CHƯƠNG 1. LOẠI HÌNH VÀ CHỨC NĂNG CUA CÁC MÔ HÌNH TƯỢNG TRƯNG TRONG VĂN XUÔI I. Những chỉ tiết tượng trưng Không phải ngẫu nhiên mà hau hết những người đọc I.Bunin lần đầu đều có chung một cảm giác - đó là sự ngỡ ngàng, choáng ngợp mà người ta thường bị xâm chiếm khi đứng trước một khung cảnh, một bức tranh, một tác phẩm quá đẹp. Văn Bunin đẹp bởi nó đầy chất thơ.
Một trong những điều tạo nên lớp sương khói mơ hỗ, lan tỏa ay chính là bởi sự đậm đặc của các chỉ tiết tượng trưng. Trước hết, rat dé nhận thấy trong truyện ngắn của ông những chỉ tiết miêu tả so sánh liên quan đến động vật mang tính an dụ thé hiện sự chưa hoàn thiện của diện mao con người. Trong Cuộc đời tươi đẹp, hầu hết các gương mặt khúc xạ qua lăng kính của nhân vật “tôi” đều bị biến dạng: “Ông ta là người xấu xí, phục phịch, chân ngắn, trông giống như con lợn lòi” [20;63]; “Bà ta đứng, lưng cúi xuống, gườm gườm nhìn tôi bằng cặp mắt sung mong chi còn lắc lu cái so lợn” [20;82]; “Ông ấy lại phái chính cái bà mối nọ đến — cái bà mối đã dat diu chúng tôi ấy mà, một con chó cái hung dữ đây, có khi chính cái mụ có đôi mắt cú vọ này lại mớm lời cho ông Nikolai Ivanuts cũng nên” [20; 93]. Các chi tiết màu sắc, vật thé cũng xuất hiện day đặc trong tác pham của Bunin.
Đó là lí do vì sao truyện ngắn Những quả táo Antonov cô dư vị ngọt ngào đến vậy. Tác giả ghi lại những gam mau rat tỉ mi đến nỗi người đọc có cảm giác chúng đang vận động. Ông phân biệt các sắc độ chỉ chênh nhau một chuyền dịch nhỏ bằng cách sử dụng các tính từ miêu tả cụ thé: không đơn giản là đỏ, là xanh hay tím ma là “xanh ngắt”; “ươm vàng”; “hung hung đỏ”; “xanh loang loãng”. Cái màu “xanh loang loãng” ấy, người ta không đơn thuần hiểu là một màu xanh nhạt mà còn cảm nhận được sự vận động bên trong nó, một thứ màu không đứng yên, đang Luận văn thạc sỹ khoá 2004 - 2007 Dang Thu Hương.
Các mô hình tượng trưng trong văn xuôi I.Bunin 14 vận động, đang tan dần ra. Dưới ngòi bút của Bunin, những tính từ màu sắc tưởng như chỉ được dùng khi nói về con người cũng trở nên hợp lý, hơn thế còn có sức biểu cảm đặc biệt khi ông dùng để miêu tả một khái niệm thời gian: “những ngày xanh xao, u ám”. Ở đó, cảm giác như có những màu sắc rất lạ, thực ra lại rất quen, rat gần mà trước đó có thé người ta không biết gọi tên nó là gi cả: “màu sắt xám”; “màu hoa ca sam”; “màu của hoàng hôn buôn dang lim tắt”. Những gam màu tinh tế ay đều được đặt vào cặp mắt của nhân vật, được thốt lên bằng lời của nhân vật.
Vi vậy, vô hình trung, chính nó góp phan đáng ké trong việc khắc họa bản sắc, nét đặc thù của những nhân vật ấy: những con người có thế giới nội tâm phong phú, tinh tế và giàu xúc cảm. Vì lẽ đó, những chi tiết miêu tả màu sắc, vật thé trong văn xuôi Ivan Bunin vô cùng đắt giá. Nó có chức năng định tính và tâm lý hóa những hình tượng của ông. Trong truyện ngắn Ruxia có những chi tiết được lặp đi lặp lại: “Khuôn mặt bầu bĩnh với những nốt ruồi nhỏ” [21;20]; “Trên người nàng cũng có rất nhiều nốt ruồi nhỏ” [21;22]; “Mat nàng tái mét, nốt ruồi trên mặt trông như sam màu hơn” [21;25].
Chi tiết này giúp hình ảnh cô gái hiện lên sống động gần gũi và có nét đặc trưng riêng. Tác giả không chỉ làm nổi bật được vẻ thánh thiện, trong trắng, mong manh của cô gái mà còn khăng định tình yêu cháy bỏng của người hành khách. Đó là nhờ những chi tiết vật thể, những dấu hiệu rất nhỏ bé nhưng được nhấn đi nhắn lại, trở thành chỉ tiết đặc trưng và giàu sức gợi. Một điểm khác cần lưu ý là hầu hết những ai yêu quý Bunin đều biết rằng ông được ca tụng là nhà văn của làng quê Nga, phong cảnh Nga.
Ngày còn bé, ông đã từng mơ ước trở thành họa sỹ và mặc dù sau này ước mơ ấy không thành sự thật nhưng khi đọc những dòng văn ông viết về làng qué Nga, chúng ta không thé không nhận thay con mắt va khả năng hội họa ân giấu đằng sau đó. Và đây là một ví dụ rất sinh động, một đoạn văn rất tạo hình: “Một vùng buôn tẻ. Rừng thưa thớt, có chim ác là, mudi và châu châu. Chang có cảnh đẹp nào.
Ở trang ấp, muốn ngắm nhìn chân trời phải leo lên căn gác nhỏ. Ngôi nhà tất nhiên Luận văn thạc sỹ khoá 2004 - 2007 Dang Thu Hương. Các mô hình tượng trưng trong văn xuôi I.Bunin 15 là xây theo phong cách nhà nghỉ Nga, trông rất tiêu điều - chủ nhân bị phá sản mà - sau nhà là khu đất na na như vườn, sau vườn không han là hồ, không han là đâm, mọc đây cỏ gâu, cùng hoa súng, và hiên nhiên có một chiéc thuyén đáy bang đậu cạnh bờ lầy” ` [21;18]. Sự buồn té đường như ngay lập tức được truyền đến AL? người đọc bởi việc điểm tên, liệt kê các loại côn trùng - cảm giác như vùng này buồn tẻ đến mức không có gì hấp dẫn hơn dé nhắc tới.
Bên cạnh đó, có lẽ không còn gì buồn hơn những điều mà người ta có thể đoán trước: “ngôi nhà tất nhiên là là xây theo phong cách Nga”; “và hiển nhiên có một chiếc thuyền đáy bằng đậu cạnh bờ lầy”. Ấn tượng về sự buồn tẻ được nhắc đi nhắc lại, qua các chi tiết về sự tiêu điều, sự na ná giống nhau. và qua chính thái độ chán nản không giấu giêm của nhân vật. Tuy nhiên, cũng chính vùng đất buôn tẻ ấy khi được nhìn bằng con mắt của một chàng trai trẻ đang yêu thì lại lãng mạn, thơ mộng và tràn đầy sức sống: “Suốt đêm, trời phía Tây cứ sáng nhờ nhờ pha màu xanh lục và ở tít chân trời có cái gì leo lét cháy (.
Ở bờ bên kia có một khoảnh rừng cây nhỏ nên tối sam, nhưng sau cánh rừng ấy suốt đêm cứ có cái màu sáng nhờ nhờ lạ lùng như thé này” [21;1§]. Với sự đối sánh như trên, chúng ta hoàn toàn có thể khăng định những chỉ tiết miêu tả phong cảnh này chủ yếu thực hiện chức năng tâm lý hóa, phản ánh các quy luật của đời sông con người. Trong truyện ngắn của Bunin, một số chỉ tiết, hình ảnh nghệ thuật xuất hiện với mật độ dầy đặc đến mức không thể coi đó là một sự ngẫu nhiên mà đã trở thành những mô tip. Có thé lay Say nắng làm vi dụ.
Mô tip ánh sáng đóng vai trò then chốt trong thiên truyện này. Ánh sáng hiện hữu dưới nhiều dáng hình và sắc độ. “Phía đăng trước là màn đêm điêm những đôm sáng. Từ phía bóng tôi ây, những làn gió mạnh, dịu mêm, phả vào mặt, còn những đôm sáng rập rình lùi mãi vê một bên”; “con tàu có cái vẻ sặc sỡ của sông Vonga quay lái chạy một vòng 39%, 66 rộng, cập vao một bến nhỏ” [21:34]; “Người xa ich dừng xe lại bên cạnh một cái Luận văn thạc sỹ khoá 2004 - 2007 Dang Thu Hương.
Các mô hình tượng trưng trong văn xuôi I.Bunin 16 cửa sáng ánh đèn”; “Vào mười giờ sáng hôm sau, một ngày nóng bức, chan chứa ánh mặt trời va tran đầy hạnh phúc” [21;36]. Những mô típ khác như bến tàu, ga xép, con đường, sự sống và cái chết. cũng xuất hiện rất thường xuyên và điền hình trong truyện ngắn Ivan Bunin. Chúng ta sẽ trở lại tìm hiểu kỹ những mô típ này cũng như ý nghĩa tượng trưng của chúng ở các phần sau của luận văn.
Những hình thức và biện pháp thể hiện cái tượng trưng Đôi khi đọc truyện Bunin, người ta có cảm giác yếu tô tượng trưng dan quyện, tầng tầng lớp lớp và rất khó tách bạch. Cái tài của nhà văn là ở chỗ ông sử dụng tượng trưng nhuan nhuyễn và điêu luyện đến mức người đọc rất khó nhận ra dấu vết kỹ thuật. Dường như những chỉ tiết ấy sinh ra đã mang nét nghĩa như thế, sức biéu cảm và chiều sâu như thé. Tuy vậy, nếu để ý thật kỹ, chúng ta cũng có thé phân loại những tượng trưng này thông qua hình thức và biện pháp thể hiện chúng trong tác phẩm.
Hình thức thé hiện cái tượng trưng trong truyện ngắn Ivan Bunin chủ yếu là đưa chi tiết nghệ thuật vào cấu trúc biến đổi ngữ nghĩa, tạo nên tượng trưng bang những so sánh, hoán dụ, ân dụ. Đó là những thao tác thông thường đến mức ngay trong chính cuộc sông hàng ngày chúng ta cũng dùng một cách vô thức, tự nhiên ma không làm ngôn ngữ nói trở nên bóng bay, han lâm. Có thê lay một ví dụ đơn giản: trong truyện Cuộc đời tươi đẹp, lời nói của nhân vật “tôi”: “Bà ta đứng, lưng cúi xuống, gườm gườm nhìn tôi bằng cặp mắt sưng mọng chỉ còn lắc lư cái sỏ lợn”; “Ông ấy lại phái chính cái bà mối nọ đến — cái bà mối đã dắt díu chúng tôi ấy mà, một con chó cái hung đữ đấy .” [20;93] đã bao gồm rất nhiều sự liên hệ, so sánh. Hay ở truyện ngắn Quy ông tir San Francisco đến chúng ta cũng thấy một hình ảnh mang tính ân dụ rất cao - đôi tình nhân trên con tau Atlantida: cô gái với “làn mi buông xuôi, mái tóc búi chải một cách ngây thơ”; chang thanh niên với “mái tóc den kịt như được dán lên đầu, mặt trắng bệch vì đánh phần - một chàng thật đẹp trai nhưng trông hệt một con dia lớn” [20;220].
Đăng sau những bước nhây tỉnh tế, Luận văn thạc sỹ khoá 2004 - 2007 Dang Thu Hương. Các mô hình tượng trưng trong văn xuôi I.Bunin 17 mềm mại và vẻ hạnh phúc cố tình phô diễn của họ là sự ngán ngâm tột độ vì qua bao năm tháng họ cứ phải giả vờ yêu nhau dé “kiếm những món tiền hoi” [21;184]. Đây chính là hình ảnh tượng trưng cho tính chất không sinh khí của xã hội tư sản được che đậy bởi vẻ hào nhoáng day giả tạo. Cũng có lúc nhà văn sử dụng những so sánh mang tính tượng trưng bang lựa chọn từ, định ngữ dé phan tich, lam sang to thêm điều muốn nói (“cái mu có đôi mắt cú vo nay”); đôi khi là những hoán dụ thực hiện chức năng phân tích giải thích sâu hơn các chỉ tiết kết hợp với những ân dụ nhằm cô đúc khái quát nghệ thuật.