chương 1 nay, chúng tôi sẽ đề cập sơ bộ đến // thuyết HĐNT của các nhà Ngữ học Chức năng. 10 Lí luận về PTDN cũng là một khía cạnh lí luận không thể thiếu luận án cần phải dựa vào khi muốn làm rõ bản chất, khả năng tác động, gây khiến của thơ kháng chiến (1945 — 1975) đến nhận thức, tu tưởng, tình cảm, thái độ, hành động của quần chúng bạn đọc qua các hình thức nghệ thuật ngôn từ trong cách tô chức thông điệp và biểu đạt nội dung. Ngoài ra, một số khía cạnh lí luận văn học (thi pháp học, tính đối thoại trong tho) cũng là một trong những viên gạch nền quan trọng, góp phan không nhỏ trong việc tạo ra hiệu quả của công trình nghiên cứu, giúp nội dung nghiên cứu đi được đúng hướng và sâu hơn. Dưới đây là những trình bày cụ thể, chỉ tiết về những khía cạnh lí luận này.
Những khía cạnh lí thuyết về truyền thông và TTXH 1. Lí thuyết về truyền thông Liên quan đến đề tài luận án, lí thuyết cơ bản đầu tiên mà chúng tôi muốn nhắc đến đó chính là /i thuyết về truyền thông. a) Định nghĩa Căn cứ vào những tư liệu khảo sát, từ “truyền thông” (“communication” trong tiếng Anh) bắt nguồn từ tiếng La Tinh là “communicatio” và “communis”. Ở thé ki 14, trong tiếng Anh từ này được viết là “comynycacion”.
Từ sau thé ki 15, từ này dần biến chuyền thành hình thái hiện đại, hàm nghĩa của nó không dưới mười mấy loại, bao gồm “?hông tin”, “hội thoại”, “giao lưu”, “giao tiếp”, “giao thông”, “tham gia”. Cudi thé ki 19, từ này đã trở thành từ ngữ được sử dụng hàng ngày, được các nhà khoa học xã hội đưa ra với khoảng 160 định nghĩa khác nhau. Cho đến nay, khái nệm TT vẫn là một khái niệm mở và được tiếp cận dưới nhiều góc độ, do sự tham gia rộng rãi của nó vào các mặt trong đời sống xã hội. Các định nghĩa về TT được đưa ra trong những bối cảnh, đích khác nhau, chủ yêu tập trung vào ba vân đê cơ bản: lãi - Xác định bản chất của TT - Quá trình cơ bản của TT - Môi trường bối cảnh của TT Trong khi triển khai đề tài, luận án đã sử dụng định nghĩa có tính tổng hợp (trích từ cuốn: “7ruyên thông, lí thuyết và kĩ năng cơ bản” của Nguyễn Van Dững chủ biên, 2006) làm cơ sở cho nghiên cứu: “TT là một quá trình liên tục trao đổi thông tin, tư tưởng, tình cam.chia sẻ kĩ năng và kinh nghiệm giữa hai hoặc nhiều người nhằm tăng cường hiểu biết lan nhau, thay đổi nhận thức, tiến tới diéu chỉnh hành động và thái độ phù hợp với nhu cau phát triển của cá nhân, của nhóm, của cộng đồng và xã hội” [33].
Theo định nghĩa này, bản chất của TT là quá trình chia sẻ, trao đôi hai chiều, diễn ra liên tục giữa chủ thể TT và đối tượng TT. Quá trình chia sẻ, trao đôi hai chiều ấy có thé được hình dung qua nguyên tắc bình thông nhau. Khi có sự chênh lệch trong nhận thức, hiểu biết giữa chủ thể và đối tượng TT gan với nhu cau chia sẻ, trao đối thi hoạt động TT diễn ra. Quá trình TT vì vậy chỉ kết thúc khi đã đạt được sự cân băng trong nhận thức, hiểu biết giữa chủ thê và đối tượng TT.
Mục dich của TT là hướng đến những hiểu biết chung nhằm thay đôi thái độ, nhận thức, hành động của đối tượng TT và tạo định hướng giá tri cho công chúng. Thông tin của TT là một loại thông tin có tính chất công cụ vả hoạt đông TT là một loại hoạt động có tính chất tác động sâu sắc, có khả năng tạo ra những thay đổi lớn trên quy mô toàn xã hội. b) Nội dung của hoạt động truyền thông Nội dung của hoạt động TT nằm trong cụm từ cơ bản CIE gồm 3 khái niệm: - Communication (giao tiép/TT - phương thức); 12 - Information (thông tin - nội dung); - Education (giao duc - muc tiéu). Đây là sự kết hợp (hòa kết) của ba phương diện trong một loại hoạt động thông tin đặc thù nhăm tác động vào đối tượng với mong muốn can thiệp tạo ra những thay đổi ở đối tượng.
> Giao tiếp: (i) Khái niệm: Giao tiếp là một hoạt động thường xuyên của con người. Không ai có thê sống cô độc mà không có sự giao tiếp với người khác, và xã hội cũng không thé tồn tại, hoạt động và phát triển mà không có giao tiếp. Trong công trình “Ngôn ngữ với văn chương” (2015), khi bàn về giao tiếp ngôn ngữ đời thường và giao tiếp ngôn ngữ văn chương, Bùi Minh Toán cho rằng: “Giao tiếp chính là sự tiếp xúc giữa người với người, trong đó diễn ra quá trình trao đổi nhận thức tư tưởng, tình cam, bàn bạc hành động” [1 14, tr. Giao tiếp có thê được tiễn hành băng các phương tiện khác nhau từ đơn giản như: điệu bộ, cử chỉ, nét mặt, ánh mat,.dén hiện đại như các phương tiện vô tuyến viễn thông, các phương tiện của công nghệ thông tin.
Tuy nhiên, ngôn ngữ vẫn là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất bởi, xét về hiệu quả, nó giúp cho con người biểu hiện và trao đổi được mọi nội dung thông tin. Không một nội dung nào mà con người cần biểu hiện và trao đổi lại không thể biểu hiện được bang ngôn ngữ. Với hướng nghiên cứu của luận án, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ. (ii) Hoạt động giao tiếp bằng ngôn ngữ: Hoạt động giao tiếp (hoạt động ngôn giao) của con người đã được ngôn ngữ học bắt đầu quan tâm nghiên cứu từ đầu thé ki này.
Bloomfiel (1933) có lẽ là người đâu tiên phát hiện ra cơ chế ngôn giao, khi ông dua ra sơ đô 13 S.R với hai nhân vật giao tiếp là người nói — người nghe (trong đó, S: kích thích nhằm vào người nói; r (lời): phản ứng của người nói; s (lời): kích thích của người nói; R: lời — phản ứng của người nghe) và chi ra rằng r và s là hai bình điện của lời mà ngôn ngữ học cần nghiên cứu. Đó là /ởi sản phẩm đồng thời cũng là /oi — kích thích của người nói, là những don vị ngôn giao. Các tác gia khác như Shannon va Weaver (1949/1962), Schramm (1955), v. khi nghiên cứu về quá trình TT cũng đã đưa ra các sơ đồ giao tiếp của họ [134].
Tuy nhiên, các sơ đồ đó còn khá đơn giản và chưa diễn tả hết các nhân tố trong quá trình giao tiếp của con người. Sau các tác giả trên, Jakobson (1960) trong công trình “Linguistics and Poetics” , đã đưa ra một sơ đồ giao tiép như sau: NGỮ CẢNH NGƯỜI PHÁT ---------~- THÔNG ĐIỆP ----------- NGƯỜI NHẬN TIEP XUC MÃ Hình 1.1: Sơ đồ các nhân tổ giao tiếp của Jakobson Theo đó, có 6 nhân tố không thé thiếu trong một cuộc giao tiếp đó là: người phát, người nhận, thông điệp, ngữ cảnh, tiếp xúc, mã. Sơ đồ của Jakobson luôn được coi là một sơ đồ “cô điển” về ngôn giao, bởi nó đã thể hiện khá đầy đủ các nhân tổ giao tiếp. Hoat động giao tiếp ở đây được hiéu theo nghĩa rộng: bao gồm tất cả các dạng của quá trình trao đổi thông tin giữa con người với nhau.
Sơ đồ trên được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ sau này kế thừa (là chủ yếu) và phát triển theo những cách khác nhau. Như vậy, chúng ta thấy răng, hoạt động giao tiếp diễn ra và liên quan ít nhất đến hai nhân vật giao tiếp: người phát và người nhận. Trong quá trình giao tiếp, nội dung giao tiếp chứa trong thong điệp (thực chat là một chuỗi tin 14 hiệu được mã hóa) được truyền đạt và tiếp nhận giữa hai nhân vật giao tiếp này thông qua một loại md nhất định, chăng hạn, ý nghĩa đừng Jai có thé được truyền đạt bằng đèn đỏ trong hệ thống đèn giao thông, hiệu lệnh băng tay của cảnh sát giao thông hoặc bằng chính từ đừng lai v. Nội dung giao tiếp chứa hai thành phan cơ bản: /hông tin miêu ta va tình thai.
Thông tin miêu tả là nội dung về sự vật, sự việc, hiện tượng,.(gỌI chung là sự tình) mà văn bản đề cập đến. Nội dung tình thái bao gồm nhiều phương diện phức tạp như sự nhìn nhận, đánh giá của nguồn phát đối với sự tình hay đối với người nhận, quan hệ của sự tình với hiện thực, mục đích giao tiếp của người phát khi tạo lập văn ban. Hai thành phan nay hòa quyện với nhau trong một văn bản và trong mỗi phát ngôn của văn bản. Dé có thé truyền đạt bat kì điều gì, giữa người phát và người nhận thông điệp buộc phải có sự tiếp xúc hay quan hệ với nhau.
Điều này có nghĩa là, thông điệp mà người phát muốn gửi đi phải được truyền qua một kénh dan thông tin nào đó: trong hội thoại, kênh đó là sóng âm, trên radio hoặc tivi, sóng âm được chuyên thành sóng điện từ, trong giao tiếp viết, kênh đó là các con chữ. Cuối cùng, bat kì hành động giao tiếp nào đều diễn ra trong một ngi? cảnh. Ngữ cảnh, đó chính là bối cảnh diễn ra hoạt động giao tiếp. Nó luôn luôn chi phối hoạt động giao tiếp, chi phối nội dung, hình thức của văn bản, chi phối cách thức giao tiếp.
Ngữ cảnh bao gồm ngi cảnh tình hudng (ngữ cảnh hẹp: là thời gian, địa điểm cụ thể, những tình huống cụ thé khi hoạt động giao tiếp diễn ra) và ngữ cảnh văn hóa (ngữ cảnh rộng: là toàn bộ những hoàn cảnh và điều kiện về lịch sử, xã hội, văn hóa, phong tục, tập quán,.của một cộng đồng ngôn ngữ). > Thông tin: Một cống hiến quan trong của “khoa học thông tin” đối với “truyền thông học” đó là đã đưa ra khái niệm “thông tin”. Khoa học thông tin chỉ ra 15 cho chúng ta biết, dung môi của hành động tác động qua lại lan nhau của xã hội giữa con người với con người không chỉ đơn giản là ý nghĩa, cũng không đơn giản là kí hiệu, mà là thông tin của một thé thong nhất giữa ý nghĩa và kí hiệu, nội dung tinh than với vật dan vật chất. Bởi vìý nghĩa rời xa kí hiệu thi không thé đạt được sự biểu đạt, mà ki hiệu rời xa y nghĩa thì cũng chỉ là một vài vật chất không rõ ràng, cả hai déu không thé dan đến hành động tác động qua lại lẫn nhau của xã hội một cách độc lập.
Và thông tin trong TT là loại thông tin có nét đặc thù, xuất hiện muộn hơn khi con người biết sử dụng thông tin như một công cụ tương tác xã hội.