Luận án tiến sĩ: Nghệ thuật giễu nhại trong truyện ngắn Việt Nam 2000-2015 - Đại học Huế

Tìm hiểu nghệ thuật giễu nhại trong truyện ngắn Việt Nam giai đoạn 2000-2015. Phân tích cách tác giả sử dụng châm biếm, tượng trưng để phản ánh thực tại xã hội.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2020

159
2
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về nghệ thuật giễu nhại trong truyện ngắn Việt Nam 2000 2015

Nghệ thuật giễu nhại là một hiện tượng văn học quan trọng trong giai đoạn 2000-2015. Đây là giai đoạn văn học Việt Nam chứng kiến sự phát triển mạnh mẽ của truyện ngắn. Nhiều nhà văn trẻ đã sử dụng giễu nhại như một biện pháp nghệ thuật đắc dụng. Giễu nhại có hai thành tố cấu tạo. Đó là bắt chước và hài hước, châm biếm. Từ điển tiếng Việt định nghĩa giễu là nói ra để đùa bỡn, châm chọc. Nhại là bắt chước tiếng nói, điệu bộ của người khác. Trong văn học, giễu nhại mang nghĩa hàm ẩn hơn. Nó gắn với chức năng giáo dục, cảnh báo và thẩm mỹ. Nghệ thuật này thể hiện qua hệ thống hình tượng nghệ thuật phong phú. Các nhà văn như Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Hồ Anh Thái đã nổi bật với giọng giễu nhại. Họ đưa vào văn chương cái nhìn suồng sã, không quan trọng hóa. Giễu nhại trở thành quan niệm về bản chất dân chủ của thể loại truyện ngắn.

1.1. Khái niệm giễu nhại trong ngôn ngữ học và văn học

Giễu nhại trong ngôn ngữ học là từ phổ dụng. Nó chỉ dừng lại ở chức năng biểu đạt cụ thể, trực tiếp đối tượng. Từ điển Lạc Việt định nghĩa nhại là bắt chước hài hước để trêu chọc, châm biếm. Từ điển Tiếng Việt cho rằng nhại là bắt chước, phỏng theo lời bài thơ có sẵn. Mục đích là làm ra bài mới để giễu cợt. Trong văn học, cách hiểu giễu nhại mang tính lịch sử hơn. Nó gắn với các hệ hình văn hóa. Giễu nhại là thuật ngữ đa nghĩa, phức tạp hơn so với ngôn ngữ học thông thường.

1.2. Tình hình nghiên cứu nghệ thuật giễu nhại tại Việt Nam

Nghiên cứu về nghệ thuật giễu nhại tại Việt Nam đã có những bước phát triển đáng kể. Các nhà phê bình đã chú ý nhận ra giễu nhại như biện pháp nghệ thuật quan trọng. Phạm Thị Thùy Trang đánh giá cao giọng giễu nhại trong tiểu thuyết Phạm Thị Hoài. Nhiều luận án, bài báo đã đề cập đến hiện tượng này. Tuy nhiên, nghiên cứu chuyên sâu về giễu nhại trong truyện ngắn giai đoạn 2000-2015 còn hạn chế. Luận án của Nguyễn Xuân Thành là công trình đầu tiên hệ thống hóa vấn đề này một cách toàn diện.

II. Phân tích phương thức thể hiện nghệ thuật giễu nhại trong truyện ngắn

Nghệ thuật giễu nhại trong truyện ngắn Việt Nam 2000-2015 thể hiện qua nhiều phương thức đa dạng. Phương thức thứ nhất là nhại ngôn ngữ quan phương. Các nhà văn mượn cái nhìn trực diện, châm biếm của người kể chuyện giấu mặt. Tinh thần giễu nhại được tăng cường bởi cái nhìn phê phán. Nó đả kích trực diện tâm lý bầy đàn và sự tha hóa cộng đồng. Phương thức thứ hai là giễu nhại qua cảm hứng sáng tác. Cảm hứng này phục vụ hai mục đích chính. Đó là phê phán mặt trái xã hội và khẳng định nhân tính con người. Đề tài giễu nhại nhìn từ không gian hiện thực rất phong phú. Nó cũng nhìn từ phạm trù đạo đức sâu sắc. Nhân vật giễu nhại thường mang dáng dấp nghịch dị, bi hài. Nghệ thuật giễu nhại phát huy sức mạnh qua giọng điệu trần thuật độc đáo. Sự táo bạo của nhà văn thể hiện ở chỗ dám nhại những giáo điều đã ăn sâu vào tâm thức.

2.1. Cảm hứng và đề tài giễu nhại trong truyện ngắn

2.2. Nhân vật và giọng điệu giễu nhại

Nhân vật giễu nhại trong truyện ngắn thường mang dáng dấp nghịch dị, bi hài. Họ là hiện thân của những thói hư tật xấu trong xã hội. Giọng điệu giễu nhại được thể hiện rõ qua các tác phẩm. Nhà văn sử dụng người kể chuyện giấu mặt để tăng hiệu quả châm biếm. Sự hài hước kết hợp với phê phán tạo nên sức hấp dẫn đặc biệt. Nhân vật giễu nhại không đơn thuần là đối tượng bị cười nhạo. Họ còn là phương tiện để nhà văn thể hiện quan điểm về con người và xã hội. Nghệ thuật này làm nên bản sắc riêng cho truyện ngắn Việt Nam giai đoạn này.

III. Phương pháp nghiên cứu nghệ thuật giễu nhại trong văn học Việt Nam

Nghiên cứu nghệ thuật giễu nhại trong truyện ngắn Việt Nam đòi hỏi nhiều phương pháp tiếp cận. Phương pháp đầu tiên là phân tích văn bản. Phương pháp này tập trung vào hệ thống hình tượng nghệ thuật trong tác phẩm. Nó giúp phát hiện các yếu tố giễu nhại ở nhiều tầng nghĩa khác nhau. Phương pháp thứ hai là so sánh đối chiếu. Phương pháp này so sánh tác phẩm Việt Nam với tác phẩm thế giới. Nó làm nổi bật bản sắc riêng của nghệ thuật giễu nhại Việt Nam. Phương pháp lịch sử - văn hóa cũng đóng vai trò quan trọng. Nó giúp hiểu giễu nhại trong bối cảnh hệ hình văn hóa cụ thể. Phương pháp ký hiệu học phân tích các mã văn hóa trong tác phẩm. Phương pháp tiếp nhận xem xét phản ứng của độc giả. Sự kết hợp các phương pháp tạo nên cái nhìn toàn diện về nghệ thuật giễu nhại. Hướng triển khai đề tài cần chú trọng cả lý luận lẫn thực tiễn sáng tác.

3.1. Phương pháp phân tích văn bản và so sánh đối chiếu

Phân tích văn bản là phương pháp cốt lõi trong nghiên cứu giễu nhại. Phương pháp này đi sâu vào cấu trúc ngôn ngữ, giọng điệu trần thuật. Nó phát hiện các lớp nghĩa hàm ẩn đằng sau câu chữ. So sánh đối chiếu giúp đặt tác phẩm Việt Nam trong tương quan với văn học thế giới. Phương pháp này cho thấy sự ảnh hưởng và sáng tạo của nhà văn Việt Nam. Nó cũng làm nổi bật những nét đặc thù của giễu nhại trong bối cảnh văn hóa dân tộc. Sự kết hợp hai phương pháp đem lại kết quả nghiên cứu đáng tin cậy.

3.2. Phương pháp lịch sử văn hóa và tiếp nhận

Phương pháp lịch sử - văn hóa đặt tác phẩm trong hệ hình văn hóa cụ thể. Nó giúp hiểu tại sao giễu nhại xuất hiện và phát triển mạnh mẽ. Giai đoạn 2000-2015 là thời kỳ đổi mới sâu sắc trong đời sống xã hội. Điều này tạo điều kiện cho nghệ thuật giễu nhại nở rộ. Phương pháp tiếp nhận xem xét phản ứng của độc giả trước tác phẩm. Nó đánh giá hiệu quả nghệ thuật của biện pháp giễu nhại. Hai phương pháp này bổ sung cho nhau. Chúng tạo nên cái nhìn đa chiều, sâu sắc về hiện tượng giễu nhại trong truyện ngắn Việt Nam đương đại.

IV. Kết luận và ứng dụng nghệ thuật giễu nhại trong truyện ngắn hiện đại

Nghệ thuật giễu nhại trong truyện ngắn Việt Nam 2000-2015 là hiện tượng văn học đáng chú ý. Nó phản ánh ý thức đổi mới nghệ thuật của các nhà văn. Giễu nhại không chỉ là cách giải thiêng hay làm mất giá trị đối tượng. Nó chính là quan niệm về bản chất dân chủ của thể loại truyện ngắn. Các nhà văn trẻ đã đưa giễu nhại lên tầm nghệ thuật chuyên nghiệp. Họ sử dụng nó để phê phán mặt trái xã hội và khẳng định nhân tính. Ứng dụng của nghệ thuật giễu nhại rất đa dạng. Nó phục vụ sáng tác văn học và giảng dạy trong nhà trường. Nó cũng hỗ trợ nghiên cứu phê bình văn học hiện đại. Nghệ thuật giễu nhại góp phần làm phong phú đời sống tinh thần. Nó giúp người đọc suy ngẫm về con người và xã hội một cách sâu sắc. Giá trị của nghệ thuật này được khẳng định qua nhiều tác phẩm có chất lượng.

4.1. Giá trị lý luận và thực tiễn của nghệ thuật giễu nhại

Giá trị lý luận của nghệ thuật giễu nhại thể hiện ở nhiều khía cạnh. Nó bổ sung hệ thống lý luận về biện pháp nghệ thuật trong truyện ngắn Việt Nam. Nó cũng làm sáng tỏ mối quan hệ giữa văn học Việt Nam và văn học thế giới. Giá trị thực tiễn rất phong phú. Nghệ thuật giễu nhại phục vụ sáng tác, giúp nhà văn có thêm công cụ biểu đạt. Nó hỗ trợ giảng dạy văn học trong nhà trường phổ thông và đại học. Nó cũng phục vụ nghiên cứu phê bình văn học đương đại một cách hiệu quả.

4.2. Hướng phát triển nghệ thuật giễu nhại trong tương lai

Nghệ thuật giễu nhại trong truyện ngắn Việt Nam có triển vọng phát triển mạnh mẽ. Xu hướng hội nhập văn hóa tạo điều kiện cho sự giao thoa các yếu tố nghệ thuật. Các nhà văn trẻ tiếp tục khám phá và sáng tạo với nghệ thuật giễu nhại. Tuy nhiên, cần tránh lạm dụng dẫn đến tác phẩm thiếu chiều sâu. Giễu nhại cần gắn với trách nhiệm xã hội của nhà văn. Hướng nghiên cứu tiếp theo nên mở rộng sang các thể loại khác như tiểu thuyết, thơ. Cần so sánh sâu hơn với nghệ thuật giễu nhại trong văn học khu vực và thế giới.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Nghệ thuật giễu nhại trong truyện ngắn việt nam 2000 2015 luận án tiến sĩ văn học việt nam

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1. Tình hình nghiên cứu nghệ thuật giễu nhại trong văn học ở Việt Nam Nhại/Giễu nhại (parody/parodie) là hình thức nghệ thuật thể hiện phổ biến trong văn học thế giới từ thời cổ đại cho đến ngày nay, đặc biệt là ở phương Tây. Ở Việt Nam, giễu nhại, trào phúng, trào tiếu thể hiện rất sớm trong văn học dân gian và trong văn học trung đại, nhưng nở rộ và phát triển trong văn học hiện đại. Trong sáng tác, các nhà văn ý thức thể hiện hình thức nhại rất sâu sắc và độc đáo, nhưng trong nghiên cứu thì chưa được quan tâm đúng mức.

Những công trình nghiên cứu nghệ thuật giễu nhại trong văn học còn lẻ tẻ và chưa tương xứng với yêu cầu, tính chất và thành tựu về nghệ thuật giễu nhại trong sáng tác. Để phục vụ mục tiêu của luận án Nghệ thuật giễu nhại trong truyện ngắn Việt Nam 2000 - 2015, chúng tôi khái lược lịch sử vấn đề ở những nội dung có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến đề tài, nhằm chỉ ra những đóng góp của truyện ngắn Việt Nam trong quá trình hiện đại hóa và hội nhập với văn học thế giới mà các nhà nghiên cứu, phê bình và lý luận văn học đã minh định. Khái lược tình hình nghiên cứu nghệ thuật giễu nhại từ các tác phẩm văn học thế giới Trong văn học phương Tây, đặc biệt là vào thời Cổ đại đến Trung cổ và Phục hưng, hình thức trào tiếu và giễu nhại được quan tâm, xem như một phương thức nghệ thuật mới lạ, phản ánh hiện thực đời sống và cảm thức nhân văn của con người trước những bước ngoặt lớn của lịch sử. Từ thời Cổ đại Hy Lạp đến thời Phục hưng với Miguel de Cervantes, Francois Rabelais cho đến Fyodor Dostoievski, Mark Twain (thế kỷ XIX), Franz Kafka, Mikhail Bulgacov (thế kỷ XX)…, nền văn học châu Âu đã đạt được thành tựu to lớn, trong đó, có sự hiện hữu và đóng góp không nhỏ của nghệ thuật giễu nhại.

Ở đây, chúng tôi khái lược những công trình nghiên cứu có liên quan đến nghệ thuật giễu nhại từ các tác phẩm nổi tiếng thế giới của các nhà nghiên cứu nước ngoài được dịch sang Việt ngữ và những công trình nghiên cứu nghệ thuật giễu nhại của các nhà nghiên cứu Việt Nam về các tác giả, tác phẩm văn học thế giới. 6 Đầu tiên là ba công trình nghiên cứu đồ sộ của M. Bakhtin có liên quan đến nghệ thuật giễu nhại được chính thức ra mắt độc giả Việt Nam: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết [6], Những vấn đề thi pháp Dostoievski [7] và Sáng tác của Frăngxoa Rabơle và nền văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng [8]. Chúng tôi khái lược kết quả nghiên cứu của Bakhtin ở từng công trình như sau: Công trình thứ nhất: Lý luận và thi pháp tiểu thuyết.

Đây là công trình lý thuyết nổi tiếng về thể loại tiểu thuyết của Bakhtin, trong đó, chúng tôi đặc biệt chú ý đến tiểu luận “Tiếng cười Rabelais và văn hóa trào tiếu dân gian”. Tiểu luận này thực chất là phần Dẫn luận được trích từ công trình Sáng tác của Frăngxoa Rabơle và nền văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng với mục đích chủ yếu mà Bakhtin trình bày ở đây là đề cao nghệ thuật thể hiện tiếng cười và cảm quan giễu nhại mang tính dân gian của F. Khi đưa vào Lý luận và thi pháp tiểu thuyết, ông cấu trúc nó cùng những chương khác để thành một công trình nghiên cứu về lý luận và thi pháp thể loại tiểu thuyết hoàn chỉnh. Công trình thứ 2: Những vấn đề thi pháp Dostoievski.

Ở công trình này, chúng tôi chú ý đến chương IV với nội dung nghiên cứu “Những đặc điểm về thể loại và kết cấu - cốt truyện trong các tác phẩm của Dostoievski”. Sở dĩ chúng tôi chú ý chương này vì nó liên quan đến đề tài luận án, đặc biệt là ở phát hiện của Bakhtin, khi ông cho rằng bản chất thể loại trong sáng tác của Dostoievski phải được quay lui về tìm hiểu ở cội nguồn văn hóa lễ hội giả trang dân gian. Từ đó, ông cho rằng chất trào tiếu và giễu nhại này thể hiện rất đặc trưng và độc đáo mà chỉ nhà văn lỗi lạc này, nó mới trở thành tư duy nghệ thuật/cái nhìn nghệ thuật. Đây chính là sự phát hiện nhạy bén của một nhãn quan khoa học biệt tài Bakhtin, nâng lên thành lý luận thi pháp của Bakhtin.

Và về sau, người ta gọi là thi pháp học Bakhtin. Công trình thứ 3: Sáng tác của Frăngxoa Rabơle và nền văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng. Qua công trình này, Bakhtin đã phục hiện gần như trọn vẹn nền văn hóa dân gian châu Âu, mà nổi bật là nền văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng với những hình thức phong phú, độc đáo của nó, trong đó, tiếng cười và cảm quan giễu nhại mang tinh thần thời đại là nội dung xuyên suốt tác phẩm của Rabelais. Bakhtin đã tiếp nhận tác phẩm này với cảm quan và tư duy nghiên cứu hiện đại xuất phát từ hệ thống lý thuyết mà ông đã trừu xuất trong quá trình tiếp cận và giải mã sáng tác của F.

7 Ngoài ra, còn phải kể thêm công trình Nghệ thuật ngôn từ và văn hóa trào tiếu dân gian - Rabelais và Gogol (2010) cũng của M. Công trình này chính là nghiên cứu bổ sung và mở rộng về nghệ thuật trào tiếu và giễu nhại trong sáng tác của Rabelais và Gogol để khẳng định tính hiệu năng của hệ thống lý thuyết mà chính Bakhtin đã trừu xuất và ứng dụng thành công trong nghiên cứu và phê bình các tác phẩm, tác giả văn học lớn trên thế giới cho giới nghiên cứu về sau. Không nghiêng về khuôn khổ của văn hoá chính thống, khi nghiên cứu về Rabelais, Bakhtin cho rằng: “những nguyên tắc cơ bản trong sáng tác của nhà văn vĩ đại này được quyết định bởi nền văn hoá trào tiếu dân gian của quá khứ… Thực ra, sáng tác của Rabelais chỉ có thể thật sự hiểu được trong dòng chảy của văn hoá dân gian, nền văn hoá ấy trong mọi giai đoạn phát triển của mình luôn đối nghịch với văn hoá chính thống và đã xác lập nên một giác độ nhìn nhận đặc biệt về thế giới và những hình thức đặc biệt để phản ánh nó bằng hình tượng (…). Rabelais là người thừa kế và hoàn tất tiếng cười dân gian của hàng nghìn năm ấy.

Sáng tác của ông là chiếc chìa khóa không thể thay thế đối với toàn bộ nền văn hoá trào tiếu châu Âu trong những biểu hiện mạnh mẽ nhất, sâu sắc nhất và độc đáo nhất của nó” [9, tr. Còn với Gogol, Bakhtin quan tâm đến các yếu tố văn hoá trào tiếu dân gian trong sáng tác của nhà văn này theo hướng khác: “Chúng tôi sẽ không đề cập đến vấn đề ảnh hưởng trực tiếp và gián tiếp của Rabelais đến Gogol (qua Sterne và trường phái tự nhiên Pháp). Ở đây đối với chúng tôi chỉ quan trọng những đặc điểm nào trong sáng tác của Gogol mà chúng - không phụ thuộc vào Rabelais - được quyết định bởi mối liên hệ trực tiếp của Gogol với những hình thức hội hè dân gian trên quê hương thân thiết của ông” [9, tr. Bakhtin cho rằng “Đồ ăn, thức uống và sinh hoạt tính giao trong những truyện ngắn của Gogol đều mang tính chất hội hè, tính chất carnaval của lễ tiễn mùa đông” [9, tr.

Bakhtin còn nhấn mạnh thêm vai trò to lớn của sự cải trang, các trò lừa đủ loại cũng như những màn đánh đấm và hạ bệ. Và ông đi đến kết luận: “Tiếng cười của Gogol trong các truyện ngắn đó là tiếng cười hội hè dân gian thuần tuý. Nó nhị chức năng và duy vật một cách tự phát. Cái nền tảng dân gian đó đã được lưu giữ đến cùng trong tiếng cười Gogol, mặc dù có những biến đổi quan trọng về sau… Trong sáng tác của Gogol, chúng ta tìm thấy gần như tất cả các yếu tố của văn hoá hội hè dân gian.

Gogol có một cảm quan carnaval về thế giới, tuy trong phần lớn trường hợp nhuốm màu lãng mạn” [9, tr. Bàn về ngôn ngữ trào tiếu trong sáng tác của Gogol, Bakhtin chỉ ra rằng: “Ngôn từ trào tiếu ở Gogol được tổ chức sao cho mục đích của nó không phải là 8 việc chỉ ra đơn giản các hiện tượng tiêu cực riêng lẻ, mà là khai mở một bình diện đặc biệt của thế giới như một chỉnh thể” [9, tr. Bên cạnh các công trình nổi tiếng nói trên của M. Bakhtin được dịch sang tiếng Việt, còn có các công trình, tiểu luận, luận án của các nhà nghiên cứu và học giả, nghiên cứu sinh trong nước nghiên cứu về nghệ thuật giễu nhại từ các tác phẩm văn học nước ngoài như: Phạm Vĩnh Cư với bài tổng thuật, giới thiệu công trình Sáng tác của Frăngxoa Rabơle và nền văn hóa dân gian Trung cổ và Phục hưng; Trần Đình Sử với tiểu luận “Lý thuyết carnaval hóa của Bakhtin và tư duy tiểu thuyết hiện đại”; Đoàn Ánh Dương với tiểu luận “Về tiếng cười lưỡng trị của M.

Bakhtin”… Trong bài viết: “Lý thuyết Cácnavan hoá của M. Bakhtin và tư duy tiểu thuyết hiện đại”, Trần Đình Sử nêu rõ khái niệm carnaval và carnaval hóa: “Cácnavan (lễ hội dân gian, lễ hội hoá trang kiểu Cácnavan, do khó dịch chính xác mà người ta thường để nguyên) theo Bakhtin, không chỉ đơn giản là lễ hội, mà là cuộc sống thứ hai của con người do các yếu tố khôi hài của dân chúng tạo thành… Cácnavan thường diễn ra ở quảng trường, bãi chợ là những nơi không có trung tâm, không có quyền uy, mọi người đều có thể tham gia tự do với khát vọng dân chủ nguyên thuỷ. Các nghi thức và trò chơi trong lễ hội Cácnavan đóng vai trò rất quan trọng trong việc tạo nên cuộc sống thứ hai cho con người, chẳng hạn nghi thức tấn phong, hạ bệ, sự xúc tiếp suồng sã, sự báng bổ, các trò phỏng nhại, trò hề. đã thực sự tạo nên "cuộc sống thứ hai".

Nhưng đây chỉ là cuộc sống thứ hai phi quan phương bên rìa của cuộc sống thứ nhất thông thường” [95]. Trần Đình Sử còn nhận định tiếp: “Ý nghĩa tư tưởng của Bakhtin không nằm ở bản thân các lễ hội Cácnavan, mà ở cách lý giải của ông về Cácnavan như một hiện tượng văn hoá có ý nghĩa thế giới quan, và từ cơ sở đó mà tìm đến một cách lý giải mới về tiểu thuyết và ngôn từ tiểu thuyết mà ông gọi là hiện tượng "Cácnavan hoá" [95].

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ