CHƯƠNG 1: NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG NHÂN VẬT Có thé thay từ đầu thế ki XX đến nay người ta đã sáng tạo, đề xuất và giải quyết rất nhiều vấn đề then chốt của lí luận văn học hiện đại mà những thế kỉ trước chưa được làm sang tỏ. Đó là vấn đề hoạt động văn học, cau trúc tác phẩm, hệ thống chủ thé, cách thức tén tại, phương diện tâm lí, hệ thống kí hiệu, bản chất giao tiếp, tính chat văn hóa, hoạt động tiếp nhận. Trong các van dé đó, lí thuyết tự sự ngày càng được quan tâm phổ biến. Từ chủ nghĩa hình thức Nga, ngôn ngữ học Saussure, trường phái Praha, trường phái Tân Aristote, triết học phân tích, kí hiệu học, hậu cấu trúc chủ nghĩa.
tất cả đều quan tâm tới vấn đề trần thuật trong tiêu thuyết. Bởi vì lí thuyết tự sự ngày nay đã cung cấp một bộ công cụ cơ bản nhất, sắc bén nhất giúp cho người ta có thé đi sâu vào các lĩnh vực nghiên cứu điện ảnh, giao tiếp, phương tiện truyền thông, nghiên cứu văn hóa. Lí thuyết tự sự có thể coi như một bộ phận không thê thiếu của hành trang nghiên cứu văn học hôm nay, và nói theo ngôn ngữ của Thomas Kuhn, thì đó là một bộ phận cầu thành của hệ hình (paradigm) lí luận hiện đại. Tên gọi Tw sự học - Narratology, Narratologie, là do nhà nghiên cứu Pháp gốc Bungari T.Todorov dé xuất năm 1969, từ đó, lí luận tự sự đã thay thé cho lí luận về tiểu thuyết và trở thành một van đề chủ yếu của nghiên cứu văn học.
Như vậy, Tự sự học là một ngành nghiên cứu được hình thành từ những năm 60-70 của thế kỷ XX ở Pháp nhưng đã nhanh chóng trở thành một trong những lĩnh vực học thuật được phổ biến quan tâm trên thé giới. Vào những năm 80 của thé ky XX, tự sự học thực sự trở thành trào lưu và trở nên thịnh hành ở Mỹ - tạo nên không gian lý tưởng cho đối thoại và hòa nhập giữa truyền thống phê bình Mỹ và lí luận văn học Châu Âu. Nó trở thành một bộ môn nghiên cứu liên ngành, có tính quốc tế, có vị trí quan trọng thậm chí là một ngành văn hóa, bởi vì các hình thức tự sự khác nhau có thé có chung với nhau những nguyên tắc siêu tự sự. Hiểu theo nghĩa rộng, tw sự học là khoa học nghiên cứu cấu trúc của văn bản tự sự và các vấn đề liên quan hoặc nói cách khác là nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật trần thuật của văn bản tự sự nhằm tìm một cách đọc.
Lí thuyết về tác pham tự sự ra đời dưới ảnh hưởng của chủ nghĩa cấu trúc. “Narratology”- tự sự học nghiên cứu hình thức, quy luật vận động, tính chất của các tác phẩm tự SỰ, của chủ thê sản sinh và đối tượng tiếp nhận tác phẩm tự sự. Các bình diện mà nó tìm hiểu bao gồm “nội dung câu chuyện” và “hình thức trần thuật” cùng mối quan hệ của chúng. Nghiên cứu tác phẩm tự sự trong tính cách là một biểu đạt văn tự đối với sự kiện câu chuyện (tiêu biểu là G.
Trong nghĩa hạn định nay “Narratology” — tự sự học không quan tâm ban than câu chuyện mà tập trung sự chú ý vào diễn ngôn tự sự, tức là chỉ nghiên cứu văn bản tự sự. Bản chất của tự sự ngày nay được hiểu là một sự truyền đạt thông tin, là quá trình phát ra đơn phương trong quá trình giao tiếp, văn bản tự sự là cụm thông tin được phát ra, và tự sự có thê thực hiện băng nhiều phương thức, con đường. Tự sự học chia làm ba giai đoạn: Tự sự học kinh điển (giai đoạn những năm 60 kéo dài đến khoảng những năm 80 của thế kỷ XX). Vào những năm 90 về sau, tự sự học bước sang giai đoạn hậu kinh điển.
Tự sự học hiện đại manh nha hình thành từ cuối thé ki trước. Cho đến nay, tự sự học hiện đại có thể chia làm ba thời kì: Tự sự học trước chủ nghĩa cấu trúc (tự sự học nghiên cứu các thành phần và chức năng của tự sự), tự sự học cấu trúc chủ nghĩa (lấy ngôn ngữ học làm hình mẫu, xem tự sự học là sự mở rộng của cú pháp học, mục đích là nghiên cứu bản chất ngôn ngữ, bản chất ngữ pháp của tự sự mà không cần đối chiếu giản đơn tác phẩm tự sự với hiện thực khách quan)và tự sự học hậu cau trúc chủ nghĩa (gắn liền với kí hiệu học, hình thức tự sự là phương tiện biểu đạt ý nghĩa của tác phâm. Tư tưởng này gắn với việc phân tích ý thức hệ của M. Các tac giả như Iu.Uspenski, cũng theo hướng này) Tổng quan quá trình phát triển của lí thuyết tự sự, nhà lí luận tự sự Mĩ Gerald Prince chia làm ba nhóm theo ba loại hình.
Nhóm một là những nhà tự sự học chịu ảnh hưởng của các nhà hình thức chủ nghĩa Nga. Nhóm thứ hai lấy 7 G.Genette làm tiêu biểu đã xem nguồn gốc của tự sự là dùng ngôn ngữ nói hay viết mà biểu đạt, cho nên vai trò của người trần thuật được coi là quan trọng nhất. Họ chú ý lớp ngôn từ của người trần thuật với các yếu tố cơ bản như điểm nhìn, giọng điệu. Nhóm thứ ba trọng phương pháp nghiên cứu tổng thể, hay dung hợp.
Ở Việt Nam, ngay từ buổi đầu, việc xác định thuật ngữ, chọn khái niệm đòi hỏi phải có những cố gắng nhất định. Trong tình hình mà một số thuật ngữ quan trọng như tự sự, tự sự học trần thuật, văn bản, diễn ngôn, thoại ngữ. hiện nay ta dùng đều là những từ Han Việt thì việc xác định nội hàm các thuật ngữ có lẽ cũng nên tham khảo các học giả Trung Quốc. GS Trần Đình Sử nhấn mạnh: “Chúng ta cần xây dựng cho mình một hệ thông thuật ngữ tiếng Việt về tu sự học”.
“Trần thuật học theo Trung Quốc không phải là tự thuật học mà là tự sự học cua họ. Đây là một lưu ý quan trọng, tuy nhiên chính vì vậy mà chúng tôi càng nghĩ nên dùng thuật ngữ tự sự học nhất là khi ta đã ý thức được đối tượng của trường phái, khuynh hướng học thuật này không chỉ là nghiên cứu văn học tự sự (tran thuật bằng chất liệu ngôn từ) mà là hau hết các dạng thức tôn tại của giao tiếp nghệ thuật chất liệu khác”.66] Với cách hiểu đó, khi nghiên cứu các thành tựu văn học, mà cụ thể là nghệ thuật sáng tạo của một tác giả văn học, chúng tôi sẽ đi theo hướng tự sự học, tức là nghiên cứu nghệ thuật xây dựng nhân vật, xây dựng kết cấu, cốt truyện và các yếu tổ tran thuật học mà tác giả ấy sử dụng trong tác phẩm của mình. Nhân vật văn học và quan niệm về nhân vật của Hồ Anh Thái 1. Khái quát chung về nhân vật và nhân vật trong tiểu thuyết Nhân vật văn học là một hình tượng nghệ thuật mang tính ước lệ, đó không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chỉ tiết biểu hiện của con người mà chỉ là sự thé hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề nghiệp, tính cách, hành động.
Văn học không thẻ thiếu nhân vật, vì nó là phương tiện cơ bản dé nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng. Đồng thời, “Nhà văn sáng tạo ra nhân vật dé thé hiện nhận thức cua minh về một cá nhân nào đó, 8 về một loại người nào đó trong hiện thực” [6, tr. Như vậy, nhân vật van học không chỉ là hình thức đơn thuần mà nó còn bao hàm cả nội dung, tư tưởng và quan niệm của nhà văn về con người, về thế giới. Nói cách khác, nhân vật chính là phương tiện khái quát các tính cách, số phận con người và quan niệm của nhà văn về chúng.
Xét trên phương diện thể hiện đề tài, chủ đề, tư tưởng, cảm hứng, nhân vật văn học được chia thành nhân vật chính — phụ, nhân vật trung tâm; xét về mặt ý thức hệ có: nhân vật chính diện — phản diện, trên phương diện kết cau, hệ thống hình tượng bao gồm phạm vi rộng lớn hơn: nhân vật chức năng, nhân vật loại hình và nhân vật tính cách. Như vậy, nhân vật văn học là hình thức văn học dé phan ảnh hiện thực, phản ánh quan niêm về con người của tác giả. Hình thức ấy được thế hiện dưới nhiều phương tiện nghệ thuật nhằm thể hiện những khía cạnh đa chiều và phong phú của cuộc sống. Tiểu thuyết là thé loại tự sự cỡ lớn, “với khả năng phản ánh một cách toàn vẹn và sinh động hiện thực đời sống theo hướng tiếp xúc gân gui” và “khả năng di sâu khám phá những số phận cá nhân” [1, tr.
Điều đó cho thay, tiêu thuyết mang trong nó mọi yếu tố ngôn ngang bề bộn của cuộc sống và nhân vật là một trong những yếu tố làm nên sự thành công của một tiêu thuyết. Điểm đặc biệt làm cho nhân vật trong tiêu thuyết khác với nhân vật sử thi, nhân vật kịch, nhân vật truyện ngắn, chính là ở chỗ “nhân vật trong tiểu thuyết là những nhân vật từng trải, trong khi các nhân vật kia thường là nhân vật hành động” [24. Kê từ khi tác giả đã có một nguồn phong phú của đữ liệu từ cuộc sống của mình, nhiều nhân vật được sáng tạo nên nhờ năng lực hư cấu, tưởng tượng của tác giả, đó có thé là sự hóa thân của tác giả hay từ một nguyên mẫu trong cuộc sống. Trong khuôn khô rộng lớn của tiêu thuyết, nhân vật được nha văn miêu tả một cách toan diện, ti mỉ theo từng bước thăng trầm của số phận.
Nhân vật trong tiêu thuyết không cô lập với hoàn cảnh, không cường điệu hóa sức mạnh của mình. Nó hành động, phát triển phù hợp với logic, “lãnh đủ” 9 mọi tác động của cuộc đời. Có thể nói miêu tả thế giới bên trong, phân tích tâm lý là một phương diện đặc trưng của nhân vật trong tiêu thuyết. Do vậy, khi tìm hiểu nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiêu thuyết, chúng ta nên chú trong tới những đặc điểm này.
Quan niệm về nhân vật của Hồ Anh Thái Nhân vật là hình thức cơ bản dé miêu ta con người trong văn học, tuy nhiên, bên cạnh việc chú trọng phương diện nội dung và tính khách thể của nó (tính cách, hành động.), chúng ta cũng cần phải tìm hiểu quan niệm của nhà văn về con người, “tc là các nguyên tac lý giải, cảm thụ của chủ thể trong hình tượng thì mới thấy được vai trò sảng tạo tư tưởng của nhà văn, mới thấy mỗi hình tượng văn học là một sáng tạo độc đáo không lặp lại.