mở đầu với hình ảnh một gia đình dường như là hoàn hảo với một ông bố xuất thân nghèo khó, một tay gây dựng sự nghiệp buôn bán đồ gỗ và bà mẹ hiền lành, chịu khó cùng ba đứa con, hai trai và một gái. Người con trai cả Masad được bố quyết định sẽ nối nghề gia đình, trở thành một thợ mộc điển hình. Trong khi người con trai thứ Saad được gia đình hết sức chiếu cố, đặt hy vọng dé theo đuổi ngành kỹ sư — niềm tự hào của cả nhà. Tuy nhiên, vợ của Masad lại bất bình với quyết định của bố chồng, không muốn con cái của mình sau này lớn lên chỉ là con của ông thợ mộc địa phương.
Vì vậy, cô gây sức ép với chồng phải theo ý mình, nếu không sẽ bỏ về nhà bố mẹ. Mặt khác, Saad, niềm tự hào của gia đình lại không muốn theo con đường học tập mà lại tham gia các hoạt động yêu nước trong tình hình chiến tranh ở kênh đào Suez lúc bấy giờ. Ông bố - người chưa bao giờ cảm thấy bản thân thuộc về Ai Cập, lòng trung thành duy nhất của ông chỉ dành cho gia đình hoàn toàn không hiểu được hành động của Saad. Khi chiến tranh nồ ra với các cuộc biểu tình, la hét, Saad được gọi gia nhập Đoàn vệ binh quốc gia.
Lúc này anh ta lại trở nên sợ hãi, thâm tâm thật sự không muốn đi và để cho người bố nhốt mình vào phòng mà không chống cự lại. Tuy nhiên, Saad luôn la hét trong phòng, đòi được ra ngoài dé chiến đấu. Lúc này, người con trai cả Masad cũng đã tham gia vào cuộc chiến và bị thương. Đội quân Anh đã tiến vào ngôi làng nơi gia đình sinh sống và truy lùng thành viên Đoàn vệ binh quốc gia.
Một viên sĩ quan Anh đã bắn người bố vì ông đã không khai ra thông tin. Trong lúc ấy, Saad ở trong phòng đã nhanh chóng cởi bộ đồng phục Đoàn vệ binh và giấu chúng đi vì sợ hãi, cũng không dám phá cánh cửa ra để cứu cha của mình. Sau khi viên sĩ quan người Anh rời đi, cô con gái út đã thả Saad, thực ra là cô ấy chỉ day cánh cửa vì nó không bị khoá. Saad lập tức đi tìm người cha đang hấp hối và thú nhận sự hèn nhát của mình.
Ông bồ thực sự thất vọng nhưng cũng không dé lỗi cho con trai, ngược lại ông tự trách bản thân vì đã quá nâng niu, bảo vệ con, khiên cho con trở nên nhu nhược. Cuôi cùng, Saad 16 đã giết viên sĩ quan người Anh và gia nhập Đoàn vệ binh quốc gia thực sự. Qua vở kịch trên, Yusuf Idris cho khán giả thay được cần phải tìm hiểu rõ bản chất của sự sợ hãi và vũ khí dé chống lại nó chính là sự chân thành, thật thà. Đến những thập niên năm 1960, các tác phẩm kịch của ông không chỉ đặc sắc bởi sự phong phú của các phương thức diễn đạt, sự sáng tạo nghệ thuật ma còn nỗi bật vì tinh bản sắc dân tộc Ai Cập.
Các tác phẩm thời kỳ này là al-Farafir (Gia đình Farfurs, 1964), al-Mahzala al-Ardiyya (Phim hài thé gian, 1966), al-Mukhattatin (Những người kẻ sọc, 1967) và loạt tác phâm Nahwa Masrah Misri (Về sân khẩu Ai Cập). Trong số các vở kịch trên, al-Farafir được coi là dau mốc sáng chói trong sự nghiệp viết kịch của Yusuf Idris, nhận được rất nhiều sự quan tâm của giới phê bình cũng như các nhà nghiên cứu cho đến thời điểm hiện tại. Vở kịch al-Farafir xoay quanh mối quan hệ giữa người chủ và người phục vụ - một mô - típ quen thuộc trong văn học thời gian đó, mô tả bức tranh về xã hội Ai Cập với những vấn đề nan giải trong lĩnh vực chính trị, văn hoá. Tuy nhiên, nội dung của al-Farafir di sâu vào thực tế xã hội dang trong tình trạng hỗn loạn với những lời kêu gọi thay đối, cải cách triệt dé nhất là tình trạng con người bóc lột lẫn nhau.
Ngoài hai mục đích chính của tác giả đối với al-Farafir như đã kể trên, nội dung vở kịch còn toát lên một vấn đề không kém phần quan trọng, đó là tình trạng của phụ nữ hiện đại và vị trí của họ trong xã hội. Nghệ thuật xây dựng tinh cách nhân vat cua Yusuf Idris cũng có sự đổi mới, gây ấn tượng cho người xem. Hình ảnh Farfur — người phục vụ được phác hoạ như là một chú hề Ai Cập hiện đại, một gã bông lon với cái lưỡi sắc bén, thông qua tiếng cười dé tìm ra một triết lý mới cho nhân loại, qua đó, tác giả có thé tự do bày tỏ quan điểm và châm biếm về những điều được cho là cắm ky và những nhức nhối tồn tại ở Ai Cập. 110] Sáng tác dành cho sân khấu tiếp theo mang tên là al-Bab (Cánh cửa), tuy nhiên tác phẩm này không giành được nhiều sự chú ý, mãi đến năm 1960 mới được trình diễn trước công chúng vi các lý do chính trị.
Ngoài ra, Yusuf Idris còn có một số tác phẩm khác như: al-Jins al-Thalith (1970) với nhận định rang thé giới chúng ta dang sông bao gôm hai phân là thê giới thực và thê giới mộng mơ, và tác phâm cuôi cùng 17 của ông mang tựa đề al-Bahlawan (Chú hé, 1982). Trong vở kịch này, ông đã xây dựng hình ảnh phụ nữ là người “chăm sóc” cho những giá trị cơ bản của con người. Chính bản năng làm mẹ, khả năng sản sinh ra sự sống đã khiến cho phụ nữ dễ dàng phân được điều thiện, ác, vượt qua những khó khăn, trắc trở của cuộc song va dac biệt khao khát cho thế giới được hạnh phúc, luôn trân trọng cái dep và nâng niu những giá trị tốt lành của con người.2 Truyện ngắn Trong suốt sự nghiệp văn chương của mình, Yusuf Idris đã cho ra đời nhiều tác phẩm truyện ngắn. Một số nhà nghiên cứu như Dorota Rudnicka-Kassem, M.F Barresi ủng hộ quan điểm phân chia các sáng tác truyện ngắn của ông thành hai nhóm: nhóm thứ nhất mang phong cách tiếp cận thực tiễn và nhóm thứ hai phác hoạ bức tranh siêu thực về cuộc sống AI Cập.
Theo quan điểm này, nhóm truyện ngắn thứ nhất được viết vào những năm 1950, có đặc điểm là dễ đọc và phân tích, vẽ lại một cách chân thực nhất cuộc sống của những người lao động, người nghèo thuộc tầng lớp thấp trong xã hội Ai Cập đặc biệt là ở nông thôn và các quận nghéo trong Cairo. Bước sang đầu những năm 1960, người đọc có thể nhận thấy những dấu hiệu thay đổi trong truyện ngắn của ông, bức tranh cuộc sống trở nên khó nắm bắt hơn, bối cảnh và nhân vật mang những nét đặc thù, không phổ quát, cốt truyện nhuốm màu bi quan xung quanh chủ đề luân lý, chính trị thay cho những mô tả bên ngoài như trước đây. Sau đó, sự thay đổi này trở nên rõ rệt hơn cả vào giai đoạn những năm 1960, 1970, đánh dấu một cách tiếp cận hoàn toàn khác. Xã hội Ai Cập được phác hoạ trở nên siêu thực với phương pháp mô tả các sự kiện từ nhiều góc độ khác nhau như thê tác giả đã thêm một chiều thứ tư vào bối cảnh.
Hơn nữa, “những phương thức diễn đạt mới, ví dụ như dòng ý thức, các biểu tượng, những viễn cảnh siêu thực, nhiều đoạn độc thoại” gây ấn tượng mạnh mẽ với người đọc về những điều đôi khi vượt quá sự hiểu biết thông thường [33, tr. 27] Bên cạnh phân loại các sáng tác truyện ngắn của nhà văn, chúng tôi nhận thấy việc chỉ ra những đặc trưng nổi bật trong những tác phẩm nay vô cùng quan trọng. Có 18 thé thay hau hết truyện ngắn cua Yousuf Idris déu chia sẻ những đặc điểm chung, cụ thể là: ° Mẫu nhân vật và chủ đề chiếm ưu thế ° Mau thuẫn và khoảng cách giữa tầng lớp giàu - nghèo, nông thôn — đô thị trong xã hội AI Cập ° Đề tài về cái chết ° Những biêu tượng nghệ thuật ° Tính thời sự 1. Nội dung chính trong các truyện ngắn của Yousuf Idris [17, tr.
Các đề tài chính Trong giai đoạn đầu sáng tác, Yusuf Idris không bó hẹp bản thân trong bất kỳ ranh giới nào về bối cảnh và ý tưởng câu chuyện. Không bị hạn chế với một nhóm người bị bỏ rơi hay trầm cảm, ông tự do di chuyên qua các tầng lớp của xã hội, ở khắp mọi nơi. Điều này khiến cho nhân vật trong các truyện ngắn của ông rất phong phú và đa dạng. Tuy nhiên, một cá tính thường xuất hiện chiếm ưu thế.
Đó là hình ảnh người đàn ông chán chường, thất vọng trước những giấc mơ, những dự định lớn lao mà không thể thực hiện được. Khao khát của anh ta đối với cuộc sống cũng to lớn như những trở ngại không thé vượt qua được chắn giữa anh ta và những khát vọng ay. Anh ta sống trong một thế giới mà dường như bị bao phủ bởi sự áp bức, bị lôi kéo bởi những thất bại và bị bao trùm trong tình trạng thiếu an toàn, thiếu sự hoàn thiện. Mặc dù bầu không khí nhuốm màu thất vọng, chán chường bởi những giấc mơ tan vỡ, nhưng các câu chuyện của Yusuf Idris hoàn toàn không thô kệch, nang nề mà với ngòi bút tinh tế, ông xử lý tình huống như thé đó chỉ là một phần của cơn ác mộng.
Đồng thời, trong giai đoạn sáng tác này, ông thường chú trọng đến sự xung đột giữa hai chủ thể là nhóm và cá nhân. Sự va chạm này trong các tác phẩm của ông được đánh giá là đạt đến trình độ cao của sự tinh tế và phong phú. 19 Ở giai đoạn sáng tác tiếp theo, từ năm 1961, ông có sự thay đổi đáng kế về chủ dé và hình thức, mặc dù vẫn kế thừa những thành tựu trước đó. Cũng giống như những tác phẩm đầu tiên đã thành công trong việc thôi một hơi thở mới trong văn đàn Ai Cập, mang nó lại gần với cuộc sống thực tế xã hội, những tác pham ở giai đoạn này cũng đóng vai trò quan trọng trong việc định hình và duy trì sự nhạy cảm trước thời cuộc.
Hau hết các câu chuyện thời kỳ này đều xoay quanh hai dé tài chính. Chu dé dau tiên là sự phát hiện, nhận thức của nhân vật chính về sự vô lý, vô ích trong cuộc sông của chính bản thân. Sự phát hiện này đến quá muộn đã đặt nhân vật vào vòng xoáy của sự tự thương hại, tự trách chính mình day cay đắng và tuyệt vọng. Chủ dé thứ hai là cảm giác cô độc, trống vắng, thiếu sự an toàn trong việc theo đuổi một bí mật.