Luận án Tiến sĩ: Quan hệ Hàn Quốc - Trung Quốc từ năm 1992 đến năm 2012 của Đoàn Minh Triết

Nghiên cứu chuyên sâu về quan hệ ngoại giao giữa Hàn Quốc và Trung Quốc giai đoạn 1992-2012, luận án Tiến sĩ phân tích sâu sắc lịch sử và tác động.

Chuyên ngành

Lịch sử Thế giới

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2021

187
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan quan hệ Hàn Quốc Trung Quốc từ 1992 đến 2012

Năm 1992 đánh dấu bước ngoặt lịch sử trong quan hệ Hàn Quốc - Trung Quốc. Hai nước chính thức bình thường hóa quan hệ ngoại giao sau nhiều thập kỷ đối đầu. Đây là kết quả tất yếu của bối cảnh quốc tế thay đổi sau Chiến tranh Lạnh. Trung Quốc cần thị trường và vốn đầu tư. Hàn Quốc cần mở rộng không gian địa chính trị. Hai nhu cầu gặp nhau tạo nền tảng cho mối quan hệ mới. Giai đoạn 1992-2012 chứng kiến tốc độ phát triển vượt bậc trên nhiều lĩnh vực. Thương mại song phương tăng từ vài tỷ USD lên hàng trăm tỷ USD. Hợp tác văn hóa, giáo dục mở rộng nhanh chóng. Làn sóng Hallyu thâm nhập sâu vào thị trường Trung Quốc. Luận án tiến sĩ của tác giả Đoàn Minh Triết, được thực hiện tại Trường Đại học Khoa học - Đại học Huế, là công trình khoa học hệ thống và toàn diện đầu tiên nghiên cứu chuyên sâu về giai đoạn hai mươi năm quan trọng này. Công trình phân tích đa chiều từ chính trị, an ninh đến kinh tế và văn hóa, cung cấp góc nhìn học thuật khách quan về mối quan hệ phức tạp giữa hai cường quốc Đông Á.

1.1. Bối cảnh lịch sử thiết lập quan hệ ngoại giao năm 1992

Sự sụp đổ của Liên Xô và kết thúc Chiến tranh Lạnh tạo ra cơ hội mới cho Hàn Quốc và Trung Quốc. Hàn Quốc theo đuổi chính sách Nordpolitik nhằm mở rộng quan hệ với các nước xã hội chủ nghĩa. Trung Quốc đẩy mạnh cải cách mở cửa, cần thu hút đầu tư nước ngoài. Hai nền kinh tế có tính bổ sung cao cho nhau. Vị trí địa lý gần kề tạo lợi thế tự nhiên cho hợp tác. Ngày 24 tháng 8 năm 1992, Hàn Quốc và Trung Quốc ký kết Tuyên bố chung thiết lập quan hệ ngoại giao, khép lại giai đoạn thù địch và mở ra kỷ nguyên hợp tác toàn diện giữa hai dân tộc vốn có lịch sử giao lưu lâu đời.

1.2. Phạm vi và ý nghĩa nghiên cứu của luận án tiến sĩ

Luận án tiến sĩ sử học do PGS.TS Nguyễn Văn Tận hướng dẫn tập trung nghiên cứu toàn diện quan hệ Hàn - Trung trong hai thập kỷ từ 1992 đến 2012. Đây là giai đoạn nền tảng định hình cấu trúc quan hệ song phương. Công trình lấp đầy khoảng trống học thuật trong nghiên cứu lịch sử thế giới tại Việt Nam. Nguồn tư liệu phong phú từ Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á, Thư viện Quốc gia và các học giả quốc tế được chọn lọc kỹ lưỡng. Kết quả nghiên cứu có giá trị tham chiếu cho hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam trong bối cảnh hội nhập khu vực Đông Á.

II. Phân tích các lĩnh vực hợp tác Hàn Quốc Trung Quốc

Quan hệ Hàn - Trung giai đoạn 1992-2012 phát triển mạnh trên bốn trụ cột chính. Thứ nhất là chính trị - ngoại giao. Hai nước nâng cấp quan hệ từ đối tác hợp tác lên đối tác hợp tác chiến lược vào năm 2008. Trao đổi cấp cao diễn ra thường xuyên. Phối hợp trong các diễn đàn đa phương như APEC, ASEM, ARF ngày càng chặt chẽ. Thứ hai là kinh tế - thương mại. Kim ngạch thương mại song phương tăng trưởng bình quân trên 20% mỗi năm. Trung Quốc trở thành đối tác thương mại lớn nhất của Hàn Quốc. Đầu tư trực tiếp từ Hàn Quốc vào Trung Quốc đạt hàng chục tỷ USD. Thứ ba là an ninh - quốc phòng. Vấn đề hạt nhân Triều Tiên là tâm điểm hợp tác an ninh. Hai nước phối hợp trong đàm phán sáu bên. Tuy nhiên, căng thẳng liên quan ADIZ và tranh chấp lãnh thổ vẫn là thách thức. Thứ tư là văn hóa - giáo dục. Làn sóng Hallyu bùng nổ tại Trung Quốc. Số lưu học sinh trao đổi tăng mạnh. Hàn Quốc khai thác hiệu quả sức mạnh mềm văn hóa để thâm nhập thị trường rộng lớn này.

2.1. Quan hệ kinh tế thương mại và đầu tư song phương

Kim ngạch thương mại Hàn - Trung năm 1992 chỉ đạt khoảng 6 tỷ USD. Đến năm 2012, con số này vượt 215 tỷ USD, tăng hơn 35 lần. Trung Quốc chiếm trên 20% tổng kim ngạch xuất khẩu của Hàn Quốc. Các tập đoàn lớn như Samsung, LG, Hyundai đầu tư quy mô lớn vào thị trường Trung Quốc. Khu công nghiệp chế xuất mọc lên tại nhiều tỉnh thành ven biển Trung Quốc. Đàm phán Hiệp định thương mại tự do Hàn - Trung được khởi động. Mối quan hệ kinh tế ngày càng gắn kết sâu sắc, tạo nền tảng vững chắc cho toàn bộ quan hệ song phương trong giai đoạn này.

2.2. Hợp tác văn hóa và ảnh hưởng của làn sóng Hallyu

Hallyu - làn sóng văn hóa Hàn Quốc - xâm nhập mạnh mẽ vào Trung Quốc từ cuối thập niên 1990. Phim truyền hình, âm nhạc K-pop, thời trang và ẩm thực Hàn Quốc trở nên phổ biến rộng rãi. Hàn Quốc chủ động sử dụng sức mạnh mềm văn hóa như công cụ ngoại giao. Số du học sinh Trung Quốc tại Hàn Quốc tăng đột biến, đạt hàng chục nghìn người. Các Trung tâm Văn hóa Hàn Quốc được mở tại nhiều thành phố lớn Trung Quốc. Giao lưu học thuật và nghiên cứu ngôn ngữ phát triển mạnh mẽ, góp phần xây dựng nền tảng hiểu biết lẫn nhau giữa hai dân tộc.

III. Các nhân tố tác động và thách thức trong quan hệ Hàn Trung

Nhiều nhân tố phức tạp chi phối quan hệ Hàn Quốc - Trung Quốc giai đoạn này. Nhân tố quan trọng nhất là vị trí địa chiến lược của bán đảo Triều Tiên. Hàn Quốc nằm giữa các cường quốc Trung Quốc, Nhật Bản, Nga và Mỹ. Đây vừa là lợi thế vừa là áp lực trong hoạch định chính sách. Liên minh Hàn - Mỹ tạo ra mâu thuẫn cấu trúc với quan hệ đối tác Hàn - Trung. Trung Quốc luôn xem sự hiện diện quân sự Mỹ tại Hàn Quốc là mối đe dọa tiềm ẩn. Hàn Quốc phải cân bằng tinh tế giữa hai cường quốc. Vấn đề hạt nhân Bắc Triều Tiên tạo ra cả hợp tác lẫn mâu thuẫn. Trung Quốc là đồng minh truyền thống của Bình Nhưỡng. Hàn Quốc cần Bắc Kinh gây áp lực lên Bình Nhưỡng. Mục tiêu hòa bình thống nhất bán đảo Triều Tiên buộc Seoul phải duy trì quan hệ tốt với Bắc Kinh. Tranh chấp lịch sử - văn hóa về nguồn gốc một số phong tục cũng tạo ra căng thẳng không nhỏ trong quan hệ nhân dân hai nước.

3.1. Thách thức từ vấn đề bán đảo Triều Tiên và an ninh khu vực

Vấn đề hạt nhân Bắc Triều Tiên là phép thử lớn nhất cho quan hệ Hàn - Trung. Hàn Quốc muốn phi hạt nhân hóa hoàn toàn bán đảo Triều Tiên. Trung Quốc ưu tiên ổn định hơn áp lực tối đa lên Bình Nhưỡng. Hai lập trường này tạo ra xung đột lợi ích dai dẳng. Đàm phán sáu bên từng là cơ chế hợp tác nhưng thường xuyên bế tắc. Các vụ thử hạt nhân và tên lửa của Triều Tiên năm 2006 và 2009 gây căng thẳng nghiêm trọng. Seoul và Bắc Kinh buộc phải phối hợp ứng phó nhưng vẫn giữ quan điểm khác biệt về biện pháp xử lý Bình Nhưỡng trong suốt giai đoạn nghiên cứu.

3.2. Cân bằng chiến lược giữa liên minh Hàn Mỹ và đối tác Hàn Trung

Hàn Quốc duy trì liên minh quân sự chặt chẽ với Mỹ từ sau Chiến tranh Triều Tiên. Khoảng 28.500 lính Mỹ đồn trú thường trực trên lãnh thổ Hàn Quốc. Trung Quốc xem đây là mối đe dọa địa chiến lược. Hàn Quốc vừa cần bảo đảm an ninh từ Mỹ vừa cần thị trường và ổn định từ Trung Quốc. Chính sách ngoại giao của các tổng thống Hàn Quốc giai đoạn này thể hiện nỗ lực cân bằng khéo léo. Khi quan hệ Mỹ - Trung căng thẳng, Seoul buộc phải lựa chọn thận trọng hơn. Đây là bài toán địa chính trị chưa có lời giải triệt để trong suốt hai thập kỷ 1992-2012.

IV. Kết quả đặc điểm nổi bật và bài học từ quan hệ Hàn Trung

Hai mươi năm quan hệ Hàn - Trung từ 1992 đến 2012 để lại nhiều bài học quý giá. Về thành tựu, hai nước xây dựng mối quan hệ đối tác chiến lược toàn diện trong thời gian kỷ lục. Thương mại tăng trưởng vượt bậc mang lại lợi ích kinh tế to lớn cho cả hai phía. Hợp tác văn hóa - giáo dục tạo nền tảng hiểu biết lẫn nhau sâu sắc hơn. Về đặc điểm nổi bật, quan hệ Hàn - Trung phát triển không đồng đều giữa các lĩnh vực. Kinh tế dẫn đầu, chính trị theo sau, an ninh còn nhiều bất đồng. Tốc độ phát triển quan hệ nhanh hơn mức độ tin cậy chiến lược được xây dựng. Về hạn chế, tranh chấp ngư nghiệp, vấn đề lịch sử và bất đồng về Triều Tiên là những điểm nóng thường xuyên. Sự phụ thuộc kinh tế ngày càng sâu của Hàn Quốc vào Trung Quốc tạo ra rủi ro cấu trúc. Kinh nghiệm từ mối quan hệ này có giá trị tham chiếu quan trọng cho Việt Nam trong xây dựng quan hệ đối ngoại với các cường quốc trong khu vực.

4.1. Thành tựu và đóng góp của quan hệ song phương vào ổn định khu vực

Quan hệ Hàn - Trung phát triển mạnh mẽ góp phần quan trọng duy trì ổn định Đông Á. Hợp tác kinh tế tạo động lực tăng trưởng cho cả khu vực. Phối hợp trong các cơ chế đa phương như APEC, ASEM nâng cao vai trò của cả hai nước. Hàn Quốc xuất khẩu văn hóa thành công, nâng tầm ảnh hưởng mềm. Trung Quốc có thêm đối tác chiến lược tin cậy tại Đông Bắc Á. Hai nước cùng thúc đẩy đàm phán CJKFTA - Hiệp định thương mại tự do ba bên Trung - Nhật - Hàn. Mối quan hệ này chứng minh rằng các nước có thể vượt qua di sản lịch sử phức tạp để xây dựng hợp tác thiết thực dựa trên lợi ích chung.

4.2. Bài học kinh nghiệm và ý nghĩa cho chính sách đối ngoại Việt Nam

Mô hình quan hệ Hàn - Trung cung cấp bài học thực tiễn quý giá. Kinh tế là động lực đầu kéo hiệu quả nhất trong quan hệ song phương. Sức mạnh mềm văn hóa là công cụ ngoại giao chi phí thấp nhưng hiệu quả cao. Cân bằng chiến lược giữa các cường quốc đòi hỏi sự linh hoạt và nguyên tắc đồng thời. Việt Nam đứng trước bài toán tương tự trong quan hệ với Trung Quốc và các đối tác lớn. Kinh nghiệm của Hàn Quốc về xử lý vấn đề lịch sử, tranh chấp ngư nghiệp và cân bằng liên minh đều có giá trị tham khảo trực tiếp cho hoạch định chính sách đối ngoại của Việt Nam trong giai đoạn hiện nay.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Luận án tiến sĩ quan hệ hàn quốc trung quốc từ năm 1992 đến năm 2012 1

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU Có thể nói rằng, tình hình chính trị, kinh tế, những vấn đề lịch sử, văn hóa, Hàn Quốc, Trung Quốc cũng như quan hệ quốc tế của hai quốc gia trên, đặc biệt là từ sau Chiến tranh Triều Tiên (1950 - 1953) đến nay luôn là đề tài thu hút được nhiều sự quan tâm của các nhà nghiên cứu trong nước và quốc tế. Liên quan đến quan hệ Hàn Quốc – Trung Quốc, trên cơ sở tìm tòi, khảo cứu các công trình nghiên cứu có liên quan, chúng tôi xin cung cấp bức tranh tổng quan tình hình nghiên cứu như sau: 1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước Nghiên cứu về các yếu tố liên quan tới Hàn Quốc, Trung Quốc ở Việt Nam vốn không phải là một đề tài quá mới. Tuy nhiên việc nghiên cứu quan hệ Hàn Quốc – Trung Quốc lại là một vấn đề chưa được quan tâm nhiều của giới học giả và nghiên cứu Việt Nam.

Đa số các công trình, ấn phẩm ở Việt Nam hiện nay chỉ đề cập đến quan hệ Hàn Quốc – Trung Quốc trong một phần của nghiên cứu, hoặc xét trên một hoặc vài lĩnh vực giữa quan hệ hai nước. Tuy nhiên, khi đánh giá về các công trình nghiên cứu về quan hệ Hàn Quốc – Trung Quốc ở Việt Nam chúng ta có thể chia thành các nhóm công trình theo phân mục sau đây: 1. Các công trình nghiên cứu chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của Hàn Quốc và Trung Quốc 1. Các công trình nghiên cứu về quan hệ quốc tế khu vực Đông Bắc Á có đề cập đến Hàn Quốc và Trung Quốc Các chính sách ngoại giao của Hàn Quốc kể từ thời kỳ “Ngoại giao phương Bắc”, “Ngoại giao Ánh Dương” v.v… của Hàn Quốc kể từ năm 1990 đến nay đã đem lại cho Hàn Quốc những thành công trong quan hệ ngoại giao với các quốc gia khác nhau trên thế giới, đặc biệt là với các nước thuộc Thế giới thứ ba.

Chính vì vậy, nghiên cứu về chính sách, đường lối ngoại giao của Hàn Quốc đều được các nhà nghiên cứu ở Việt Nam tìm hiểu và phân tích một cách cặn kẽ. Tiêu biểu phải kể đến tác phẩm “Hàn Quốc với khu vực Đông Á sau Chiến tranh lạnh và quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc” do Nguyễn Hoàng Giáp chủ biên, xuất bản bởi Nxb Chính trị Quốc gia 6 vào năm 2009. Công trình này đã khái quát một cách cơ bản các chính sách đối ngoại của Hàn Quốc đối với các quốc gia trong khu vực như Trug Quốc, Nhật Bản, CHDCND Triều Tiên và Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (ASEAN). Tác phẩm này cho chúng ta thấy được những yếu tố khách quan chung về sự thay đổi chính sách ngoại giao của Hàn Quốc trong giai đoạn vừa qua dựa trên các yếu tố chính đó là: Sự phân chia lại trật tự thế giới mới sau Chiến tranh lạnh; sự thay đổi về chính sách kinh tế của Hàn Quốc trong giai đoạn mới; vấn đề Triều Tiên trong cách tiếp cận quan hệ ngoại giao của Hàn Quốc với các nước lớn và các quốc gia trong khu vực.

Từ đó cho chúng ta thấy rõ vai trò của các chính sách ngoại giao của Hàn Quốc đã góp phần giúp khu vực trở thành một môi trường thuận lợi cho việc phát triển kinh tế, đồng thời qua đó đảm bảo giải pháp hòa bình cho vấn đề an ninh - chính trị của bán đảo Triều Tiên. Ngoài ra, tác giả Nguyển Hoàng Giáp còn có một số tác phẩm khác như “Một số vấn đề chính trị quốc tế trong giai đoạn hiện nay”, Nxb Chính trị Quốc gia - Sự thật, Hà Nội năm 2013, đã cho chúng ta nhìn nhận lại cục diện khu vực Đông Bắc Á nói riêng và Hàn Quốc - Trung Quốc trong suốt giai đoạn từ sau 1992 đến nay. Có thể nói tác phẩm dù không đề cập một cách trực tiếp về vấn đề Hàn Quốc và Trung Quốc nhưng cũng đã giúp cho người đọc có một cách nhìn cơ bản về vấn đề chính trị giữa các nước trong khu vực. Tác phẩm đã phân tích và đưa ra các cách nhìn khái lược về mối quan hệ giữa các quốc gia trong khu vực và các nước lớn với khu vực châu Á - Thái Bình Dương.

Giáo trình “Quan hệ quốc tế ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương” của Phạm Quang Minh (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 2015) là một nghiên cứu cơ bản về cục diện khu vực kể từ sau Chiến tranh lạnh đến nay cũng như các chính sách đối ngoại của các cường quốc trong hoặc liên quan đến khu vực như Mỹ, Trung Quốc, Nga, Nhật Bản… Mặc dù trong sách không đề cập đến chính sách đối ngoại của Hàn Quốc, nhưng tác phẩm đã dành ra một chương để khái quát về tầm nhìn đối ngoại của Trung Quốc với châu Á - Thái Bình Dương và một chương riêng để nói về an ninh khu vực châu Á - Thái Bình Dương với những điểm nóng trong khu vực cũng như như thách thức, cơ hội đối với hợp tác khu vực. Thông qua cuốn sách, độc giả đã có một cái nhìn tổng thể, khái quát về bối cảnh và các mối quan hệ đa dạng, đa chiều của khu vực giai đoạn trước 2015. Ngoài ra, tác giả Trần Quang Minh cùng với Nguyễn Xuân Thắng còn có một tác phẩm đáng lưu ý khác đó là “Chiến lược, chính sách của các 7 quốc gia và vùng lãnh thổ ở Đông Bắc Á về một số vấn đề nổi bật của khu vực giai đoạn 2011 - 2020” (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2013) đem đến cho ta một góc nhìn mới và dự đoán và kiến nghị về vấn đề an ninh khu vực trong giai đoạn từ 2011- 2020. Có thể nói dù nghiên cứu này không liên quan nhiều đến nội dung luận án, nhưng thông qua tác phẩm đã giúp tác giả hiểu được các vấn đề và hướng giải quyết các vấn đề trong khu vực, đặc biệt là giữa Trung Quốc và vấn đề quan hệ Liên Triều.

Các công trình nghiên cứu về chính sách đối ngoại và quan hệ quốc tế của Hàn Quốc và Trung Quốc Ngoài các tác phẩm kể trên, các tác phẩm liên quan đến các vấn đề mang tính tổng quan về quan hệ song phương Hàn Quốc - Trung Quốc ở Việt Nam còn có nhiều tác phẩm tiêu biểu khác như “Hàn Quốc trước thềm thế kỉ XXI” do Dương Phú Hiệp và Ngô Xuân Bình chủ biên (Nxb Thống kê, Hà Nội,1999) ; “Cục diện Châu Á - Thái Bình Dương” do Vũ Văn Hà và Dương Phú Hiệp chủ biên (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006); “Chính trị khu vực Đông Bắc Á từ sau Chiến tranh lạnh” do Trần Anh Phương chủ biên (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2007); Hoàng Văn Hiển với “Quá trình phát triển kinh tế - xã hội của Hàn Quốc (1961 – 1993) và kinh nghiệm đối với Việt Nam” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2008); ; Yahuda M. với “Các vấn đề chính trị quốc tế ở châu Á - Thái Bình Dương”(Nxb Văn học, Hà Nội 2006); Nguyễn Trường với “Quan hệ quốc tế trong kỷ nguyên Á châu - Thái Bình Dương” (Nxb Tri thức, Hà Nội, 2013)… và một số bài báo được in trên các tạp chí chuyên ngành như “Nhận diện trật tự quyền lực ở Đông Á hiện nay” của Nguyễn Hoàng Giáp (Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 4(110), 2010); “Thách thức an ninh phi truyền thống tại Đông Bắc Á trong thập niên đầu thế kỉ XXI và dự báo trong 10 năm tới” của Vũ Thị Mai ( Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 9(139), 2012); “Quan hệ Trung - Hàn kể từ sau khi bình thường hóa” của Hoàng Minh Hằng ( Nghiên cứu Nhật Bản và Đông Bắc Á, số 5 (59), 2005);”Liên kết Đông Á: triển vọng và thách thức chủ yếu” Trần Quang Minh ( Nghiên cứu Đông Bắc Á, số 9 (69),2006); các ấn bản “Nghiên cứu Đông Bắc Á năm 2015””Nghiên cứu Đông Bắc Á 2016” của Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam, Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á được in bởi Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội; … Thông qua các tác phẩm và bài báo trên các tạp chí chuyên ngành kể trên đã phần nào khái quát hóa được về những vấn đề chính trị, an ninh giữa Hàn Quốc - Trung Quốc trước, trong và sau giai đoạn nghiên cứu của luận án. 8 Một số công trình tiêu biểu khác ít nhiều cũng có liên quan đến luận án, chủ yếu viết về sự trỗi dậy mạnh mẽ và những toan tính chiến lược của chủ thể Trung Quốc và về vấn đề bán đảo Triều Tiên như :“Báo cáo phát triển kinh tế và cải cách thể chế phát triển Trung Quốc - 30 năm cải cách mở cửa của Trung Quốc (1978 - 2008)” (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2010); “Chiến lược và chính sách ngoại giao của Trung Quốc” do Sử Thị Long và Kim Uy biên soạn (được dịch bởi Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2013); “Về một số vấn đề sau thống nhất của bán đảo Triều Tiên” do Ngô Xuân Bình, Phạm Quý Long, Trần Quang Minh chủ biên ( Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội ); với “Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa ngoại giao trong bối cảnh quốc tế mới” của Lê Văn Mỹ (Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, )…cũng là một nguồn tư liệu tham khảo tin cậy. Các công trình nghiên cứu quan hệ Hàn Quốc – Trung Quốc Việc lựa chọn chủ thể quốc gia chính trong mối quan hệ song phương sẽ giúp các nhà nghiên cứu đưa ra được những góc nhìn khác nhau về cùng một vấn đề.

Điều đó làm cho việc nghiên cứu quan hệ Hàn Quốc – Trung Quốc thêm nhiều hấp lực và thú vị. Trước hết là các công trình nghiên cứu tổng quát về chính sách đối ngoại của Hàn Quốc cũng rất được chú trọng ở Việt Nam, có thể kể ra một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu sau: “Quan hệ Việt Nam - Hàn Quốc trong bối cảnh quốc tế mới” do Ngô Xuân Bình chủ biên (Nxb Từ điển Bách khoa, Hà Nội, 2012), cũng đã dành một phân lượng không nhỏ để nói về chính sách của Hàn Quốc với các quốc gia XHCN trong khu vực từ sau Chiến tranh lạnh đến nay. Ở khía cạnh chính trị, có thể kể đến công trình “Lịch sử chính trị hiện đại Hàn Quốc” do Chung Il Sun, Nguyễn Thị Thắm và Đỗ Hùng Mạnh biên soạn (Nxb Imagine Books, 2013), đã giúp cho độc giả những trải nghiệm lịch sử của Hàn Quốc, sự tương đồng giữa người Hàn Quốc và người châu Á, trong đó có người Trung Quốc - những yếu tố quan trọng giúp cho các quốc gia châu Á tìm kiếm được giải pháp cùng tồn tại bên nhau trong thế giới ngày nay.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ