trong thời kỳ dân tộc chưa có chữ viết hoặc chữ viết chưa phổ cập, nó có đóng góp lớn trong việc giữ gìn và phát triển ngôn ngữ dân tộc, nuôi dưỡng tâm hồn nhân dân. Tính nhân dân, tính dân tộc sâu sắc của văn học dân gian từ nội dung đến hình thức có tác dụng to lớn đến sự hình thành và phát triển của văn học viết.
Văn học viết ra đời vào khoảng thế kỷ X như một bước nhảy vọt của tiến trình lịch sử văn học dân tộc. Tính đến khoảng đầu thế kỷ XX, văn học viết gồm hai thành phần song song tồn tại và cũng có quan hệ mật thiết với nhau, đó là văn chương chữ Hán và văn học viết bằng chữ Nôm. Ra đời ngay từ buổi đầu của nền văn học viết, văn chương chữ Hán đã đánh dấu một bước ngoặt trong nền văn học dân tộc. Tuy viết bằng chữ Hán, nhưng thành phần này vẫn là văn chương Việt Nam, vẫn đậm đà tính dân tộc.
Tuy có chịu ảnh hưởng của văn học Trung Quốc nhưng về cơ bản vẫn thể hiện được tâm hồn và trí tuệ Việt. Đến khoảng thế kỷ XIII, văn học viết bằng chữ Nôm (Chữ Nôm – một cách ghi âm tiếng Việt bằng vật liệu chữ Hán) mới thực sự xuất hiện khi ý thức dân tộc và tinh thần nhân dân đã phát triển cao hơn ở tầng lớp trí thức. Thành phần văn học này đã trưởng thành nhanh chóng và sản sinh ra nhiều tác phẩm lớn, những tên tuổi lớn, đặc biệt là trong lĩnh vực thơ ca. Từ khoảng những năm 20 của thế kỉ XX, văn học viết nước ta hầu như chỉ 13 z NGUYỄN QUỐC KHÁNH LUẬN VĂN THẠC SĨ còn được sáng tác bằng tiếng Việt, ghi âm bằng chữ cái Latinh, gọi là chữ Quốc ngữ thay cho chữ Nôm.
Trong lịch sử văn học Việt Nam, hai dòng văn học dân gian và văn học viết luôn có tác động qua lại. Sự kết hợp hài hòa giữ hai dòng văn học này đã sản sinh ra bao tên tuổi lớn của nền thơ ca dân tộc như Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương và đến thời hiện đại là Nguyễn Bính, Nguyễn Duy, Phạm Công Trứ, Đồng Đức Bốn (chúng tối muốn nhấn mạnh những nhà thơ đã thành công ở thể thơ lục bát, trong những sáng tác của họ nhiều yếu tố của ca dao truyền thống). Sự xuất hiện của ca dao với tƣ cách là một thể loại của văn học dân gian 1.1 Các hình thức sinh hoạt trong ca dao, dân ca Ca hát dân gian là một hình thức sinh hoạt tự nhiên của nhân dân lao động. Ca dao và dân ca bắt nguồn từ chính các hình thức sinh hoạt ca hát dân gian.
Đây là một hành động sáng tạo nghệ thuật hồn nhiên, một hành động sáng tạo nghệ thuật mà mục đích chủ yếu là thể hiện ngay tức khắc, một cách trực tiếp, những tình cảm tự nhiên, những ý nghĩ, thái độ nảy sinh trực tiếp từ một hoàn cảnh sống, mối quan hệ với thiên nhiên hoặc với con người. Trong sự đa dạng về các hình thức sinh hoạt ca hát dân gian, chúng ta có thể phân ra làm ba mảng chính.1 Sinh hoạt lao động Các nhà nghiên cứu cho rằng trong số những thể loại dân ca mà nguồn gốc và chức năng có mối quan hệ hữu cơ và trực tiếp nhất với sinh hoạt lao động của nhân dân, đầu tiên phải kể đến “hò lao động”. Hoạt động thơ ca của người nguyên thủy diễn ra trong mối liên hệ chặt chẽ với các quá trình lao động. Trong lao động, nhịp điệu đóng vai trò rất quan trọng.
Nhịp điệu là đặc trưng của động tác lao động. Cảm xúc về nhịp điệu nảy sinh ra từ động 14 z Nguyễn Quốc Khánh Luận văn thạc sĩ tác lao động của con người. Khi ta thành thạo một động tác lao động nào đó thì cảm xúc về nhịp điệu của ta tăng lên. Chúng ta có thể khẳng định rằng cảm xúc về nhịp điệu phát sinh và phát triển trong lao động, đồng thời có tác dụng trở lại đối với lao động.
Trong lĩnh vực nghệ thuật, nhịp điệu là đặc trưng của âm nhạc, nhảy múa và đóng vai trò quan trọng trong sự cấu thành của thơ ca. Nguyên nhân và cơ sở ra đời của những bài ca lao động thể hiện rất rõ mối liên quan chặt chẽ giữa lao động với hoạt động thi ca của người nguyên thủy. Nhiều công trình nghiên cứu thơ ca các dân tộc đều chứng minh rằng những bài ca lao động đã được coi như là một trong những phương tiện nhịp điệu của một số quá trình lao động, nhất là đối với người thời cổ. Tất nhiên không thể thiếu yếu tố cảm hứng, tuy cảm hứng còn thô sơ, mộc mạc nhưng nó cũng góp phần làm cho nghệ thuật thăng hoa.
Trong những bài ca lao động không chỉ đơn giản là nhịp điệu của âm thanh mà còn là sự thể hiện những tư tưởng và tình cảm nhất định, không chỉ đóng vai trò chỉ huy lao động và phương tiện làm cho động tác lao động nhịp nhàng mà còn đóng vai trò gây cảm hứng nữa.