Chương 1 TIỂU THUYẾT TẠ DUY ANH TRONG SỰ VẬN ĐỘNG CỦA TIỂU THUYẾT VIỆT NAM SAU ĐỔI MỚI 1. Tiểu thuyết Việt Nam sau đổi mới Tiểu thuyết là một thể loại văn học hết sức quan trọng. Điều đó thể hiện không chỉ ở phạm vi phản ánh mà cả khả năng phản ánh: “Đóng vai trò then chốt trong đời sống văn học, tiểu thuyết có những khả năng và ưu thế đặc biệt trong việc bao quát tầm vóc hiện thực và khám phá những vấn đề của thân phận con người… nghĩa là tiểu thuyết có năng lực phản ánh hiện thực cả ở bề rộng lẫn chiều sâu của của nó” [111, 537]. Để phản ánh hiện thực được cả ở bề rộng lẫn chiều sâu, tiểu thuyết đã liên tục làm mới, thay đổi mình.
Bakhtin từng nhận định: “Tiểu thuyết là thể loại văn chương duy nhất luôn luôn biến đổi, do đó nó phản ánh sâu sắc hơn, cơ bản hơn, nhạy bén hơn sự chuyển biến của bản thân hiện thực” và “tiểu thuyết báo trước sự phát triển tương lai của toàn bộ văn học” [19, 27]. Như vậy, tiểu thuyết thực sự là thể loại có vai trò cốt yếu đối với toàn bộ nền văn học. Ở nước ta, tiểu thuyết cũng luôn làm tốt vai trò đó của mình. Nó luôn có sự thay đổi, chuyển mình để bắt kịp những nhu cầu của thời đại.
Văn học Việt Nam sau 1975, đặc biệt từ sau giai đoạn đổi mới có những chuyển biến hết sức quan trọng. Trong đó, có sự đóng góp to lớn của thể loại tiểu thuyết. Trước đó, vào những năm 1945 – 1975, nhân dân ta đang tiến hành cuộc chiến tranh giữ nước tuy gian khổ, đau thương, mất mát nhưng hết sức anh dũng. Do đó, yêu cầu của nền văn học trong giai đoạn này là “phản ánh chân thực và hùng hồn cuộc sống mới, con người mới” hay “phản ánh hiện thực trong xu thế cách mạng của nó”.
Thế nhưng, sau chiến tranh, thực tiễn cuộc sống mới đòi hỏi văn học nghệ thuật phải có những sự thay đổi. Nghĩa là, văn học nghệ thuật không được hiểu đơn giản là công cụ chính trị hay vũ khí công tác tư tưởng, hoặc phương tiện tuyên truyền, giáo dục quần chúng mà là “một bộ phận trọng yếu của cách mạng tư tưởng văn hóa, là bộ phận đặc biệt nhạy cảm của văn hóa, thể hiện khát vọng của con người về chân, thiện, mĩ, có tác dụng bồi dưỡng tình cảm, tâm hồn, nhân cách, bản lĩnh của các thế hệ công dân, xây dựng môi trường đạo đức trong xã hội…” [110]. Trong khoảng mười năm sau 1975, văn học Việt Nam có sự chuyển tiếp từ văn học sử thi thời chiến tranh sang thời kì hậu chiến. Giai đoạn này có thể gọi là bước chuẩn bị cho sự chuyển đổi.
Vì thế, văn học chưa hoàn toàn đổi mới, chỉ bắt đầu có sự nhạt dần chất sử thi và cảm hứng ngợi ca. Bên cạnh nhu cầu tái hiện lịch sử, nhà văn có điều kiện tập trung vào xây dựng tính cách nhân vật, phân tích và lí giải các sự kiện, biến cố lịch sử. Lúc này, từ đỉnh cao của chiến thắng trọn vẹn, các tác giả đã nhìn lại và tái hiện những khó khăn, tổn thất, thậm chí cả những thất bại tạm thời của ta trong chiến tranh. Đó cũng chính là một cách khẳng định những giá trị lớn lao của sự hi sinh và ý nghĩa vĩ đại của chiến thắng.
Bên cạnh đó, một số cây bút đã kịp phản ánh những vấn đề mới nảy sinh trong buổi giao thời từ chiến tranh sang hòa bình, mà cuộc sống ở mọi nơi hiện ra không chỉ có niềm vui của hòa bình, chiến thắng, đoàn tụ mà còn với bao phức tạp, khó khăn và cả những mâu thuẫn mới nảy sinh. Đến đầu những năm 80, cùng với những khó khăn chồng chất của nền kinh tế, văn học dường như cũng chững lại. Nhiều tác giả bối rối không tìm thấy phương hướng sáng tác. Ý thức nghệ thuật của người sáng tác chưa bắt kịp được với sự chuyển biến của thực tiễn xã hội, những quan niệm và cách tiếp cận hiện thực vốn quen thuộc trong thời kì trước đã tỏ ra bất cập trước hiện thực mới và đòi hỏi của người đọc.
Nhưng đây cũng chính là khoảng thời gian mà nhiều nhà văn trăn trở, vật vã, tìm tòi thầm lặng để đáp ứng được nhu cầu của thời đại mới. Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị Đảng Cộng sản Việt Nam (11/1987) đã mở ra hướng đi mới cho văn học, mở ra một cách nhìn mới về vị trí và chức năng của văn nghệ. Từ đó, nhà văn hiểu rõ sứ mệnh của văn chương và sứ mệnh của mình đối với cuộc sống. Những sáng tác của họ không nhằm minh họa cho các khẩu hiệu hay cổ vũ cho các phong trào, giúp thực hiện các chủ trương, chính sách của nhà nước mà “tập trung miêu tả số phận con người, mang đến cho con người cái đẹp, tình yêu cuộc sống cũng như sự từng trải làm phong phú thêm kinh nghiệm sống của mỗi cá nhân, đồng thời phải nghiên cứu những vấn đề của xã hội đang diễn ra hay đi lùi vào quá khứ, từ đó rút ra bài học, những tư tưởng mang tính khái quát, không chỉ quan trọng về triết học, đạo đức, nhân sinh mà còn mang ý nghĩa chính trị lớn lao” [102, 18].
Từ 1986 đến đầu thập kỉ 90 là thời kì văn học đổi mới sôi nổi, mạnh mẽ. Văn học lúc này đã có sự khởi sắc, đặc biệt là văn xuôi với thể loại chủ yếu là tiểu thuyết. Tiểu thuyết Việt Nam thời kì này đứng trước nhu cầu đổi mới tư duy và nó bộc lộ ưu thế của mình trong cách nhìn thẳng vào sự thật, bao quát được những vấn đề cơ bản của đời sống xã hội và số phận con người. Hàng loạt những tiểu thuyết mới lạ, táo bạo và sâu sắc, chân thực ra đời đã khẳng định được điều đó.
Về mối quan hệ giữa văn học và hiện thực lúc bấy giờ, các nhà nghiên cứu đã nhìn nhận “yêu cầu văn học trong điều kiện lịch sử mới phải giúp vào sự hoàn thiện bức tranh hiện thực còn trong dạng phác thảo của một thời đã qua, sao cho chân thực hơn, được soi tỏ dưới nhiều góc cạnh hơn” [58, 106]. Giờ đây, trước yêu cầu mới, nhiệm vụ của văn học phải thay đổi, nó không chỉ phản ánh thế giới khách quan mà còn thể hiện thế giới chủ quan. Lê Ngọc Trà chỉ ra cái hạn chế của văn học trong việc phản ánh hiện thực giai đoạn trước đó: Việc nhấn mạnh quá mức bản chất phản ánh và nhiệm vụ mô tả hiện thực của văn học là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng “suy tư tưởng” của khá nhiều tác phẩm văn học trong mấy chục năm vừa qua… Người sáng tác phần đông đều chọn cách viết an toàn nhất, mà lại “đúng” nữa, là tập trung ghi chép mô tả, kể cho thật nhiều về đời sống…, còn cái quan trọng là bản thân anh, chính anh, riêng anh nghĩ gì, đau gì thì hoặc là lờ đi, giấu biến đi, hoặc thành thật tin một cách ngây thơ là nó nhỏ bé, vô nghĩa, không đáng được thể hiện [ 103, 24]. Từ cách phản ánh hiện thực ấy, con người trong văn học cũng chưa được chạm đến tầng sâu của đời sống tâm hồn riêng tư, những thân phận cá nhân không được nhắc đến : “Trong hoàn cảnh ấy, các nhà văn mới chỉ có điều kiện quan tâm chủ yếu đến cái chung chứ chưa phải cái riêng và do đó vấn đề số phận con người chưa có được vị trí xứng đáng của nó trong văn học.
Chúng ta vẫn bắt gặp con người, nhưng phần lớn đó là con người – tập thể, con người – quần chúng, con người – nhân dân, chứ chưa phải là những cá nhân, những số phận. Các nhà văn thường tập trung nói lên quyết tâm, ý chí, sức mạnh của con người chứ chưa diễn tả được hết sự phong phú, kể cả nỗi cô đơn và sự yếu ớt của nó – cái cô đơn trong vinh quang và quyền lực, trong cả phút giây hạnh phúc, cái cô đơn của mọi tìm tòi, của những ai dám nghĩ, dám sáng tạo, dám nói điều ngay thẳng và sự yếu ớt không phải lúc nào cũng chỉ như biểu hiện của hèn nhát mà còn là dấu hiệu của cái đẹp, của một tâm hồn dịu dàng, phong phú” [103, 38]. Vấn đề bản chất của văn học cũng được Lê Ngọc Trà đặt ra trong một loạt bài nghiên cứu của mình. Theo ông, “tác phẩm văn học là tiếng nói của những ấn tượng, những suy nghĩ vừa như xác định, vừa như chưa xác định, vừa như trọn vẹn, vừa như chưa trọn vẹn, vừa như có ý giới hạn lại vừa như miên man, vô bờ bến.
Đó là những cảm giác mang tính hình tượng. Nhà văn sáng tác khi cảm thấy đau ở đâu đấy trong tâm hồn, khi có điều gì đó muốn chia sẻ, gửi gắm. Văn học chính là nỗi buồn về cái đẹp, về lí tưởng, là nỗi đau giằng xé về số phận con người, là sự cắn rứt lương tri không yên, là cuộc đấu tranh nội tâm giữa hai phần tối và sáng, giữa thiện và ác, khi con người đã có khả năng tự phân đôi” [98]. Nguyễn Văn Hạnh, trong “Văn học trên con đường đổi mới”, đã khẳng định: “Tư tưởng văn học bậc nhất mà đại hội Đảng lần thứ VI đã trang bị cho nhận thức xã hội trong thời kì đổi mới, cũng là tư tưởng đổi mới, cũng là tư tưởng đã tạo nên bước ngoặt thật sự trong tư duy nghệ thuật mấy năm qua, chính là tư tưởng tôn trọng sự thật, nhìn thẳng vào sự thật.
Bởi sự thật luôn luôn là linh hồn của nghệ thuật chân chính, nghệ thuật tiến bộ” [38]. Nguyễn Kiên cũng nhận định về văn học giai đoạn này trong việc phản ảnh hiện thực : “Văn xuôi ta những năm gần đây cũng giàu chất thực hơn. Nó đang cố gắng như thế và cuộc sống hôm nay cũng buộc nó phải như thế. Có những bút kí, truyện ngắn và truyện dài miêu tả cuộc sống trần trụi, phơi bày sự băng hoại đạo đức, những quan hệ dị dạng, con người què quặt về tinh thần…” [73].
Có thể nói, nhận thức hiện thực trong trạng thái đời thường, cảm nhận và phản ánh sự thật về hiện thực, đó là biểu hiện của đổi mới văn học. Đại hội lần thứ VI của Đảng đã xác định đường lối đổi mới toàn diện, mở ra một thời kì mới cho đất nước vượt qua khủng hoảng để bước và giai đoạn phát triển mạnh mẽ và ngày càng vững chắc.