Chương 1: KHÁI LƯỢC VE TƯ DUY NGHỆ THUẬT VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TÁC CỦA NGUYÊN VIỆT HÀ 1. Một số van đề lý luận về tư duy nghệ thuật 1. Khái niệm tư duy Tư duy không chi là đối tượng nghiên cứu của khoa học tâm lý, triết học,. mà còn là đối tượng nghiên cứu của lĩnh vực nghệ thuật.
“Tư duy là hoạt động nhận thức lý trí của con người. Khí quan của tư duy chính là bộ óc người với một hệt thống tinh vi của gan 16 tỷ tế bào than kinh" [59:32]. Tư duy không chi là một sản phẩm xã hội hay sản phẩm của tự nhiên, mà là sản phẩm có tính tổng hòa của quá trình lịch sử nhân loại. Tư duy là kết quả phát triển của vật chất tự tổng hợp qua hàng vạn, hàng triệu năm.
Sự ra đời của tư duy chính là bằng chứng về sự xuất hiện của con người. Do vậy có thê định nghĩa: “con người là một động vật có tư duy”. Tư duy (pensée) là toàn bộ hoạt động tâm lý của con người, chỉ có con người mới có, đó là đời sống trí tuệ của con người. Tư duy được phân biệt với nhận thức (conscience).
Nói đến ý thức là nói đến sự “phản ánh” hiện thực của hoạt động tâm lý. Hay nói đúng hơn, ý thức là tư duy ở trạng thái tĩnh, và tư duy ở trạng thái động, tư duy là hành động nhận thức của con người. Tư duy và lý trí (raison) không phải là một. Nói đến lý trí là nói đến cái lôgic có tính nguyên tắc của nhận thức.
Nói đến tư duy là nói đến sự vận động có tính tổng thê của các yếu tố tư tưởng và tình cảm, cảm xúc và lý trí nhằm mục đích nhận thức. Tư tưởng (Idée) hay còn gọi là quan niệm tư tưởng vừa là kết quả lại vừa là xuất phát điểm của tư duy. Quan hệ con người với con người, con người với xã hội, con người với hoàn cảnh sống. là những mối quan hệ chủ yếu tạo nên quan niệm tư tưởng ở mỗi con người.
Tư tưởng mang tinh chất dân tộc, đoàn thé quốc gia, tính giai cấp. là những phạm trù mang tính chủ quan hơn so với tư duy. Tư tưởng nằm ở phạm trù nội dung, tư duy năm ở phạm trù phương pháp. Tuy nhiên giữa chúng vẫn có những mối quan hệ mật thiết với nhau.
Đặc trưng của tư duy là phản ánh các mối quan hệ của con người với thế giới khách quan, quan hệ con người với con người và quan hệ giữa các sự vật hiện tượng: truy tìm các mối quan hệ, biéu diễn các mối quan hệ đó bang các phương 17 Tw duy nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Việt Ha tiện ngôn ngữ, đó là toàn bộ chức năng nhận thức của tư duy. Nói đến tư duy là nói đến những hoạt động của bộ óc con người ở trạng thái sống động của nó. Tư duy nảy sinh từ sự sống và gắn liền với hoạt động của tế bào não. Nó là một quá trình xử lý lượng thông tin do các khí quan cảm giác thu nhận được.
Trong lịch sử phát triển của con người, sự hình thành và phát triển của tư duy gắn liền với sự hình thành và phát triển của chủ thé. Vậy, phán đoán đầu tiên của sự sống là ở chỗ, với tư cách là chủ thé cá thé, sự sống tự tách mình ra khỏi tính khách quan. Nói đến sự sống trong vận động của tư duy chính là nói đến cơ sở sinh lý của tư duy. Yếu tố “sống” đó sẽ tạo cho tư duy một thuộc tính quan trọng, đó là sự trao đổi tinh thần có tinh chat giao tiếp, tính chất “cảm ứng”, “giao cam” giữa người với người.
Bởi vậy, giao tiếp ngôn ngữ là một giao tiếp có tính bề ngoài, còn trao đối tinh thần, giao lưu tư tưởng và tình cảm là bản chất của hoạt động tư duy. Tư duy là một “trạng thái” bên trong của vật chất (Plêkhanôp) nhưng chỉ có ở trong dạng vật chất đặc biệt, phát triển ở trình độ cao, tức là ở con người. Mọi quan niệm cho rang tư duy, tinh thần hay ý niệm tồn tại độc lập, bên ngoài đầu óc cua con người, déu 1a quan niém tu duy phi chu thể, hoặc tạo ra một chủ thé siêu nhiên đối lập với con người. Nhưng cả tư tưởng và tư duy sẽ không nảy sinh được nếu không có ngôn ngữ.
Ngôn ngữ là công cụ của tư duy. Ngôn ngữ là cái vỏ vật chất của tư tưởng. Không có ngôn ngữ thì tư duy chỉ là những dự báo mơ hồ, những phản ứng có tính bản năng trước hiện thực. Không có tư duy thì ngôn ngữ chỉ là những tiếng kêu bập bẹ của trẻ sơ sinh mà thôi.
Tư duy làm cho ngôn ngữ phát triển phong phú, tỉnh xảo, ngôn ngữ tạo điều kiện cho tư duy ổi sâu vào bản chất của sự vật hơn. Quan niệm tư duy về nghệ thuật. Tư duy nghệ thuật là sản pham sang tạo của con người trong lĩnh vực nghệ thuật. Có nhiều quan điểm về vấn đề này, tuy nhiên chúng tôi thống nhất quan điểm của nhóm các tác giả Lê Bá Hán, Trần Dinh Sử, Nguyễn Khắc Phi trong cuốn Tir điển thuật ngữ văn học (Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, 1998) và ý kiến của tác giả Nguyễn Bá Thanh trong cuốn Tw duy tho va tu duy thơ hiện đại Việt Nam (Nxb Văn 18 Tw duy nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Việt Ha học Hà Nội, 1996).
Tờ điển thuật ngữ văn học định nghĩa: “Tư duy nghệ thuật là dạng hoạt động trí tuệ của con người hướng tới sáng tạo và tiếp nhận tác phẩm nghệ thud?” [54;381]. Kiều tư duy đặc thù của nghệ thuật là tư duy bang hình tượng. Mục đích cuối cùng của tư duy nghệ thuật là tìm đến bản chất của sự vật, hiện tượng để nắm bắt quy luật của đời sống khách quan. Nhưng ở đây tư duy hình tượng phản ánh cái chung qua cái cụ thé mang tính đại diện, mang tính quy luật.
Khác với loại tư duy hành động trực quan và tư duy khái niệm lôgIc, tư duy nghệ thuật có cơ sở là tư duy hình tượng cảm tính hoặc tư duy này cho phép nghệ sĩ cùng một lúc vừa phát hiện khách thé vừa bộc lộ nỗi lòng, tâm tư của chủ thể sáng tạo. Đặc điểm của loại tư duy này là sự tái hiện từ xa, tách khỏi khách thể, bởi thế có thé sử dụng hư cấu tưởng tượng dé hình thành những hình tượng nghệ thuật có tầm khái quát lớn lao, có sự tác động mạnh mẽ đến độc giả. Chính vì thế, Bêlinxki đã phân biệt: để tác động đến trí tuệ của người nghe và người đọc, kinh tế chính trị thì “chứng minh” bằng các số liệu, còn nhà thơ thì lại “trình bay” hiện thực như vốn có. Không phải ngẫu nhiên mà từ Héghen cho đến Plêkhanôp, Gorki đều nhân mạnh tư duy nghệ thuật là tư duy hình tượng.
Dĩ nhiên tư duy nghệ thuật có những đặc trưng khác biệt so với tư duy hình tượng- cảm tính. Thông thường, chính tư duy nghệ thuật đã giúp cho nghệ sĩ có một quan niệm nghệ thuật riêng biệt về thế giới. Nói khác di, trong nghệ thuật, quan niệm nghệ thuật là giới hạn thực tế của tư duy nghệ thuật. Nó tương tự như một khí quyền của hoạt động con người.
Như vậy, quan niệm nghệ thuật tạo ra khả năng lĩnh hội hiện thực đời sống triệt dé, sâu sắc trong sự đa dạng, phức tạp của chúng. Cho nên trong thực tiễn sáng tạo nghệ thuật không phải nhà văn nao cũng có thể tạo một thứ tư tưởng cho riêng mình. Trên thực tế, những nhà văn lớn cũng là những nhà tư tưởng. Sáng tác của họ không thê đơn thuần dùng lại nguyên xi cuộc sống mà họ phải tìm ra bản chất và quy luật vận động của hiện thực khách quan, giải quyết nhiệm vụ thâm mỹ.
Chính nhờ đặc điểm nay mà nội dung khái quát của nghệ thuật thường mang tinh phổ quát hơn, triết học hơn so với sự thật cá biệt. Lay tri tuong tượng sang tao là chat xúc tác của hoạt động tư duy nghệ thuật, nghệ sĩ xây dựng các giả thiết, làm sáng rõ các bộ 19 Tw duy nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Việt Ha phan còn bị che khuất của thực tại, lap đầy các “lỗ héng chưa biết”. Tư duy nghệ thuật “nhìn thấy” thế giới một cách toàn vẹn, năm bắt nó qua những dấu hiệu phát sinh, đồng thời phát hiện các mối liên hệ mới chưa được nhận ra. Tư duy nghệ thuật đòi hỏi một ngôn ngữ nghệ thuật làm “hiện thực trực tiếp” cho nó.
Ngôn ngữ, đó là hệ thống các ký hiệu nghệ thuật, các hình tượng, các phương thức tạo hình và biểu hiện. Nó có mã nghệ thuật, tức là các hệ thống năng động gồm các quy tắc sử dụng ký hiệu dé gìn giữ tổ chức và truyền dat thông tin. Điểm xuất phát của tư duy vẫn là lý tính, là trí tuệ có kinh nghiệm, biết nghiền ngầm và hệ thong hóa các kết quả nhận thức. Như vây, tư duy nghệ thuật được thé hiện rõ nét trong cảm hứng sáng tạo, trong quá trình nghệ sĩ phát hiện, chiêm nghiệm và thé hiện chân lý của đối tượng.
Tư duy trong tiểu thuyết Tiểu thuyết là một thé loại lớn nằm trong phương thức tự sự có khả năng phản ánh hiện thực đời sống một cách bao quát ở mọi giới hạn không gian và thời gian, khả năng khám phá một cách sâu sắc những vấn đề thuộc về thân phận con người thông qua những tính cách đa dạng, phức tạp và khả năng tái hiện những bức tranh mang tính tong thé rộng lớn về đời sống xã hội. Thật khó để có một khái niệm đầy đủ về tư duy nghệ thuật của tiêu thuyết, bởi tiểu thuyết trong quá trình phát triển của mình luôn có sự biến đổi và giao thoa. Tuy nhiên, chúng ta có thé nhận thấy tư duy tiêu thuyết trong sự đối sánh với tư duy thơ và truyện ngắn. Do đặc trưng thé loại, tư duy thơ thường chỉ tập trung thể hiện những cung bậc tình cảm khác nhau của chủ thể trữ tình.
Cái mà tư duy thơ quan tâm chính là cảm xúc. Khác với tư duy thơ, dấu hiệu đầu tiên để người ta có thể nhận ra tư duy tiểu thuyết là tiểu thuyết đã biéu thị được mối liên hệ giữa thực tại xã hội với số phận cá nhân. Theo hướng tư duy này, nhà văn khám phá những vấn đề bản chất của hiện thực thông qua sự tái hiện số phận cá nhân. Hướng tư duy này cũng tạo nên kiểu nhân vật tiểu thuyết.