Luận án tiến sĩ về chức năng tác động trong thơ kháng chiến 1945-1975 từ góc độ truyền thông xã hội

Luận án tiến sĩ nghiên cứu ngôn ngữ học nghiên cứu chức năng tác động trong thơ kháng chiến 1945 1975 từ phương diện truyền, phân tích chuyên sâu, xây dựng mô hình lý thuyết, đề

Trường đại học

Đại học Quốc gia Hà Nội

Chuyên ngành

Ngôn ngữ học

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án

2016

178
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN

1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.2. Cơ sở lí luận

1.2.1. Những khía cạnh lí thuyết về truyền thông và TTXH

1.2.2. Những cơ sở lí luận ngôn ngữ học

1.2.3. Những cơ sở lí luận văn học

1.2.4. Tiêu chí xác định thơ kháng chiến là sản phẩm TTXH

2. CHƯƠNG 2: CHỨC NĂNG TÁC ĐỘNG CỦA THƠ KHÁNG CHIẾN TRÊN BÌNH DIỆN TỔ CHỨC THÔNG ĐIỆP

2.1. Tác động qua tiêu đề bài thơ

2.1.1. Tiêu đề bài thơ nhìn từ bình diện cú pháp

2.1.2. Tiêu đề bài thơ nhìn từ bình diện nội dung

2.2. Tác động qua kết cấu bài thơ

2.3. Tác động qua các hình thức thơ

2.3.1. Thơ dân gian, dân tộc

2.3.2. Thơ tự do

3. CHƯƠNG 3: CHỨC NĂNG TÁC ĐỘNG CỦA THƠ KHÁNG CHIẾN TRÊN BÌNH DIỆN NGỮ NGHĨA VÀ LIÊN NHÂN

3.1. Chức năng tác động của thơ kháng chiến trên bình diện ngữ nghĩa

3.1.1. Tác động qua chủ đề bài thơ

3.1.2. Tác động qua các hình tượng nghệ thuật

3.1.3. Tác động qua cách thức tổ chức thời gian và không gian nghệ thuật

3.2. Chức năng tác động của thơ kháng chiến trên bình diện liên nhân

3.2.1. Tác động trên bình diện các tiêu chức năng của ngôn ngữ thơ ca

3.2.2. Tác động trên bình diện các hành động ngôn từ

Tóm tắt

I. Tổng quan tình hình nghiên cứu

Nghiên cứu về thơ kháng chiến giai đoạn 1945-1975 đã được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm. Tuy nhiên, hầu hết các công trình đều tiếp cận từ góc độ văn học mà chưa khai thác sâu về chức năng tác động của thơ trong bối cảnh truyền thông xã hội. Các tác phẩm như "Những thế giới nghệ thuật thơ" của Trần Đình Sử hay "Thơ và một số vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại" của Hà Minh Đức đã đề cập đến nhiều khía cạnh của thơ ca, nhưng chưa có công trình nào áp dụng lý thuyết truyền thông để phân tích thơ kháng chiến. Điều này cho thấy sự cần thiết của việc nghiên cứu chức năng tác động của thơ kháng chiến từ góc độ truyền thông xã hội nhằm làm rõ vai trò của nó trong việc định hướng tư tưởng và cảm xúc của nhân dân trong thời kỳ kháng chiến.

II. Đối tượng phạm vi mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

Luận án tập trung vào thơ kháng chiến giai đoạn 1945-1975, với mục đích nghiên cứu chức năng tác động của các yếu tố ngôn ngữ trong thơ đối với xã hội. Nghiên cứu này không chỉ giúp nhận diện các đặc trưng của ngôn ngữ truyền thông mà còn góp phần làm rõ vai trò của thơ trong việc tuyên truyền và khuyến khích tinh thần chiến đấu của nhân dân. Nhiệm vụ nghiên cứu bao gồm việc phân tích chức năng tác động của thơ kháng chiến trên bình diện tổ chức thông điệp và ngữ nghĩa. Qua đó, luận án sẽ cung cấp cái nhìn mới về thơ ca Việt Nam trong bối cảnh lịch sử và xã hội, từ đó rút ra những bài học cho việc sáng tác và giao tiếp trong văn học.

III. Cái mới của đề tài

Điểm mới của luận án nằm ở việc áp dụng lý thuyết truyền thông xã hội vào nghiên cứu thơ kháng chiến. Thay vì chỉ xem xét thơ từ góc độ văn học, luận án này sẽ phân tích các yếu tố ngôn ngữ có tính truyền thông trong thơ kháng chiến, từ đó làm rõ chức năng tác động của chúng. Việc này không chỉ giúp làm phong phú thêm lý thuyết về ngôn ngữ truyền thông mà còn mở ra hướng nghiên cứu mới cho các nhà ngữ học và văn học. Luận án sẽ sử dụng phương pháp phân tích diễn ngôn để làm rõ bản chất và hình thức của các hiện tượng ngôn ngữ trong thơ kháng chiến, từ đó khẳng định vai trò của thơ trong việc tổ chức và cô động tập thể trong các cuộc kháng chiến.

IV. Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, trong đó phương pháp phân tích diễn ngôn (PTDN) được coi là phương pháp chính. Phương pháp này giúp phân tích các yếu tố ngôn ngữ có chức năng tác động trong thơ kháng chiến từ góc độ truyền thông xã hội. Ngoài ra, các phương pháp miêu tả, phân tích ngữ nghĩa và cú pháp cũng được áp dụng để làm rõ các đặc điểm ngữ dụng của thơ. Qua việc thu thập và phân tích tư liệu từ 133 bài thơ tiêu biểu, luận án sẽ chỉ ra những đặc điểm nổi bật của thơ kháng chiến trong việc truyền tải thông điệp và cảm xúc đến công chúng.

V. Đóng góp của luận án

Luận án không chỉ đóng góp về mặt lý luận mà còn có giá trị thực tiễn cao. Về lý luận, nghiên cứu sẽ làm sáng tỏ hơn các vấn đề liên quan đến ngôn ngữ truyền thông trong thơ kháng chiến, từ đó giúp các nhà ngữ học hiểu rõ hơn về thể loại này. Về mặt thực tiễn, kết quả nghiên cứu sẽ hỗ trợ cho việc giảng dạy và nghiên cứu thơ kháng chiến, đồng thời cung cấp những giải pháp nâng cao chất lượng ngôn ngữ truyền thông trong văn học. Luận án cũng sẽ là tài liệu tham khảo hữu ích cho các nghiên cứu về văn hóa truyền thôngngôn ngữ văn học Việt Nam.

07/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

chương 1 nay, chúng tôi sẽ đề cập sơ bộ đến // thuyết HĐNT của các nhà Ngữ học Chức năng. 10 Lí luận về PTDN cũng là một khía cạnh lí luận không thể thiếu luận án cần phải dựa vào khi muốn làm rõ bản chất, khả năng tác động, gây khiến của thơ kháng chiến (1945 — 1975) đến nhận thức, tu tưởng, tình cảm, thái độ, hành động của quần chúng bạn đọc qua các hình thức nghệ thuật ngôn từ trong cách tô chức thông điệp và biểu đạt nội dung. Ngoài ra, một số khía cạnh lí luận văn học (thi pháp học, tính đối thoại trong tho) cũng là một trong những viên gạch nền quan trọng, góp phan không nhỏ trong việc tạo ra hiệu quả của công trình nghiên cứu, giúp nội dung nghiên cứu đi được đúng hướng và sâu hơn. Dưới đây là những trình bày cụ thể, chỉ tiết về những khía cạnh lí luận này.

Những khía cạnh lí thuyết về truyền thông và TTXH 1. Lí thuyết về truyền thông Liên quan đến đề tài luận án, lí thuyết cơ bản đầu tiên mà chúng tôi muốn nhắc đến đó chính là /i thuyết về truyền thông. a) Định nghĩa Căn cứ vào những tư liệu khảo sát, từ “truyền thông” (“communication” trong tiếng Anh) bắt nguồn từ tiếng La Tinh là “communicatio” và “communis”. Ở thé ki 14, trong tiếng Anh từ này được viết là “comynycacion”.

Từ sau thé ki 15, từ này dần biến chuyền thành hình thái hiện đại, hàm nghĩa của nó không dưới mười mấy loại, bao gồm “?hông tin”, “hội thoại”, “giao lưu”, “giao tiếp”, “giao thông”, “tham gia”. Cudi thé ki 19, từ này đã trở thành từ ngữ được sử dụng hàng ngày, được các nhà khoa học xã hội đưa ra với khoảng 160 định nghĩa khác nhau. Cho đến nay, khái nệm TT vẫn là một khái niệm mở và được tiếp cận dưới nhiều góc độ, do sự tham gia rộng rãi của nó vào các mặt trong đời sống xã hội. Các định nghĩa về TT được đưa ra trong những bối cảnh, đích khác nhau, chủ yêu tập trung vào ba vân đê cơ bản: lãi - Xác định bản chất của TT - Quá trình cơ bản của TT - Môi trường bối cảnh của TT Trong khi triển khai đề tài, luận án đã sử dụng định nghĩa có tính tổng hợp (trích từ cuốn: “7ruyên thông, lí thuyết và kĩ năng cơ bản” của Nguyễn Van Dững chủ biên, 2006) làm cơ sở cho nghiên cứu: “TT là một quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cam.chia sẻ kĩ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lan nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới diéu chỉnh hành động và thái độ phù hợp với nhu cau phát triển của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng và xã hội” [33].

Theo định nghĩa này, bản chất của TT là quá trình chia sẻ, trao đôi hai chiều, diễn ra liên tục giữa chủ thể TT và đối tượng TT. Quá trình chia sẻ, trao đôi hai chiều ấy có thé được hình dung qua nguyên tắc bình thông nhau. Khi có sự chênh lệch trong nhận thức, hiểu biết giữa chủ thể và đối tượng TT gan với nhu cau chia sẻ, trao đối thi hoạt động TT diễn ra. Quá trình TT vì vậy chỉ kết thúc khi đã đạt được sự cân băng trong nhận thức, hiểu biết giữa chủ thê và đối tượng TT.

Mục dich của TT là hướng đến những hiểu biết chung nhằm thay đôi thái độ, nhận thức, hành động của đối tượng TT và tạo định hướng giá tri cho công chúng. Thông tin của TT là một loại thông tin có tính chất công cụ vả hoạt đông TT là một loại hoạt động có tính chất tác động sâu sắc, có khả năng tạo ra những thay đổi lớn trên quy mô toàn xã hội. b) Nội dung của hoạt động truyền thông Nội dung của hoạt động TT nằm trong cụm từ cơ bản CIE gồm 3 khái niệm: - Communication (giao tiép/TT - phương thức); 12 - Information (thông tin - nội dung); - Education (giao duc - muc tiéu). Đây là sự kết hợp (hòa kết) của ba phương diện trong một loại hoạt động thông tin đặc thù nhăm tác động vào đối tượng với mong muốn can thiệp tạo ra những thay đổi ở đối tượng.

> Giao tiếp: (i) Khái niệm: Giao tiếp là một hoạt động thường xuyên của con người. Không ai có thê sống cô độc mà không có sự giao tiếp với người khác, và xã hội cũng không thé tồn tại, hoạt động và phát triển mà không có giao tiếp. Trong công trình “Ngôn ngữ với văn chương” (2015), khi bàn về giao tiếp ngôn ngữ đời thường và giao tiếp ngôn ngữ văn chương, Bùi Minh Toán cho rằng: “Giao tiếp chính là sự tiếp xúc giữa người với người, trong đó diễn ra quá trình trao đổi nhận thức tư tưởng, tình cam, bàn bạc hành động” [1 14, tr. Giao tiếp có thê được tiễn hành băng các phương tiện khác nhau từ đơn giản như: điệu bộ, cử chỉ, nét mặt, ánh mat,.dén hiện đại như các phương tiện vô tuyến viễn thông, các phương tiện của công nghệ thông tin.

Tuy nhiên, ngôn ngữ vẫn là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất bởi, xét về hiệu quả, nó giúp cho con người biểu hiện và trao đổi được mọi nội dung thông tin. Không một nội dung nào mà con người cần biểu hiện và trao đổi lại không thể biểu hiện được bang ngôn ngữ. Với hướng nghiên cứu của luận án, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. (ii) Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ: Hoạt động giao tiếp (hoạt động ngôn giao) của con người đã được ngôn ngữ học bắt đầu quan tâm nghiên cứu từ đầu thé ki này.

Bloomfiel (1933) có lẽ là người đâu tiên phát hiện ra cơ chế ngôn giao, khi ông dua ra sơ đô 13 S.R với hai nhân vật giao tiếp là người nói — người nghe (trong đó, S: kích thích nhằm vào người nói; r (lời): phản ứng của người nói; s (lời): kích thích của người nói; R: lời — phản ứng của người nghe) và chi ra rằng r và s là hai bình điện của lời mà ngôn ngữ học cần nghiên cứu. Đó là /ởi sản phẩm đồng thời cũng là /oi — kích thích của người nói, là những don vị ngôn giao. Các tác gia khác như Shannon va Weaver (1949/1962), Schramm (1955), v. khi nghiên cứu về quá trình TT cũng đã đưa ra các sơ đồ giao tiếp của họ [134].

Tuy nhiên, các sơ đồ đó còn khá đơn giản và chưa diễn tả hết các nhân tố trong quá trình giao tiếp của con người. Sau các tác giả trên, Jakobson (1960) trong công trình “Linguistics and Poetics” , đã đưa ra một sơ đồ giao tiép như sau: NGỮ CẢNH NGƯỜI PHÁT ---------~- THÔNG ĐIỆP ----------- NGƯỜI NHẬN TIEP XUC MÃ Hình 1.1: Sơ đồ các nhân tổ giao tiếp của Jakobson Theo đó, có 6 nhân tố không thé thiếu trong một cuộc giao tiếp đó là: người phát, người nhận, thông điệp, ngữ cảnh, tiếp xúc, mã. Sơ đồ của Jakobson luôn được coi là một sơ đồ “cô điển” về ngôn giao, bởi nó đã thể hiện khá đầy đủ các nhân tổ giao tiếp. Hoat động giao tiếp ở đây được hiéu theo nghĩa rộng: bao gồm tất cả các dạng của quá trình trao đổi thông tin giữa con người với nhau.

Sơ đồ trên được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ sau này kế thừa (là chủ yếu) và phát triển theo những cách khác nhau. Như vậy, chúng ta thấy răng, hoạt động giao tiếp diễn ra và liên quan ít nhất đến hai nhân vật giao tiếp: người phát và người nhận. Trong quá trình giao tiếp, nội dung giao tiếp chứa trong thong điệp (thực chat là một chuỗi tin 14 hiệu được mã hóa) được truyền đạt và tiếp nhận giữa hai nhân vật giao tiếp này thông qua một loại md nhất định, chăng hạn, ý nghĩa đừng Jai có thé được truyền đạt bằng đèn đỏ trong hệ thống đèn giao thông, hiệu lệnh băng tay của cảnh sát giao thông hoặc bằng chính từ đừng lai v. Nội dung giao tiếp chứa hai thành phan cơ bản: /hông tin miêu ta va tình thai.

Thông tin miêu tả là nội dung về sự vật, sự việc, hiện tượng,.(gỌI chung là sự tình) mà văn bản đề cập đến. Nội dung tình thái bao gồm nhiều phương diện phức tạp như sự nhìn nhận, đánh giá của nguồn phát đối với sự tình hay đối với người nhận, quan hệ của sự tình với hiện thực, mục đích giao tiếp của người phát khi tạo lập văn ban. Hai thành phan nay hòa quyện với nhau trong một văn bản và trong mỗi phát ngôn của văn bản. Dé có thé truyền đạt bat kì điều gì, giữa người phát và người nhận thông điệp buộc phải có sự tiếp xúc hay quan hệ với nhau.

Điều này có nghĩa là, thông điệp mà người phát muốn gửi đi phải được truyền qua một kénh dan thông tin nào đó: trong hội thoại, kênh đó là sóng âm, trên radio hoặc tivi, sóng âm được chuyên thành sóng điện từ, trong giao tiếp viết, kênh đó là các con chữ. Cuối cùng, bat kì hành động giao tiếp nào đều diễn ra trong một ngi? cảnh. Ngữ cảnh, đó chính là bối cảnh diễn ra hoạt động giao tiếp. Nó luôn luôn chi phối hoạt động giao tiếp, chi phối nội dung, hình thức của văn bản, chi phối cách thức giao tiếp.

Ngữ cảnh bao gồm ngi cảnh tình hudng (ngữ cảnh hẹp: là thời gian, địa điểm cụ thể, những tình huống cụ thé khi hoạt động giao tiếp diễn ra) và ngữ cảnh văn hóa (ngữ cảnh rộng: là toàn bộ những hoàn cảnh và điều kiện về lịch sử, xã hội, văn hóa, phong tục, tập quán,.của một cộng đồng ngôn ngữ). > Thông tin: Một cống hiến quan trong của “khoa học thông tin” đối với “truyền thông học” đó là đã đưa ra khái niệm “thông tin”. Khoa học thông tin chỉ ra 15 cho chúng ta biết, dung môi của hành động tác động qua lại lan nhau của xã hội giữa con người với con người không chỉ đơn giản là ý nghĩa, cũng không đơn giản là kí hiệu, mà là thông tin của một thé thong nhất giữa ý nghĩa và kí hiệu, nội dung tinh than với vật dan vật chất. Bởi vìý nghĩa rời xa kí hiệu thi không thé đạt được sự biểu đạt, mà ki hiệu rời xa y nghĩa thì cũng chỉ là một vài vật chất không rõ ràng, cả hai déu không thé dan đến hành động tác động qua lại lẫn nhau của xã hội một cách độc lập.

Và thông tin trong TT là loại thông tin có nét đặc thù, xuất hiện muộn hơn khi con người biết sử dụng thông tin như một công cụ tương tác xã hội.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghiên cứu chức năng tác động trong thơ kháng chiến 1945-1975 qua lăng kính truyền thông xã hội" khám phá vai trò của thơ ca trong thời kỳ kháng chiến, đặc biệt là cách mà các tác phẩm này đã được truyền tải và tiếp nhận qua các kênh truyền thông xã hội. Tác giả phân tích các chức năng của thơ ca, từ việc khơi dậy tinh thần yêu nước đến việc phản ánh tâm tư, tình cảm của nhân dân trong bối cảnh chiến tranh. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về giá trị văn học của thơ kháng chiến mà còn mở ra những góc nhìn mới về sự tương tác giữa văn học và truyền thông hiện đại.

Để mở rộng thêm kiến thức về các khía cạnh khác của văn học Việt Nam, bạn có thể tham khảo bài viết Luận văn thạc sĩ thơ trên báo nhân dân và tập san giai phẩm nhìn từ góc độ tư duy nghệ thuật, nơi phân tích sự phát triển của thơ ca trong bối cảnh truyền thông. Ngoài ra, bài viết Luận văn thạc sĩ thơ việt nam hiện đại viết về biển đảo khảo sát qua một số tác giả tiêu biểu cũng sẽ cung cấp cho bạn cái nhìn sâu sắc về các chủ đề hiện đại trong thơ ca. Cuối cùng, bạn có thể tìm hiểu thêm về Luận văn thạc sĩ vần nhịp và phương thức tạo nghĩa trong thơ lục bát của đồng đức bốn, để thấy được sự phong phú và đa dạng trong cách thể hiện thơ ca Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá sâu hơn về văn học Việt Nam.