Chương I của luận văn cũng viết về con người và sự nghiệp của Bùi Huy Bích, chương II, chương III - nghiên cứu tác phẩm Lữ trung tạp thuyét. - Thanh trì Bùi thị gia pha (GAYE X2#ñl)(VHv. 1343/1-3, Viện Nghiên cứu Hán Nôm) - Viết gia phả dòng họ Bùi ở làng Thịnh Liệt, huyện Thanh Trì, gồm hệ thống thứ thế, ngày sinh, ngày giỗ, khoa bảng, quan tước, thơ văn, bằng sắc, giấy tờ liên quan đến những người trong dòng họ.Phần đầu do Bùi Xương tự biên soạn, Bùi Huy Bích là người biên soạn phần kế tiếp. - Danh nhân văn hóa Bùi Huy Bích của Trung tâm UNESCO thông tin tư liệu lịch sử văn hóa Việt Nam [23].
Trong sách có các bài viết liên quan tới tác giả, tác phẩm của Bùi Huy Bích như sau: + Bùi Huy Bích với ý thức bảo vệ phát huy đi sản văn hóa dân tộc — Vũ Tuấn Sán. + Bùi Huy Bích, đại danh nho Việt Nam thé kỷ XVIII — Vũ Khiêu. + Nổi niém riêng của tác giả Tôn Am thi cảo — Phạm Tú Châu. + Bài Ton Am với hai thi phẩm Bích Câu — Nhat Pham.
+ Hoàng Việt văn tuyển — Phạm Tú Chau. + Hà Nội với tắm lòng Tôn Am — Nguyên Vinh Phúc + Đình nguyên Hoàng giáp Bùi Huy Bích, nhà giáo dục lớn — Lê Tiên Hùng + Những ngôn phẩm quý báu từ sách Gia huấn — Cung Khắc Lược. + Tâm tư và phẩm chất Bùi Huy Bich qua thơ ông — Trần Lê Văn. + Hai tam bia, một tam lòng Bui Huy Bích với văn hóa Thanh Trì — Trương Đình Khoái.
+ Nhân cách của tổ Bùi Huy Bích — Bùi Đức Tién - Bùi tướng công Ton Am tiên sinh hành trạng chép trong Phương Dinh văn loại của Phương Dinh Nguyễn Văn Siêu 16 Chúng tôi chỉ điểm qua vài nét chính về Bùi Huy Bích Nguồn gốc gia đình dòng họ: Dòng họ Bùi là một trong những dòng họ nỗi tiếng của Việt Nam có truyền thống vẻ vang, khoa hoạn , Lê Quý Đôn đã viết trong Kiến văn tiểu lục, chương Tung dam: “Con cháu sinh sôi nay nở, công nghiệp rạng rỡ vẻ vang. Từ thời Lê trung hưng, bày tôi thế kế, tộc thuộc lớn lao, nói đến nhà quý hiển nhất, chỉ có họ Bùi mà thôi ” (Kiến văn). Thủy tổ của dòng họ Bùi là cụ Chi Đức, tổ chín đời của Bùi Huy Bich, người thôn Hạ, xã Quảng Công (sau đổi thành Định Công), huyện Thanh Đàm (sau đổi thành Thanh Trì), thuộc phủ Thường Tín, xứ Sơn Nam. Cụ Chí Đức sinh ra cụ Trung Phác, từng được phong chức Tả thị lang, tước Cung Quận công, sau này cụ chuyền đến thôn Giáp Nhị (sau gọi là thôn Bùi Đông), xã Thịnh Liệt vào cuối thời Hỗ, đây là cụ thủy tổ nơi mới đến.
Cụ Trung Phác nhà tuy nghèo song không có ý mộ người ngoài. Cha làm nghề y, nghề nông, nghề kham dư, con theo nghiệp cấy cày, đọc sách mà vẫn có thé giúp người khác lúc nguy khốn. Cụ Trung Phác sinh ra cụ Bùi Xương Trạch, tức là cụ thủy t6 bay đời, một người nổi tiếng hiếu học về sau đỗ Dé tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân năm Mậu Tuất niên hiệu Hồng Đức thứ 9(1478), làm quan đến chức Thượng thư Bộ Binh, nắm cả sáu bộ kiêm Đô ngự sử Đài Ngự sử, kiêm Quốc tử giám Tế Tửu, coi việc kinh diên, sau được phong là Thái phó Quảng Quận công, cụ Bùi Xương Trach sinh được hai con trai, con trai thứ hai là Bùi Vịnh thông minh uyên bác, đỗ Đệ nhất giáp tiến sĩ cập đệ tam danh (Bảng nhãn), khoa thi niên hiệu Đại Chính năm thứ 3(1532), từng giữ chức Tả thị Lang Bộ hộ, về sau được phong là Thái Bảo Mai quận công đây là cụ tổ đời thứ sáu. Con trai của cụ Bùi Vịnh là Bùi Binh Uyên, tinh tình trọng hậu, có tài văn chương chính trị, từng giữa chức phủ doãn phủ Thuận Thiên, rồi Tả thị lang Bộ Hình, Bộ Hộ được phong tước tiên quân công.
Cụ tổ đời thứ năm 17 sinh ra Bùi Công Cần, cụ Công Can từng giữ chức Vệ úy, tước Trà Lĩnh hau, Tiếp sau là đến cụ Bùi Xương Tự là ông nội của Bùi Huy Bích. Cụ thi hương đỗ tứ trường , rồi hai khoa Sĩ vọng, Hoành từ, từng trải nhiều chức quan, làm Hữu tam nghị Ty Thừa chánh sứ các xứ Thái Nguyên, được phong tặng Hàn lâm viện Thị độc, tước Phong Khánh bá. Cha của Bùi Huy Bích là Bùi Dụng Tân học vấn uyên thâm, theo học Cúc Lâm tiên sinh, không đỗ đạt chuyên tâm vào việc day học làm vui, lay hiéu la Truc Vién cu si. Thoi nién thiéu: “ Lịch dai danh hiển phổ” [13] — khen Bùi Huy Bich là người có khí phách, trong sách còn viết các mầu truyện nhỏ dự đoán về tương lai của Ông.
Bùi Huy Bích là con trai thứ trong gia đình có ba người con. Trên ông có chị gái và dưới có em trai. Thửa nhỏ hay ốm, bệnh tật. Năm lên 8 tuổi mẹ ông qua đời, gia đình rơi vào cảnh khó khăn.
Năm lên 9 tuổi, lúc này ông đã biết đọc sách, theo cha dạy học ở Thanh Miện, Hải Dương. Ngay từ thuở nhỏ ông đã bộc lộ một tư chất thông minh hiếm có. Học hành, đỗ đạt, chặng đường làm quan Năm Cảnh Hung 21, tức năm ông 17 tuổi, ông theo học Thân Trai tiên sinh (tức Nguyễn Bá Trữ, tiến sĩ khoa Giáp Tuất(1754), người Linh Đường cùng huyện), được Tiên sinh khen là người trẻ tuổi mà thông minh. Nam Cảnh Hưng 23, ông thi hương tứ trường đỗ đệ nhị giáp.
Sau đó, ông dự thi hội tam trường hai lần, nhưng không đỗ. Ông tiếp tục theo học Quế Đường Lê Quý Đôn được tiên sinh yêu mến và giúp đỡ rất nhiều. Năm Mậu Tý (1768), Trong triều xảy ra vụ án Hoàng Thái tử Lê Duy Vĩ, triều đình có nhiều biến động, Bùi Huy Bích sinh ra buồn chán không muốn tiếp tục thi. Năm Kỷ Sửu niên hiệu Cảnh Hưng 30, triều đình mở khoa thi Hội, ông cũng không có ý định dự thi, nhưng nghe theo lời cha khuyên bảo ông mới 18 nộp quyền dự thi, đỗ đệ ngũ.
Ngay sau đó, ông dự thi Đình, được ban Đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân (Đình Nguyên Hoàng Giáp). Khoa thi năm đó triều đình lay đỗ 9 người, trong đó đỗ Đệ nhi giáp Tiến sĩ chỉ có mình ông, còn 8 người kia đều đỗ Đệ Tam giáp đồng tiến sĩ xuất thân. Năm đó ông mới 26 tuổi, sau khi vinh quy bái tổ, cũng năm đó ông được bổ nhiệm làm Hiệu lý ở Hàn lâm viện, làm thị giảng. Từ đó ông bắt đầu bước chân vào chốn hoạn lộ dẫu có vẻ hanh thông nhưng cũng nhiều trăn trở.
Năm Cảnh Hưng 31, ông được thăng làm Hàn Lâm viện thị chế. Năm Cảnh Hưng 32, ông được cử làm Quyên giám thí cuộc thi Hương ở Sơn Tay[46]. Sau đó được thăng làm Thiêm sai Phủ liêu tri Hộ phiên kiêm Đông các hiệu thư. Thời bay giờ triều đình rối ren, quyền chính nằm trong tay chúa Trịnh.
Tháng 6 năm Cảnh Hưng thứ 38 (1777), chúa Trịnh được tin quân Tây Sơn của Nguyễn Văn Nhạc cướp bóc quấy rối ở phía Nam bèn lệnh cho Hoang Đình Bảo thay cho Hoàng Đình Thẻ làm tran thủ Nghệ An, cho Bùi Huy Bich làm đốc đồng. Năm Cảnh Hưng 41 (1780), ông được thăng chức hiệp tran Nghệ An. Ông ở Nghệ An đến năm Cảnh Hưng 42 (1781), ông ở Nghệ An tổng cộng 5 năm, mọi việc ông đều giải quyết sáng suốt và khoan hồng, khiến ai nay đều khen là thuận tiện. Năm Tân Sửu (1781), ông được gọi về triều ban chức Nhập thị bồi tụng, ông vào kinh làm tờ khải xin từ không nhận, nhưng triều đình không cho.
Năm Cảnh Hưng 43(1782), chúa Trịnh Tùng ban chức tước cho một số người, ông được làm Tham tụng, ban tước Kế liệt hầu, lúc bấy giờ quan lại triều đình chia nhiều phe cánh, Bùi Huy Bích đã nhiều lần có tờ khải can gián chúa Trịnh. Tháng 4 năm Cảnh Hưng 45 (1784) ông được bổ dụng quyền làm công việc tham tụng Khâm định. Tháng 12 cùng năm triều đình ban cho ông chức Nhập thị Hành tham tụng kiêm Tri kinh diễn Hành trạng, triều đình ngược 19 ngạo, văn quan võ tướng đều bó tay, trong khi ông thu xếp công việc của mình một cách thư thả. Năm Cảnh Hưng 46 (1785) ông cáo bệnh về quê, chúa Trịnh không muốn cho ông đi chuẩn y giữa ông lại kinh đô dưỡng bệnh.
Ông lui về nhàn dưỡng tại tư đệ phường Bich Câu, năm ấy ông mới ngoài 40 tuôi. Khi vua Cảnh Hưng mat, Hoang tự tôn kế vị, lay niên hiệu là Chiêu Thống. Vua tuyên chỉ triệu ông đến nhưng ông bệnh không đến được, Tháng 9 năm Chiêu Thống thư nhất (1787), ông đỡ bệnh, vào TẾ cung khóc vua và đi viếng mộ Doan Nam vương. Triều đình ban chức Bình chương sự, Kiêm nhập thị kinh diên.
Nhập thị tham tụng, ông liền viết hai bản tấu ra sức từ chối. Ban tau của ông được chuẩn y, nhưng đặc ban cho chức Chính nghị đại phu. Về ở ẩn tại quê nhà năm Nhâm Tuất (1802) Ông ở an tại quê nhà, đến mỗi kỳ sóc, vọng ông dẫn con cháu đến nhà thờ biểu thị việc giữ lễ nghi cứ như thé được hơn 10 năm dù tuổi già hay ốm đau vẫn không bỏ. Năm Giáp Tý niên hiệu Gia Long thứ 3 (1804), vua Chiêu Thống mắt ở Yên Kinh, ông đến nhà Diên Tự khóc than.
Tháng 5 năm Gia Long 17 (1818), ông nhuốm bệnh, và mat vào giờ Hợi ngày 25 tháng 5, tại quê nhà, thọ 75 tuổi. Nhận xét về con người và nhân cách của Bùi Huy Bích Bùi Huy Bích là một đại danh Nho của thé ky XVIII, ông được bồi dưỡng Nho giáo từ thuở lọt lòng và trung thành với Nho giáo đến hơi thở cuối cùng. Nho giáo đã đưa ông tới đỉnh cao nhất của danh vọng: Thi đỗ Hoàng giáp, làm quan đến Té £ướng. Những thăng trầm của cuộc đời ông gắn liền với vận mệnh Nho giáo, Ông đã công hiến cho xã hội những điều tốt đẹp nhất mà Nho giáo có thé công hiến và cũng chia sẻ với Nho giáo những hạn chế mà Nho giáo đã từng tạo nên nhiều bi kịch của học thuyết này.
Với tinh than 20 độc tôn Nho giáo, Bùi Huy Bích đã đánh giá thấp Phật giáo, Lão giáo. Ông ca ngợi Lê Quát, Trương Hán Siêu, Phạm Sư Mạnh - những học trò giỏi của Chu An đã làm sáng tỏ đạo thánh hiền của Không Tử, bài xích các thuyết dị đoan, các truyện kỳ quái, các điều mê tín trong Phật giáo và Đạo giáo. Ảnh hưởng của học thuyết Nho giáo nên ông rất đề cao đạo trung hiếu.