Chương 1: Tiểu thuyết viết về nông thôn trong bối cảnh văn học thời kì đổi mới và sự xuất hiện của Nguyễn Khắc Trường, Trịnh Thanh Phong, Đào Thắng. Chương 2: Hiện thực nông thôn và các kiểu nhân vật trong Manh dat lắm người nhiêu ma, Ma làng, Dòng sông mia. Chương 3: Tiểu thuyết viết về nông thôn nhìn từ góc độ phương thức biểu hiện. 17 CHUONG 1: TIEU THUYET VIET VE NONG THON TRONG BOI CANH VAN HỌC THỜI ki DOI MỚI VÀ SU XUẤT HIEN CUA NGUYEN KHAC TRUONG, TRINH THANH PHONG, DAO THANG 1.1 Dé tài nông thôn trong văn xuôi Việt Nam hiện đại 1.1 Văn xuôi viết về nông thôn trước đổi mới (1986) Thời kỳ 1930- 1945: Xã hội Việt Nam trong giai đoạn lịch sử này đã có sự biến đổi to lớn, từ chế độ thuần nhất phong kiến đã chuyên sang chế độ thực dân nửa phong kiến.
Nghĩa là có sự thay đổi trong cơ cau xã hội, co cấu kinh tế và cơ cấu giai cấp, nhưng riêng ở nông thôn Việt Nam thì nền kinh tế nông nghiệp lạc hậu, quan hệ sản xuất phong kiến gắn liền với sự tồn tại của giai cấp địa chủ và nông dân về cơ bản vẫn là như trước. Điều đáng nói là sự áp bức giai cấp ở đây (cụ thé giữa địa chủ và nông dân), ngày một gay gắt hơn, căng thang hon. Bức tranh này chúng ta có thé nhận thấy rõ qua nhiều tác phẩm kí sự, truyện ngắn, đặc biệt là những cuốn tiểu thuyết nỗi tiếng của các tác giả tiêu biểu thuộc trào lưu hiện thực phê phán như : Bước đường cùng (Nguyễn Công Hoan); Tat đèn (Ngô Tát Tố); Chi Phèo (Nam Cao). Tập hợp lại, đó là một toàn cảnh tiêu biểu, bao quát được thực trạng của nông thôn Việt Nam xảy ra trước Cách mạnh tháng Tám 1945.
Bức tranh toàn cảnh nông thôn của các nhà văn hiện thực như những đàn chim én báo hiệu mùa xuân cách mạng sắp tới gần. Ở những tác phẩm này, ngoàigiá trị hiện thực còn chứa đựng giá tri nhân đạo hết sức sâu sắc. Đó là những đòi hỏi về quyền sống, quyền làm người. Đó là sự quan tâm đến số phận của những kiếp người bé nhỏ, đầy bất hạnh.
Đó là ý thức phản kháng của nhân vật khi bị đồn vào những bước đường không còn lối thoát. Cách mạng tháng Tám là một sự kiện vĩ đại trong lịch sử dân tộc Việt Nam. Với thắng lợi nay, nước ta từ một nước thuộc dia đã trở thành một nước độc lập dưới chế độ dân chủ cộng hoà, đưa nhân dân ta từ thân phận nô lệ trở thành người dân độc lập, tự do, làm chủ nước nhà. Và một điều mà chúng ta dễ nhận thay là bộ 18 mặt của nông thôn Việt Nam đã có những thay đổi to lớn.
Thành công của cuộc Cách mạng đã đem đến cho người nông dân cuộc sống mới, sinh mệnh mới. Giờ đây ruộng đất đã được trao tận tay với quyền làm chủ và họ bắt đầu quá trình xây dựng và kiến thiết cuộc sống mới. Nhưng cũng trong giai đoạn này, người nông dân lại phải tiếp tục tham gia vào cuộc kháng chiến chống lại thực dân Pháp, giải phóng đất nước. Chính vì vậy, trong những năm này, văn xuôi viết về nông thôn hầu như không tách riêng ra thành một mảnh rõ rệt với văn xuôi nói chung.
Đề tài nông thôn cũng nằm trong đề tài kháng chiến, hoà quện trong một cái tên chung là văn xuôi kháng chiến. Các làng quê giờ đây trở thành hậu phương vững chắc, tiếp sức cho tiền tuyến, đảm bảo thắng lợi cả về vật chất lẫn tinh thần. Những bà mẹ hậu phương trở thành mẹ chung, sẵn sàng chở che, nuôi dấu chiến sĩ bồ đội; những người phụ nữ- người vợ đảm đang vừa lo tăng gia sản xuất, vừa lo chiến đấu; những lớp trai trẻ bừng bừng khí thé ra trận. Tat cả những gương sáng đó đều có mặt trong một thé loại văn học mang đậm tính thời sự- đó là thé ký.
Có thé kể đến Truyén và ký (Trần Đăng); Nhật ký ở rừng (Nam Cao); Ký sự Cao Lạng (Nguyễn Huy Tưởng); 7u} but kháng chiến (Nguyễn Tuân).Đây đều là những tác phẩm tiêu biểu của thể loại ký trong giai đoạn văn học này. Ngoài ra trong giai đoạn văn học này, văn xuôi lay bối cảnh trực tiếp là nông thôn còn có các truyện ngăn Thur nhà (Hồ Phương); Làng (Kim Lân); Con Trâu (Nguyễn Văn Bồng).đều là những sáng tác tiêu biểu có giá trị. Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, miền Bắc được giải phóng, Đảng ta đã chủ trương chuyển sang làm cách mạng xã hội chủ nghĩa. Trước khi bắt đầu những nhiệm vụ của cách mạng xã hội chủ nghĩa, miền Bắc phải bắt tay vào công cuộc hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục kinh tế-xã hội do bi tan phá nặng nề.
Một số van đề lớn được đặt ra là làm sao đáp ứng được những nhu cầu của con người sau những năm tháng chiến tranh, đồng thời vẫn phải củng cô, gitt vững mục tiêu của Đảng của cách mang. 19 Nông thôn Việt Nam trong giai đoạn này nổi bật lên hai sự kiện quan trọng: đó là Cải cách ruộng đất và phong trào hợp tác hoá nông nghiệp. Hai sự kiện này thé hiện rat rõ trong văn học. Văn xuôi viết về nông thôn trong cải cách ruộng đất có các sáng tác: Bếp đỏ lửa (Nguyễn Van Bong); Nông dân với dia chủ (Nguyễn Công Hoan); Ong lao hàng xóm (Kim Lân).
Day là những tác phẩm của các tác giả có quá trình và có thành tựu sáng tác từ trước cách mạng. Văn xuôi viết về phong trào hợp tác xã nông nghiệp cũng có những sáng tác tiêu biểu của các tác giả như: Đào Vũ với Cái sân gạch và Vụ lúa chiêm; Vũ Thị Thường với Cái hom giỏ và Gánh vác; Nguyên Khải với Tam nhìn xa, Mùa lạc, Hãy di xa hơn nữa, Gia đình lớn; Nguyễn Kiên với Đông thang năm và Vu mùa chưa gặt. Thời kì 1964 — 1975: Giai đoạn này cả nước bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ. Nông thôn vừa là hậu phương lớn chi viện cho miền Nam tiền tuyến vừa sẵn sang chiến đấu giữ vững nén độc lập, bởi vậy văn xuôi viết về nông thôn trong giai đoạn chống Mỹ ít nhiều mang âm điệu sử thi anh hùng.
Đây là thời kỳ văn xuôi viết về nông thôn có được nhiều thành tựu cả về tác phẩm lẫn đội ngũ sáng tác, có thể ké đến: Nguyễn Thị Ngọc Tú với Dat lành, Budi sang; Chu Van với Bão Bién, Dat mặn; Nguyễn Khải với Chủ tịch huyện; Nguyễn Minh Châu với Cửa sông.Nhìn chung, qua các tác phẩm trên đã phản ánh được hiện thực nông thôn sống động với nhiều sự kiện và chỉ tiết tiêu biểu, nêu được những tắm gương sáng về nhiệt tình cách mạng và khí thế chống Mỹ cứu nước của hậu phương. Đặc biệt qua các tác phẩm của Chu Văn (Bảo biển) hay Nguyễn Khải (Chủ tịch huyện) đã có cái nhìn sâu sắc, toàn diện hơn về người nông dân. Văn xuôi viết về nông thôn giai đoạn 1975 — 1985 bắt đầu chuyên động với các tiểu thuyết Nhìn dưới mặt trời (Nguyễn Kiên); Bí thư cấp huyện (Đào Vũ). Day là hai tác giả có quá trình viết về nông thôn từ rất sớm, nhưng những vấn đề được lựa chọn đưa vào thời điểm đó thực sự là những vấn đề xã hội bức thiết: đó là hiện tượng 6 dù, tham 6 được nhac tới đê mọi người cùng nhận thức va tìm cách loại bỏ 20 (Nhìn dưới mặt trời); đó còn là nỗi khổ cực của người nông dân do cách thức làm ăn ở hợp tác cũ khi chưa có khoán được dé cập khá quyết liệt (Bi thu cấp huyện ).2 Tiểu thuyết viết về nông thôn sau doi mới (1986) Năm 1986 được xem là mốc lớn đánh dấu sự đổi mới toàn diện của đất nước.
Diện mạo của đất nước dần dần được thay đổi, dần dần được thoát khỏi thời kì khủng hoảng kinh tế, xã hội chuyển sang thời kì phát triển mới. Tuy nhiên, thời cơ bao giờ cũng đi đôi với thách thức. Khi đất nước tiến hành đổi mới với mong muốn Việt Nam làm bạn với tất cả các nước trên thế giới, cũng có nghĩa là sự giao lưu văn hóa quốc tế chưa bao giờ diễn ra sâu rộng như lúc này. Cùng một lúc nhiều luồng văn hóa, tư tưởng của nước ngoài lại xâm nhập vảo nước ta.
Trong quá trình giao lưu, tiếp xúc, chúng ta vừa nhận những yếu tố văn hóa tích cực vừa tiếp nhận những yêu tô tiêu cực ngoài ý muôn. Địa bàn nông thôn trong chiến tranh là hậu phương lớn, vững chắc, giờ đây trước cơn lốc xoay của cơ chế thị trường, của quá trình đôi mới và hội nhập, nhất là khi Đảng ta đang quyết tâm đây mạnh công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước vì những mục tiêu cao cả của dân tộc thì địa bàn ấy ngày càng bị thu hẹp. Cùng với nó là các cơ tầng văn hóa, không gian văn hóa vốn được lưu giữ từ bao đời nay có nguy cơ bị đảo lộn, xói mòn. Người nông dân không còn thuần túy làm nông nghiệp và sống ở nông thôn như giai đoạn trước.
Nhiều người rơi vào bi kịch thương tâm do vô tình hoặc do nhận thức. Nhiều người thất nghiệp ngay chính ở mảnh đất chôn nhau cắt rốn của mình,.cùng bao hệ lụy khác. Đó cũng chính là những trăn trở, băn khoăn của các nhà văn về một vùng đất tưởng như chỉ có sự tĩnh lặng, yên bình. Thực tế cuộc sống, xã hội thay đôi đã dẫn đến sự thay đôi của tư duy văn học, bởi văn học nghệ thuật là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan.
Khi nhu cầu nhận thức và thưởng thức nghệ thuật nói chung, và văn học nói riêng đã thay đổi buộc người viết cũng phải thay đổi. Xu hướng dân chủ hóa đã làm cho các nhà văn có điều kiện bộc lộ hết khả năng, cá tính sáng tạo của mình, đồng thời tiếp thu 21 và vận dụng những yêu tô mới mẻ của văn học nhân loại. Điêu đó sẽ có ảnh hưởng rât quan trọng trong việc xây dựng nên văn học Việt Nam đang trong quỹ đạo phát triên và hội nhập cùng với văn học của thê giới. Bôi cảnh xã hội khiên ý thức nghệ thuật của nhiêu cây bút có sự biên chuyên rõ rệt.
Nhiéu nha van đã không còn coi trọng miêu tả sự kiện lịch sử là mục đích của nghệ thuật mà coi trọng hơn đến hiện thực con người. Hiện thực đời sống của xã hội đã trở thành mảnh đất đầy tiềm năng cho sự phát triển và sáng tạo thê loại tiểu thuyết.