Chương 1: TIEN DE LÝ THUYET VA TIEN DE THUC TIEN 1. Tién dé ly thuyét 1. Hiện tượng giao thoa thể loại trong văn học e Cơ sở của hiện tượng giao thoa thể loại: Thể loại văn học được hiểu là một hiện tượng loại hình của sáng tác và giao tiếp văn học, hình thành trên cơ sở sự lặp lại có quy luật của các yếu tố tác phẩm. Trong giáo trình Ly ludn văn học (Phương Luu chủ biên), Trần Đình Sử khăng định: “Thể loại thể hiện một giới hạn tiếp xúc với đời sống, một cách tiếp cận, một góc nhìn, một trưòng quan sát, một quan niệm đời sống, đồng thời cũng là nguyên tắc xây dựng thé giới nghệ thuật” [34].
Nhiều nhà nghiên cứu cũng thống nhất về khái niệm thể loại như một hình thức chỉnh thể có tính quy luật của loại hình. Sự phân loại văn học là bước đầu tiên để nhận thức các qui luật thể loại. Khi phân chia thé loại (hay thé tai) tác phẩm văn học, người ta thường căn cứ vào ba tiêu chí chủ yếu: 7, t6 chất thẩm mĩ chủ đạo; 2, giọng điệu; 3, dung lượng và cau trúc chung của tác phẩm [54]. Một tong hòa các tiêu chí như vậy làm nên “nòng cốt” (hay mô hình) thé loại.
Các nhà lý luận bậc thầy từ Aristotle cho đến Boileau đều xuất phát từ ba phương thức phản ánh hiện thực mà phân chia toàn bộ tác pham van hoc thanh ba loai: Tu su, trữ tinh, kịch. Trong quá trình phát triển của đời sống văn hoc nói chung va đời sống cụ thể của văn học Việt Nam nói riêng đã sản sinh ra các “thể”, các “tiêu loại” phong phú mà những cách phân loại trước đó tỏ ra bat cập, thiếu khả năng bao quát. Trong công trình Ly /uận văn học, Trần Dinh Sử đã khắc phục những nhược điểm trên bằng cách chia một cách qui ước thành năm loại. Ngoài ba loại theo cách “chia ba”, bé sung vào hai loại mới là: Ký và văn chính luận.
Đó là nâc thang đâu tiên dé tiên đên việc phân 15 chia thể hoặc thê loại tác phẩm. Các nhà nghiên cứu thống nhất chia loại ra các “thé” và xem “thể” như là một thé loại. Yếu t6 6n định, truyền thống cho ta những tiêu chí để phân biệt cái cốt lõi bất biến của từng loại thể: Tác phẩm trữ tình khác tác phẩm tự sự, tiểu thuyết khác truyện ngắn,. Đó là cơ sở đầu tiên của van đề giao thoa.
Trên cơ sở tiếp cận van đề thê loại như trên, dé thong nhất trong cách dùng thuật ngữ, việc gọi tên chính xác và logic các hiện tượng / kiêu / loại / cấp độ giao thoa, chúng tôi nêu lên ở đây một số giới thuyết cụ thé. Luận văn chọn cách phân chia thể loại thành hai cấp độ. Trên bình điện phương thức phan ánh, luân văn sử dụng khái niệm loai/ loại hình. Trên bình diện hình thái tác phẩm, luận văn sử dụng khái niệm loai/ thể; trong đó, khái niệm “thé loại” được dùng phổ biến trong nhiều trường hợp, khái niệm “thể” được dùng trong những trường hợp đề cập đến những tiểu loại cụ thể.
Rõ ràng, thé loại có tính “nòng cốt”, vận động theo quy luật nhưng điều chúng ta lưu tâm hơn là “Bản chất của sáng tạo nghệ thuật là tính độc đáo không lặp lại. Sự vận động cuộc sống cũng luôn luôn sản sinh và làm biến động các giới hạn phản ánh, đổi mới các kênh giao tiếp và làm cho chúng tác động vào nhau, đan bén vào nhau trong các tác phẩm nghệ thuật độc đáo” [34]. Trần Đình Sử khăng định sự phân chia thê loại rõ ràng là “van dé có tính thứ hai”, “vấn dé có tính thứ nhất” vẫn là hình thức tồn tại phong phú và độc đáo của chỉnh thé tác pham: “nghệ sĩ lớn thường tiếp thu các truyền thống thể loại khác nhau, tạo ra các hình thức thể loại mới ”. Nguyễn Thành Thi cũng nói đến cái “nhìn sang”, sự hút hương nhụy một các đầy khôn ngoan trong tính chất của giao thoa thê loại.
Do vậy mà, muốn nhận thức đặc điểm của một thể loại có giá tri, người ta vừa phải có tri thức về các quy luật lặp lại của các thể loại, lại vừa phải biết nhận ra tính độc đáo trong sự vận động sáng tạo thê loại của tác giả. Có thê nói, thể loại 16 vừa có các yếu tố 6n định, truyền thống: lại vừa có các yếu tố vận động, đồi mới do sự phát triển văn học và tài năng sáng tạo của nhà văn. Tính hai mặt của một vấn đề nằm sâu trong bản chất thê loại chính là xuất phát điểm của vẫn đề tương tác. Thực tế đời sông văn học cho thấy mỗi một “nòng cốt thể loại” tồn tại như những mô chuẩn nghệ thuật ít nhiều mang tính quy ước, chỉ có ý nghĩa tương đối, và luôn có khả năng biến đổi.
Vì vậy, nhà văn khi sáng tác một thé loại nào đó, một mặt luôn tôn trọng, tuân thủ những mô chuẩn nghệ thuật quy ước, mặt khác - ít hoặc nhiều luôn có nhu cầu thoát bỏ khỏi những mô chuẩn quy ước ấy, bằng cách “nhìn sang” những thé loại xung quanh, rút tia lay tinh hoa của chúng, tổng hợp khinh nghiệm của hai hay nhiều thể loại, tạo ra những tác phẩm “lệch chuẩn”. Nếu nhà văn thành công, anh ta sẽ có những tác phẩm hay hơn, mới hơn; nếu chưa thành công thì những thử nghiệm như vậy ít ra cũng là một gợi ý, một sự chuẩn bị cho bước chuyên của những tác phẩm sau này. Chăng hạn, đúc kết từ chính thực tế sáng tác của mình, nhà văn Nguyễn Kiên cho răng, truyện ngắn trong khi phát triển, đã “nhìn sang” tiểu thuyết, bởi: “.Truyện ngắn, trong suốt quá trình phát triển, luôn luôn đứng trước một thách thức: Phải làm sao sức chứa và sức nặng vượt thoát ra ngoài cdi khuôn khổ nhỏ bé mà nghệ thuật khuôn nó vào. Lé dĩ nhiên truyện ngắn phải tự tìm tòi, dong thời nó cũng nhìn sang tiểu thuyết, được tiểu thuyết kích thích và dan dan nảy nở một loại truyện ngắn tôi tạm gọi là truyện ngắn - triết lí”.
Nhiều nha văn, nhà nghiên cứu văn học cũng cho rằng một thể loại, trong quá trình hình thành, phát triển có thé tong hợp vào nó đặc điểm hay ưu thé của một vài thể, loại khác, chăng hạn: “Kí la sự hợp nhất của truyện và nghiên cứu” và trong kí, “vừa có những yếu tổ của truyện, vừa có sự tham gia trực tiếp của tư duy nghiên cứu”, hoặc: “Người viết tiểu thuyết có thé vận 17 dụng nhiễu phương thức: tự sự, trữ tình, kịch. ở một khía cạnh nào đó, truyện ngắn gân với thơ. Ở một khía cạnh khác, truyện ngắn gan với kịch. Cho nên, việc thoát bỏ mô hình thể loại, mang thêm vào tác phẩm những yếu tố của thể loại khác sẽ góp phan điều chỉnh mô hình, nắn lại nòng cốt thé loại của tác phẩm, tránh được sự xơ cứng, thúc đây sự vận động, phát triển của các thể loại văn học.
Một cơ sở nữa của vấn đề giao thoa thể loại, đó là bối cảnh thời đại. Mỗi nền văn học, qua những thời đại khác nhau hình thành hệ thống thể loại khác nhau và hệ thống đó cũng biến đổi. Thé loại vừa là “cdi tri nhớ siêu cả nhân của nhân loại” nhưng đồng thời lại luôn được tái sinh, đôi mới trong từng giai đoạn phát triển văn học, trong từng thé loại, trong từng tác phẩm cụ thé, cá biệt. Tên gọi thé loại về nguyên tắc chỉ có một nhưng đời sống thé loại thì phong phú, sinh động vô cùng.
“Mỗi giai đoạn,mỗi thời kỳ văn học là một chỉnh thể thẩm mỹ thông nhất trong đó có sự liên kết và tác động lần nhau giữa các thể loại” [34]. Đặc điểm văn hóa - xã hội, thị hiếu thâm mỹ, trình độ nhận thức của mỗi thời đại thay đổi sẽ làm thay đổi hệ thống thể loại và hệ qua là, thay đổi quan hệ giao thoa giữa các thé loại trong chỉnh thê ấy. Hiện tượng các thể loại “oan” nhau, “nhin sang” nhau, “hop nhat” vào nhau, hay việc nhà văn vận dung nhiều phương thức trong khi sáng tác một tác pham, có thé gọi là giao thoa (hay tương tác) thé loại. Hiểu một cach bao quát hơn, khái niệm giao thoa thể loại là sự thâm nhập, tác động, ảnh hưởng lẫn nhau giữa hai hay nhiều thể loại của một hoặc nhiều hệ thống thể loại khác nhau nhằm tạo nên sự vận động và phát triển của cấu trúc thé loại văn học.
e Những biểu hiện của hiện tượng giao thoa thể loại: Giao thoa thể loại là sự thé hiện tập trung những nỗ lực sáng tạo và đổi mới của văn học. Do vậy, đây là hiện tượng hết sức sinh động, đa 18 chiều. Sự giao thoa không chỉ diễn ra trên chiều đồng đại - khép kín trong phạm vi mỗi giai đoạn, mỗi thời kì văn học; mà còn diễn ra trên chiều lịch đại với những dích dắc, quanh co, với những vòng xoáy trôn ốc phức tạp. Xét về cấp độ, sự giao thoa thể loại cũng diễn ra trên nhiều cấp độ: loại/loại, thé/loai, thé/thé, yếu té/yéu tố,.
Giao thoa giữa loại với loại, loại với thể tạo ra những thể loại trung gian, lưỡng hợp, mang đắc điểm “kép” của cả hai phương thức phản ánh đời sống, hai hình thức kĩ thuật, chất liệu phản ánh đời sống vốn rất khác biệt nhau. Vi dụ: Giao thoa giữa loại trữ tình và loại kịch tạo nên kịch tho; tương tác giữa loại tự sự với loại trữ tình tạo nên truyện thơ (hay thơ - tiêu thuyết, như thé nghiệm của Tran Dần vào đầu những năm 60 của thé ky XX); giao thoa giữa thể truyện ngắn và loại trữ tinh tạo nên loại hình truyện ngắn đậm chất trữ tình (như những truyện ngắn - trữ tình hóa của Thạch Lam, Hồ Dzénh, Thanh Tịnh,. ); giao thoa giữa thể truyện ngắn với loại kịch tạo nên loại hình truyện ngắn giàu kịch tính (như những truyện ngắn - kịch hóa của Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng,. Giao thoa giữa thể với thể cũng tạo ra những thể loại trung gian, tổng hợp mang đặc điểm “kép” của hai nòng cốt hay mô hình thé loại.
Ví dụ: Tương tác giữa thể truyện ngắn với thể tiểu thuyết tạo nên truyện ngắn - tiêu thuyết hóa, truyện ngắn viết dài hoặc tiểu thuyết viết ngắn; giao thoa giữa truyện ngăn với các thể văn học “ngắn”, cực “ngắn” (chỉ gồm 56 chữ, 28 chữ, 20 chữ,. như thơ thất ngôn bát cú, thất ngôn tứ tuyệt, lục ngôn tứ tuyệt, ngũ ngôn tứ tuyệt,.) tạo nên những thê loại “mi-ni” (truyện ngắn “mi-ni”: “truyện cực ngắn” một vài trăm chữ, hay “truyện rất ngắn” chừng trên dưới một ngàn chữ,.