Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo, Luận văn gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Bản sắc dân tộc và những “tham số” của bản sắc dân tộc Nga Chƣơng 2: Bản sắc dân tộc Nga trong truyện ngắn A. Chekhov nhìn từ các kiểu nhân vật Chƣơng 3: Bản sắc dân tộc Nga trong truyện ngắn A. Chekhov nhìn từ phƣơng diện không gian 8 z Chƣơng 1: BẢN SẮC DÂN TỘC VÀ NHỮNG “THAM SỐ” CỦA BẢN SẮC DÂN TỘC NGA 1.1 Khái lƣợc về bản sắc dân tộc 1.1 Khái niệm dân tộc Dân tộc, theo quan niệm của các nhà sử học, là những cộng đồng ngƣời đƣợc hình thành trong quá trình lịch sử, trên cơ sở cộng đồng về ngôn ngữ, lãnh thổ, đời sống kinh tế và văn hoá, đặc biệt là về truyền thống văn hoá. Mỗi dân tộc có quá trình hình thành và phát triển không giống nhau nhƣng đều chịu sự chi phối của những quy luật phổ biến nên giữa các dân tộc có những nét tƣơng đồng nhất định trong lịch sử, văn hóa… Trong điều kiện giao lƣu nhƣ ngày nay, những yếu tố thuộc về truyền thống dân tộc, bản sắc dân tộc đƣợc quan tâm nhiều hơn.
Tính dân tộc trong văn học là một khái niệm thuộc phạm trù tƣ tƣởng thẩm mỹ chỉ mối liên hệ khăng khít giữa văn học và dân tộc, thể hiện qua tổng thể những đặc điểm độc đáo tƣơng đối bền vững chung cho các sáng tác của một dân tộc, đƣợc hình thành trong quá trình phát triển lịch sử và phân biệt với văn học của các dân tộc khác. Một nhà văn trong bất cứ trƣờng hợp nào cũng sử dụng một số phƣơng diện biểu hiện quen thuộc của hình thức nghệ thuật dân tộc họ từ thể loại, ngôn từ đến các chất liệu của đời sống xã hội và thiên nhiên của dân tộc mình. Vậy nên, tinh thần dân tộc luôn thấm đẫm trong từng câu chữ, trong cách cảm cách nghĩ của mỗi nhà văn, nhà thơ. Và cũng chính đặc thù của đời sống dân tộc đã mang lại cho văn học của dân tộc ấy một bản sắc riêng độc đáo đƣợc bảo tồn lƣu giữ qua nhiều thế hệ.
Đại văn hào Nga, M.Gorky cho rằng “Văn học là nhân học”, đối tƣợng của văn học là con ngƣời, nhiều cá nhân hợp thành xã hội. Do đó, văn học phải 9 z phản ánh tính dân tộc là điều tất yếu. Văn học là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, khách thể và chủ thể ở đây nói chung là thuộc tính của một dân tộc nhất định, cho nên tính dân tộc là một thuộc tính tất yếu của văn học. Nhà phê bình văn học Nga Belinsky cho rằng: “Mỗi nhân vật phải gắn với một dân tộc nhất định, một thời đại nhất định.
Vì nếu con ngƣời không có tính dân tộc không phải là con ngƣời thực sự mà là một khái niệm trừu tƣợng. Vì vậy mà rõ ràng tính dân tộc trong tác phẩm không phải là một thành tích mà là một thuộc tính tất yếu của việc sáng tạo”. Tính dân tộc của tác phẩm văn học đƣợc biểu hiện ở nhiều khía cạnh, trƣớc hết là ở ngôn ngữ, trong cách cảm thụ thế giới. Về hình thức, tính dân tộc thể hiện trong thể loại của tác phẩm văn học.
Ta cũng cần phân biệt tính dân tộc và tính cách dân tộc. Tính cách dân tộc cũng đƣợc thể hiện trong tác phẩm có tính dân tộc. Đó là những phẩm chất, tính cách lặp đi lặp lại nhiều lần tạo nên thành phẩm chất của dân tộc.Tuy nhiên sự lặp lại ở đây không phải là sự lặp lại một cách đơn điệu, nhàm chán ở các hình tƣợng nghệ thuật; mà tính cách dân tộc là cái thống nhất trong sự đa dạng, ổn định trong sự biến đổi. Cũng không nên hiểu tính cách dân tộc là sự liệt kê các phẩm chất.
Tính cách dân tộc là một phẩm chất chỉnh thể, nó thể hiện trong một phức hợp liên kết các phẩm chất nhất định. Một tác phẩm văn học thể hiện đƣợc nội dung và những vấn đề phù hợp với tình cảm và tâm lí dân tộc thì tác phẩm ấy có tính dân tộc. Do những điều kiện riêng về hoàn cảnh địa lí, về lịch sử phát triển của xã hội, nếp sống văn hóa, phong tục tập quán… mà mỗi dân tộc có những tình cảm và tâm lí riêng. Bàn về tính dân tộc trong văn học nghệ thuật, A.Tolstoy đã từng nhận định "Nghệ thuật dân tộc là nghệ thuật mang mùi hƣơng đất đai, trong tiếng mẹ đẻ mỗi từ dƣờng nhƣ có hai lần ý nghĩa nghệ thuật… ".
Bởi tác phẩm văn học nghệ thuật là sản phẩm riêng của cá nhân nghệ sĩ, nhƣng đằng sau mỗi ngƣời 10 z nghệ sĩ bao giờ cũng mang bóng dáng của dân tộc, giai cấp mà họ đang sống. Vậy nên tinh thần dân tộc luôn thấm đẫm trong từng câu chữ, trong cách cảm cách nghĩ của mỗi nhà văn, nhà thơ. Và cũng chính đặc thù của đời sống dân tộc đã mang lại cho văn học của dân tộc ấy một bản sắc riêng độc đáo đƣợc bảo tồn lƣu giữ qua nhiều thế hệ.2 Khái niệm bản sắc dân tộc Bản sắc dân tộc (national identity) là điểm phân biệt cộng đồng này với cộng đồng khác. Các nhà dân tộc học nhấn mạnh yếu tố nhân chủng học của tộc ngƣời trong bản sắc dân tộc.
Các nhà văn hóa học nhấn mạnh yếu tố tín ngƣỡng, nghệ thuật. Các nhà xã hội học nhấn mạnh phƣơng diện hoạt động xã hội của con ngƣời. Bản sắc dân tộc không phải là khái niệm tĩnh, nó có sự vận động biến đổi nhƣ những “tham số” cơ bản để định hình nên nét riêng, độc đáo của riêng mỗi dân tộc. Bản sắc dân tộc đƣợc hợp thành từ bản sắc của mỗi cá nhân trong cộng đồng trên nguyên lí đồng hóa, dung hòa, thích nghi để cùng tồn tại.
Do đó bản sắc dân tộc gắn liền với một giới hạn không gian văn hóa nhất định. Phạm Quang Long trong cuốn Lý luận văn học cũng nhận xét: "bản sắc dân tộc , tính dân tộc của văn học đƣợc xem xét nhƣ là sản phẩm của một quá trình lịch sử, mang tính tổng hợp, là tích hợp của những giá trị, phụ thuộc vào điều kiện lịch sử hay là những sản phẩm của ngƣời đƣa những thông điệp ấy (nghệ sĩ) đến ngƣời đọc"[25, tr113 ] Các tham số để xác định bản sắc dân tộc: tín ngƣỡng, tôn giáo, cách ứng xử của con ngƣời với tự nhiên và xã hội, ngôn ngữ,….Tuy nhiên, nhìn một cách khái quát, văn hóa có thể coi là phạm trù quan trọng nhất, bao trùm, giúp ta hình dung nét riêng của mỗi dân tộc, chứa đựng phần lớn những nét riêng của bản sắc dân tộc.2 Các tham số xác định bản sắc dân tộc Nga 1.1 Địa văn hóa Xét về cơ tầng văn hóa bản địa, trƣớc hết có thể thấy Nga là một trong những nƣớc có đƣờng bờ biển dài nhất thế giới ( 37. Đây là điều kiện thuận lợi cho phép đất nƣớc này có thể mở rộng giao lƣu với bên ngoài, đặc biệt là giao lƣu với Phƣơng Tây. Nga cũng là nƣớc có đƣờng biên giới dài nhất, trải dài từ Á sang Âu.
Do đó chắc chắn trong văn hóa Nga, bên cạnh yếu tố Phƣơng Tây sẽ có yếu tố Phƣơng Đông. Từ phƣơng diện sự hình thành quốc gia lãnh thổ, sự đan xen của yếu tố Phƣơng Đông và Phƣơng Tây càng biểu hiện rõ nét hơn. Tổ tiên của ngƣời Nga là những bộ tộc Slav phƣơng Đông xƣa kia từng sinh sống, trồng trọt và chăn nuôi ở Đông Nam Châu Âu. Đầu công nguyên, họ chiếm giữ vùng lãnh thổ từ Baltic đến Biển Đen, từ Karpat đến thƣợng nguồn sông Oka và sông Volga.
Ngƣời Slav tổ chức công xã theo lãnh thổ chứ không theo dòng họ. Do đó mối quan hệ theo chiều dọc- huyết thống yếu hơn so với những mối liên hệ theo chiều ngang. Ngƣời Slav vì thế không có tộc phả và dễ dàng đón nhận các yếu tố từ bên ngoài vào và mong muốn đồng hóa các dân tộc khác. Quả thực ngƣời Slav trong lịch sử tồn tại, đã từng chiến đấu với rất nhiều bộ tộc khác (chẳng hạn bộ tộc Huns) nhƣng đồng thời cũng mở rộng ảnh hƣởng của mình sang Bzantyum.
Nƣớc Nga Kiev đƣợc hình thành ở thế kỉ VI chính là nhờ liên minh các bộ tộc Slav, trong đó bộ tộc Rus đứng đầu. Yếu tố bản địa văn hóa đó vừa kết hợp với những cuộc tiếp xúc, tiếp biến văn hóa trong lịch sử nƣớc Nga tạo ra những giá trị văn hóa Nga. Có thể kể đến những cuộc tiếp xúc và tiếp biến văn hóa đã diễn ra trong lịch sử nƣớc Nga nhƣ : sự hình thành nƣớc Nga Kiev, tiếp xúc với Bizantyum(IX- X), Hunnish đô hộ ( XIII-XV), cải cách của PyotrI(VII-VIII). 12 z Trƣớc hết có thể thấy rõ, đặc điểm đầu tiên trong văn hóa Nga chính là sự hòa hợp và xung đột giữa hai yếu tố Đông và Tây.
Năm 988, Cơ Đốc giáo trở thành quốc giáo của Nga. Sự kiện này tạo nên bƣớc ngoặt cơ bản trong đời sống xã hội Nga. Những ngẫu tƣợng bị đem đốt hoặc quẳng xuống sông, song nhiều nghi lễ đa thần giáo vẫn đƣợc giữ lại. Điều đó có nghĩa là nƣớc Nga đã nhích gần về phía Phƣơng Tây dù vẫn giữ lại một số nét phƣơng Đông…Các bài hát nghi lễ cổ xƣa, các vũ điệu ngày hội gắn liền với phong tục các bộ tôc Slav phƣơng Đông đã chịu ảnh hƣởng mạnh mẽ từ Bzatyum Thế chế quân chủ nga cũng đƣợc thiết lập theo mô hình đế chế phƣơng Đông.
Bên cạnh giao thoa tự nguyện còn có giao thoa cƣỡng bức. Cuộc xâm lƣợc và đô hộ của quân Mông Cổ kéo dài hơn hai thế kỉ đã để lại dấu vết sâu đậm và lâu dài trong lịch sử Nga. Chính nó đã quy định nên tính chất nông nô chuyên chế Nga. Lý tƣởng tập thể và chế độ chuyên chế chính là hai dấu ấn rõ nét nhất mà đế quốc Mông Cổ để lại trong văn hóa Nga.
Mặt khác Byzantyum cũng là Châu Âu, là phƣơng Đông nằm kề phƣơng Tây Cơ đốc giáo. Do đó Cơ đốc giáo không chỉ góp phần thống nhất và củng cố địa vị của Nhà nƣớc Nga mà còn tạo điều kiện mở rộng những mối giao lƣu của nó với các quốc gia khác ở Âu Châu. Từ cuối thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XVIII, cuộc cải cách của Piotr’ Đệ nhất đã tạo nên quá trình Tây hóa ở Nga, nhanh chóng đƣa nƣớc Nga thoát khỏi lạc hậu bằng những cuộc cải cách thiết thực toàn diện: quân sự, chính trị, kinh tế và giáo dục… Chính nhà vua là ngƣời rất tiến bộ, có ý thức dân chủ, thƣờng đi qua các nƣớc Tây Âu để học tập kinh nghiệm.