Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng" do nghiên cứu sinh thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của GS. Phan Cự Đệ, hoàn thành năm 2002 tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn – Đại học Quốc gia Hà Nội (Chuyên ngành: Văn học Việt Nam, Mã số: 5.33).

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong tiến trình lịch sử văn học Việt Nam giai đoạn 1930–1945, Vũ Trọng Phụng là tác gia có sở trường ở cả hai thể loại phóng sự và tiểu thuyết, đóng góp quan trọng vào việc đẩy nhanh quá trình hiện đại hóa văn học dân tộc. Tuy nhiên, tên tuổi và văn nghiệp của ông trong một thời gian dài đã trải qua nhiều thăng trầm, chịu định kiến từ phía giới phê bình và độc giả. Sau năm 1986, việc thẩm định văn nghiệp Vũ Trọng Phụng từng bước được nhìn nhận khách quan hơn, song vẫn tồn tại hiện tượng cực đoan: hoặc hạ thấp, hoặc đề cao quá mức các sáng tác của ông.

Về mặt lịch sử nghiên cứu, dù đã có gần 200 công trình lớn nhỏ bàn về Vũ Trọng Phụng, phần lớn các bài viết chỉ tập trung vào thể loại phóng sự, khảo sát một loại hình tiểu thuyết cụ thể hoặc phân tích đơn lẻ ở ba tác phẩm quen thuộc (Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê). Việc nghiên cứu toàn diện, có hệ thống toàn bộ di sản tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng từ góc độ đặc trưng thể loại vẫn là một khoảng trống học thuật cần được giải quyết.

Mục tiêu nghiên cứu

  1. Khảo sát và đánh giá một cách có hệ thống toàn bộ tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng từ góc độ đặc trưng thể loại.
  2. Chỉ ra những đóng góp của nhà văn trên các phương diện nghệ thuật cơ bản: xây dựng nhân vật, kết cấu và ngôn ngữ tiểu thuyết.
  3. Đặt tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng trong tiến trình phát triển của tiểu thuyết Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX (1900–1945), so sánh với các nhà văn cùng thời để khẳng định những sáng tạo riêng biệt, đồng thời xác định những hạn chế về mặt nghệ thuật của tác giả.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Toàn bộ 08 cuốn tiểu thuyết đã hoàn thành của Vũ Trọng Phụng, bao gồm: Dứt tình (1934), Giông tố (1936), Số đỏ (1936), Vỡ đê (1936), Làm đĩ (1936/1937), Lấy nhau vì tình (1937), Trúng số độc đắc (1938/1939), và di cảo Người tù được tha.
  • Giới hạn phạm vi: Luận án không khảo sát tiểu thuyết Quý phái do tác phẩm này chỉ đăng dở dang trên Đông Dương tạp chí.
  • Phạm vi văn bản: Các văn bản tác phẩm được sử dụng dựa trên Tuyển tập Vũ Trọng Phụng (2 tập, in lần 2, Nxb Văn học) đối với Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê, Người tù được tha; bản in năm 1951 của Nxb Mai Lĩnh đối với Dứt tình, Lấy nhau vì tình; bản in năm 1990 của Nxb Văn học đối với Trúng số độc đắc, Làm đĩ. Đối với Giông tố, luận án kết hợp đối chiếu bản in năm 1937 của Nxb Văn Thanh (Hà Nội) để khôi phục các đoạn bị lược bỏ trong các bản in sau này.
  • Phạm vi thời gian và không gian: Bối cảnh văn học Việt Nam giai đoạn 1900–1945, trọng tâm là thập niên 1930.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Luận án đã phân kỳ và hệ thống hóa lịch sử phê bình, tiếp nhận tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng qua bốn giai đoạn phát triển chính:

1. Thời kỳ từ năm 1930 đến tháng 8/1945

Ngay khi các tiểu thuyết đầu tay ra đời, văn phẩm của Vũ Trọng Phụng đã thu hút sự chú ý của giới báo chí:

  • Báo Đuốc Nhà Nam và Tràng An ghi nhận nghệ thuật tả tâm lý trong Dứt tình (1934), song Nguyễn Lê Thanh lại đánh giá tâm lý nhân vật chưa đạt.
  • Năm 1936, khi Vũ Trọng Phụng đồng thời công bố bốn cuốn tiểu thuyết lớn, Hán Quy (báo Tràng An) đánh giá cao lối văn tả thực xã hội ngang hàng với Nguyễn Công Hoan.
  • Ngược lại, trên báo Ngày nay, Nhất Chi Mai và Thái Phi thuộc nhóm Tự Lực văn đoàn đã công kích gay gắt, quy kết sáng tác của ông là "văn chương dâm uế", nhìn đời qua "cặp kính đen". Sự đối lập này phản ánh cuộc tranh luận giữa hai quan niệm: "tiểu thuyết là tiểu thuyết" (thoát ly, lãng mạn) và "tiểu thuyết là sự thực ở đời" (tả thực xã hội), kết hợp với yếu tố cạnh tranh báo chí giữa tờ Phong hóa / Ngày nay và Hà Nội báo / Tiểu thuyết thứ bảy.
  • Các nhà nghiên cứu đương thời có những đánh giá trái chiều: Trương Chính (Dưới mắt tôi) khen óc quan sát nhưng đồng tình với Thái Phi khi coi văn ông có yếu tố khiêu dâm; Vũ Ngọc Phan (Nhà văn hiện đại) xếp Vũ Trọng Phụng vào mục các nhà viết phóng sự dù dành 18 trang viết về tiểu thuyết, khen Giông tố nhưng chê tính hoạt kê trong Số đỏ; Mộng Sơn và Lan Khai có xu hướng lạm dụng phân tâm học thiếu căn cứ để đánh giá nhà văn.
  • Sau khi nhà văn qua đời năm 1939, Tạp chí Tao đàn ra số đặc biệt tưởng niệm với các bài viết của Nguyễn Tuân, Ngô Tất Tố, Tam Lang, Lan Khai, Nguyễn Triệu Luật, Trương Tửu, Ngọc Giao, khẳng định phẩm cách và sức mạnh điển hình hóa của các nhân vật như Nghị Hách, Xuân tóc đỏ.

2. Thời kỳ từ tháng 8/1945 đến năm 1954

Trong bối cảnh xây dựng phương pháp hiện thực xã hội chủ nghĩa thời kỳ kháng chiến, tại Hội nghị tranh luận văn nghệ Việt Bắc (tháng 9/1949), tác phẩm của Vũ Trọng Phụng được nhiều nhà văn nhắc đến:

  • Nguyên Hồng khẳng định giá trị vạch trần xã hội thối nát qua Số đỏ.
  • Tố Hữu nhận định văn học Vũ Trọng Phụng tuy không mang tính định hướng cách mạng nhưng có công vạch rõ thực trạng xấu xa của xã hội cũ.
  • Nguyễn Đình Thi so sánh sức mạnh miêu tả hiện thực của Vũ Trọng Phụng tương tự như văn hào Honoré de Balzac.

3. Thời kỳ từ năm 1955 đến năm 1975

  • Tại miền Bắc: Giai đoạn 1955–1957, ba tác phẩm Giông tố, Số đỏ, Vỡ đê được tái bản. Các công trình của Thiếu Quang (Vũ Trọng Phụng - đời sống và con người, 1957), Văn Tâm (Vũ Trọng Phụng - nhà văn hiện thực, 1957), nhóm Lê Quý Đôn (Lược thảo lịch sử văn học Việt Nam, 1957) bước đầu phân tích nghệ thuật trào phúng và xây dựng nhân vật. Sau năm 1958, do ảnh hưởng của vụ việc Nhân văn Giai phẩm, phê bình văn học mang tính xã hội học dung tục xuất hiện: Hoài Thanh, Hoàng Văn Hoan, Vũ Đức Phúc, Nguyễn Đức Đàn quy kết tư tưởng nhà văn là "tự nhiên chủ nghĩa", "đồi trụy" hoặc "tư sản phản động". Điểm sáng học thuật thời kỳ này là công trình của GS. Phan Cự Đệ khi đưa "Vấn đề Vũ Trọng Phụng" vào giáo trình đại học năm 1961 và khảo sát hệ thống nghệ thuật tiểu thuyết của ông trong chuyên luận Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại (1974).
  • Tại miền Nam: Các học giả như Phạm Thế Ngũ (Việt Nam văn học sử giản ước tân biên), Thanh Lãng (Bảng lược đồ văn học Việt Nam), Dương Nghiễm Mậu thừa nhận tài năng miêu tả hiện thực và tính chất điển hình của thời đại trong văn phẩm Vũ Trọng Phụng.

4. Thời kỳ từ sau năm 1975 đến năm 2002

  • Nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá đưa Vũ Trọng Phụng vào Từ điển văn học. Năm 1987, Tuyển tập Vũ Trọng Phụng (2 tập) do Nguyễn Đăng Mạnh và Trần Hữu Tá sưu tầm, biên soạn được xuất bản. Hai cuộc hội thảo khoa học lớn tại TP. Hồ Chí Minh (1987) và Hà Nội (1989) cùng việc phát hành Toàn tập Vũ Trọng Phụng (1999–2000) đã phục hồi toàn diện vị thế của tác giả.
  • Hàng loạt nhà nghiên cứu như Nguyễn Đăng Mạnh, Nguyễn Hoành Khung, Phan Cự Đệ, Trần Hữu Tá, Hoàng Ngọc Hiến, Đỗ Đức Hiểu, Hoàng Thiếu Sơn, Chế Lan Viên, Văn Tâm, Vương Trí Nhàn, Lại Nguyên Ân đã tiếp cận văn nghiệp Vũ Trọng Phụng dưới góc độ thi pháp học, văn hóa học và ngôn ngữ học.
  • Trên bình diện quốc tế, Greg Lockhart và Monique Lockhart dịch, giới thiệu Cơm thầy cơm cô trong công trình The Light of the Capital (1996), được nhà phê bình James Banerian phân tích trên tạp chí World Literature Today.
Thời kỳ Đại diện tiêu biểu Xu hướng đánh giá chính
1930 – 1945 Báo Tràng An, Đuốc Nhà Nam, Báo Ngày nay (Nhất Chi Mai, Thái Phi), Trương Chính, Vũ Ngọc Phan, Tạp chí Tao đàn Khen ngợi nghệ thuật tả thực; công kích "văn chương dâm uế"; tranh luận giữa hai phái tả chân và Tự Lực văn đoàn.
1945 – 1954 Hội nghị Việt Bắc (1949): Nguyên Hồng, Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi Thừa nhận giá trị phơi bày hiện thực đen tối của xã hội thực dân nửa phong kiến.
1955 – 1975 Miền Bắc: Thiếu Quang, Văn Tâm, Phan Cự Đệ, Hoài Thanh, Vũ Đức Phúc. Miền Nam: Phạm Thế Ngũ, Thanh Lãng Khẳng định bước đầu, tiếp đó là giai đoạn quy chụp tự nhiên chủ nghĩa; nghiên cứu thi pháp của Phan Cự Đệ; miền Nam đánh giá khách quan.
1975 – 2002 Nguyễn Đăng Mạnh, Phan Cự Đệ, Nguyễn Hoành Khung, Đỗ Đức Hiểu, Hoàng Ngọc Hiến, Greg Lockhart Đánh giá lại toàn diện, ứng dụng thi pháp học, giải mã cấu trúc nghệ thuật và ngôn ngữ trào phúng.

Khoảng trống luận án lựa chọn giải quyết: Kế thừa các thành tựu của người đi trước, luận án là công trình đầu tiên khảo sát đồng bộ toàn bộ 08 cuốn tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng dựa trên hệ thống lý thuyết thể loại, tập trung vào ba bình diện then chốt: nghệ thuật xây dựng nhân vật, đặc điểm thể loại - kết cấu và cấu trúc ngôn ngữ văn xuôi.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm sử dụng

  • Lý thuyết thể loại và thi pháp học:
    • Vận dụng mô hình phân loại ba phương thức tự sự – trữ tình – kịch của G. W. F. Hegel.
    • Vận dụng quan niệm thi pháp tiểu thuyết của M. Bakhtin: đối lập bản chất giữa sử thi (thế giới quá khứ tuyệt đối, thiêng liêng, hoàn tất) và tiểu thuyết (thế giới của đời tư, tiếp xúc tối đa với thực tại đang dở dang, luôn được đánh giá lại); khái niệm tiểu thuyết hóa và cấu trúc đối thoại đa thanh.
    • Vận dụng luận điểm của V. Belinsky về tiểu thuyết như là "sử thi của đời tư".
    • Sử dụng các định nghĩa thể loại từ Từ điển bách khoa toàn thư World Book (1999) và quan niệm tiểu thuyết của các tác giả Việt Nam đầu thế kỷ XX (Phạm Quỳnh, Thạch Lam, Hoàng Ngọc Phách, Vũ Bang).
  • Lý thuyết phân tâm học: Hệ thống khái niệm của Sigmund Freud về vô thức, ức chế bản năng, ẩn ức sinh lý và cơ chế dồn nén được dùng để soi chiếu các hành vi nhân vật.
  • Kỹ thuật liên ngành nghệ thuật: Khái niệm ghép nối (montage) của điện ảnh và cắt dán (collage) của hội họa được ứng dụng để phân tích cấu trúc bối cảnh và kết cấu tiểu thuyết.

Phương pháp nghiên cứu

  1. Phương pháp văn học sử: Đặt các tác phẩm của Vũ Trọng Phụng vào hoàn cảnh lịch sử - xã hội thập niên 1930 để thấy rõ sự tác động của đời sống đối với nội dung tư tưởng và cấu trúc hình thức tác phẩm.
  2. Phương pháp hệ thống: Khảo sát các tiểu thuyết như một chỉnh thể thống nhất mang phong cách nghệ thuật riêng biệt của tác giả trong tương quan với tiến trình hiện đại hóa văn học.
  3. Phương pháp phân loại – thống kê: Phân định các nhóm thể loại tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng; thống kê các tần suất từ ngữ, cú pháp câu và tình huống ngẫu nhiên nhằm cung cấp luận cứ định lượng cho các nhận định định tính.
  4. Phương pháp so sánh văn học: Đặt tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng trong thế so sánh đối chiếu với các tác gia cùng thời (Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nguyên Hồng, Nam Cao, Nhất Linh, Khái Hưng) và các tác giả thế hệ trước (Hồ Biểu Chánh, Hoàng Ngọc Phách).

Nguồn tư liệu nghiên cứu

Văn bản 08 cuốn tiểu thuyết hoàn chỉnh của Vũ Trọng Phụng, tư liệu báo chí thời kỳ 1930–1945 (Hà Nội báo, Tiểu thuyết thứ bảy, Ngày nay, Tràng An, Đông Tây, Đuốc Nhà Nam, Tao đàn) và các công trình chuyên khảo, kỷ yếu hội thảo xuất bản từ năm 1957 đến năm 2001.


Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Quan niệm về tiểu thuyết. Phân loại tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng

Chương 1 làm rõ quá trình hình thành quan niệm thể loại tiểu thuyết trong văn học Việt Nam giai đoạn 1900–1945 và xác định vị trí của Vũ Trọng Phụng trong tiến trình này.

  • Quan niệm về tiểu thuyết giai đoạn 1900–1945: Đầu thế kỷ XX, dưới ảnh hưởng của văn hóa Pháp, báo chí và chữ quốc ngữ, tiểu thuyết hiện đại Việt Nam hình thành từ các mốc thử nghiệm: Truyện thầy Lazaro Phiền (1887, Nguyễn Trọng Quản), Hoàng Tố Oanh hàm oan (1910, Trần Thiên Trung), Tố Tâm (1925, Hoàng Ngọc Phách). Giới cầm bút chuyển dần từ quan niệm văn dĩ tải đạo, câu văn biền ngẫu sang quan niệm tiểu thuyết là tác phẩm văn xuôi hư cấu, phản ánh hiện thực đời thường và đời sống cá nhân.
  • Quan niệm tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng: Đối lập với khuynh hướng thi vị hóa cuộc sống của Tự Lực văn đoàn ("tiểu thuyết là tiểu thuyết"), Vũ Trọng Phụng khẳng định quan niệm "tiểu thuyết là sự thực ở đời". Tả thực xã hội không chỉ đơn thuần là sao chép đời sống mà là phương thức phản ánh bản chất tha hóa của xã hội thực dân nửa phong kiến, hướng tới sứ mệnh cải tạo xã hội.
  • Phân loại tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng: Luận án tiến hành phân chia 08 tiểu thuyết của tác giả thành các nhóm loại hình:
    • Tiểu thuyết xã hội tả thực: Giông tố, Vỡ đê.
    • Tiểu thuyết trào phúng: Số đỏ.
    • Tiểu thuyết tâm lý - luận đề: Làm đĩ, Dứt tình, Lấy nhau vì tình, Trúng số độc đắc, Người tù được tha.

Chương 2: Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng

Chương 2 tập trung phân tích các phương thức kiến tạo nhân vật mang tính cách tân của nhà văn:

  • Nhân vật trung tâm không phải là nhân vật chính diện: Vũ Trọng Phụng từ bỏ lối phân tuyến thiện - ác rạch ròi truyền thống. Các nhân vật trung tâm của ông mang tính cách đa diện, kết hợp cả nét cao thượng lẫn thấp hèn, nghiêm trang lẫn nực cười (như Long, Thị Mịch trong Giông tố, Phú trong Vỡ đê).
  • Nghệ thuật điển hình hóa:
    • Điển hình hóa giai cấp tư sản mại bản qua nhân vật Tạ Đình Hách (Nghị Hách) trong Giông tố với tiềm lực kinh tế quy mô lớn (sở hữu mỏ than, hàng chục nóc nhà tây, trang trại mười mẫu tây, lừa đảo ruộng đất, liên kết tư bản Pháp giữ độc quyền nước mắm, bóc lột hạ lương công nhân mỏ than) và địa vị chính trị mua chuộc chức nghị viên.
    • Điển hình hóa tính cách lưu manh, cơ hội trong bối cảnh xã hội nhố nhăng qua nhân vật Xuân tóc đỏ trong Số đỏ.
  • Nhân vật tha hóa: Khắc họa sự biến chất của con người dưới áp lực tàn bạo của hoàn cảnh xã hội và sức mạnh đồng tiền (sự tha hóa của Thị Mịch từ thôn nữ chất phác thành kẻ dâm đãng; sự biến chất của Long, Phúc).
  • Sự luân phiên phối hợp các góc nhìn: Sử dụng linh hoạt điểm nhìn trần thuật bên ngoài của tác giả, điểm nhìn bên trong của nhân vật qua độc thoại nội tâm và điểm nhìn gián tiếp từ dư luận xã hội.
  • Ảnh hưởng của phân tâm học Freud: Vận dụng lý thuyết bản năng tính dục và vô thức để lý giải tâm lý các nhân vật dồn nén ẩn ức sinh lý như bà Phó Đoan, Phước "em chả" trong Số đỏ. Đồng thời, luận án chỉ ra hạn chế khi nhà văn lạm dụng lý thuyết tự nhiên chủ nghĩa trong Làm đĩ, khiến nhân vật Huyền bị xơ cứng như một thực nghiệm luận đề.

Chương 3: Những đặc điểm về thể loại của tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng

Chương 3 khảo sát cấu trúc thể loại trên các bình diện thi pháp không gian, thời gian và kết cấu:

  • Không gian nghệ thuật: Xây dựng không gian đối lập gay gắt giữa nông thôn bần cùng và thành thị phù hoa, giữa cung phủ xa hoa của tầng lớp thượng lưu và xóm ngõ lầm than của thợ thuyền, gái điếm.
  • Thời gian nghệ thuật: Thời gian được ý thức như một dòng chảy biến động gấp gáp, phản ánh nhịp điệu sinh hoạt đô thị hóa và tâm lý lo âu của con người thời đại giao thời.
  • Sử dụng ngẫu nhiên như một thủ pháp kết cấu: Tận dụng tối đa các biến cố ngẫu nhiên, bất ngờ để tạo bước ngoặt cốt truyện và đẩy kịch tính lên cao độ, nhưng các biến cố ngẫu nhiên này luôn được chi phối bởi tính tất yếu logic của hoàn cảnh xã hội.
  • Kỹ thuật điện ảnh và hội họa: Ứng dụng kỹ thuật ghép nối (montage) tạo ra các bức tranh tương phản liên tiếp và kỹ thuật cắt dán (collage) để đưa những mảng hiện thực báo chí thô ráp vào cấu trúc tiểu thuyết.
  • Khả năng tổng hợp thể loại: Khả năng dung hợp yếu tố phóng sự, kịch tính sân khấu và trào phúng hoạt kê vào trong một chỉnh thể tự sự, đưa tác phẩm Số đỏ đạt tới trình độ mẫu mực về tính tổng hợp thể loại.

Chương 4: Ngôn ngữ tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng

Chương 4 nghiên cứu đặc trưng ngôn ngữ nghệ thuật và tổ chức câu văn xuôi:

  • Lời văn đối thoại: Đối thoại linh hoạt, giàu tính khẩu ngữ, đóng vai trò thay thế lời dẫn truyện để thúc đẩy hành động kịch và khắc họa tâm lý nhân vật trong các tiểu thuyết xã hội.
  • Tính chất cá thể hóa ngôn ngữ nhân vật: Mỗi nhân vật có một giọng điệu, từ ngữ riêng biệt gắn liền với tầng lớp xuất thân và tâm lý (lối nói hách dịch của Nghị Hách, ngôn ngữ lưu manh nửa mùa của Xuân tóc đỏ, giọng điệu giả đạo đức của bà Phó Đoan).
  • Ngôn ngữ trào phúng trong Số đỏ: Sử dụng nghệ thuật giễu nhại (parody), nhại các phong trào chính trị, phong trào Âu hóa thể thao, nhại ngôn ngữ thơ ca lãng mạn và tạo ra lớp từ ngữ lai căng "tạp-pí-lù".
  • Đặc điểm cú pháp câu văn hiện đại:
    • Tần suất xuất hiện dày đặc của các phó từ chỉ trạng thái biến cố đột biến: thốt nhiên, bỗng nhiên, tức khắc, tức thì, lập tức, bất thần, thoạt nhiên... diễn tả nhịp điệu biến động bất ngờ của đời sống.
    • Sử dụng phổ biến cấu trúc câu bị động tiếp thu từ ngữ pháp phương Tây nhằm nhấn mạnh kết quả của hành động khách quan.
    • Sử dụng các câu văn dài có sự lặp lại liên tiếp của các mệnh đề trạng ngữ, định ngữ, vị ngữ nhằm biểu đạt sự bức xúc, day dứt nội tâm của nhân vật.
Chương Tên chương Các nội dung cốt lõi
Chương 1 Quan niệm về tiểu thuyết. Phân loại tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng Khảo cứu tiến trình hình thành thể loại 1900–1945; quan niệm "tiểu thuyết là sự thực ở đời"; phân chia 08 tiểu thuyết thành các nhóm xã hội, trào phúng và tâm lý - luận đề.
Chương 2 Nghệ thuật xây dựng nhân vật trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng Phân tích nhân vật phi chính diện, nghệ thuật điển hình hóa (Nghị Hách, Xuân tóc đỏ), nhân vật tha hóa, luân phiên góc nhìn và dấu ấn phân tâm học Freud.
Chương 3 Những đặc điểm về thể loại của tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng Thi pháp không gian đối lập, thời gian gấp gáp; thủ pháp kết cấu ngẫu nhiên; kỹ thuật ghép nối montage, cắt dán collage; khả năng tổng hợp thể loại trong Số đỏ.
Chương 4 Ngôn ngữ tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng Nghệ thuật đối thoại kịch tính; cá thể hóa ngôn ngữ nhân vật; ngôn ngữ trào phúng giễu nhại; đặc trưng cú pháp câu văn hiện đại với phó từ đột biến và cấu trúc lặp.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp mới về mặt lý luận và thực tiễn

  1. Khảo sát hệ thống thể loại: Luận án là công trình nghiên cứu đồng bộ, toàn diện đầu tiên về toàn bộ 08 tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng từ góc độ thi pháp thể loại, khắc phục lối tiếp cận phân tán, cục bộ ở các công trình trước đó.
  2. Làm rõ nghệ thuật xây dựng nhân vật: Luận án chỉ ra đóng góp của Vũ Trọng Phụng trong việc xây dựng loại nhân vật trung tâm không phải là nhân vật chính diện, nhân vật tha hóa mang tính đa diện, phá vỡ tính quy phạm của thi pháp truyền thống; chứng minh sự tiếp thu phân tâm học Freud trong việc miêu tả vô thức và ẩn ức sinh lý.
  3. Phát hiện về cấu trúc và kỹ thuật thể loại: Luận án chỉ ra sự kết hợp các thủ pháp nghệ thuật hiện đại phương Tây như ghép nối (montage), cắt dán (collage), nghệ thuật kịch và trào phúng trong cấu trúc tiểu thuyết; phân tích bản chất của phạm trù ngẫu nhiên như một thủ pháp kết cấu hữu cơ.
  4. Phân tích cú pháp văn xuôi hiện đại: Luận án phát hiện và chứng minh các đặc trưng phong cách học trong câu văn Vũ Trọng Phụng: sự hiện diện có tính quy luật của các phó từ chỉ tính chất đột biến (thốt nhiên, bỗng nhiên, tức khắc...), cấu trúc câu bị động và kỹ thuật điệp cấu trúc mệnh đề để thể hiện nhịp sống hiện đại.

Kiến nghị và giải pháp học thuật

  • Kết quả nghiên cứu cung cấp cơ sở tư liệu và phương pháp luận giúp chuẩn hóa các bài giảng về tác gia Vũ Trọng Phụng trong giáo trình văn học Việt Nam tại các trường đại học, cao đẳng.
  • Cung cấp tài liệu tham khảo trực tiếp cho việc giảng dạy và biên soạn sách giáo khoa môn Ngữ văn bậc trung học phổ thông đối với các trích đoạn tác phẩm Số đỏ, Giông tố.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế được luận án chỉ ra

  • Luận án phân tích thấy ở các tiểu thuyết tâm lý - ái tình (Dứt tình, Lấy nhau vì tình), nghệ thuật tổ chức đối thoại của tác giả đôi chỗ còn thiếu tính linh hoạt tự nhiên, ngòi bút có phần vụng về so với các tiểu thuyết xã hội.
  • Việc kết hợp phân tâm học với chủ nghĩa tự nhiên trong Làm đĩ dẫn đến việc xây dựng nhân vật Huyền bị công thức hóa, biến thành một dạng minh họa giả định khoa học xơ cứng.
  • Do tập trung tối đa vào tính xung đột kịch tính và trào phúng xã hội, tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng hầu như thiếu vắng không gian thiên nhiên và các yếu tố trữ tình thơ mộng.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng khảo sát mối quan hệ giao thoa giữa thể loại phóng sự và tiểu thuyết trong toàn bộ sự nghiệp sáng tác của Vũ Trọng Phụng.
  • So sánh đối chiếu thi pháp tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng với các hiện tượng tiểu thuyết hiện thực phê phán và tự nhiên chủ nghĩa trong văn học khu vực Đông Á và phương Tây cùng thời kỳ.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và nhà nghiên cứu: Luận án cung cấp một khung phân tích thể loại hoàn chỉnh, kết hợp giữa thi pháp học, văn học sử và ngôn ngữ học cấu trúc để tiếp cận một tác gia văn xuôi phức tạp.
  • Đối với giảng viên và giáo viên Ngữ văn: Là tài liệu tham khảo chi tiết về hệ thống tác phẩm, các trích dẫn văn bản gốc và các dẫn chứng phân tích ngữ pháp, nhân vật phục vụ trực tiếp cho việc giảng dạy tác giả Vũ Trọng Phụng ở bậc đại học và phổ thông.
  • Đối với sinh viên chuyên ngành khoa học xã hội: Cung cấp nguồn tư liệu lịch sử tiếp nhận văn học suốt bảy thập kỷ (1930–2002) với các dữ kiện về đời sống báo chí, xuất bản và các khuynh hướng phê bình tại Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án khảo sát chính xác những cuốn tiểu thuyết nào của Vũ Trọng Phụng?

Luận án khảo sát 08 cuốn tiểu thuyết đã hoàn thành của Vũ Trọng Phụng: Dứt tình (1934), Giông tố (1936), Số đỏ (1936), Vỡ đê (1936), Làm đĩ (1936/1937), Lấy nhau vì tình (1937), Trúng số độc đắc (1938/1939) và di cảo Người tù được tha. Tác phẩm Quý phái không thuộc phạm vi nghiên cứu do chỉ đăng dở dang trên Đông Dương tạp chí.

2. Sự khác biệt giữa quan điểm tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng và nhóm Tự Lực văn đoàn là gì?

Tự Lực văn đoàn (Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo) chủ trương đả phá lễ giáo phong kiến trên lập trường lãng mạn với quan niệm "tiểu thuyết là tiểu thuyết" (chú trọng tưởng tượng, thi vị hóa đời sống), trong khi Vũ Trọng Phụng kiên trì quan niệm "tiểu thuyết là sự thực ở đời", phất cao ngọn cờ tả thực xã hội nhằm phơi bày trực diện thực trạng thối nát của xã hội thực dân nửa phong kiến.

3. Nhân vật Nghị Hách trong "Giông tố" được luận án phân tích như một điển hình giai cấp nào?

Nghị Hách được phân tích là điển hình hoàn chỉnh cho giai cấp tư sản mại bản Việt Nam thời kỳ thuộc địa. Nhân vật này sở hữu tiềm lực kinh tế quy mô lớn (mỏ than ở Quảng Yên, 30 nóc nhà tây ở Hà Nội, 40 nóc nhà ở Hải Phòng, đồn điền mười mẫu ta), thực hiện các thủ đoạn tích lũy tư bản tội ác, liên kết với tư bản Pháp độc quyền nước mắm, bóc lột hạ lương công nhân mỏ than và dùng tiền mua chuộc vị trí chính trị (nghị viên Bắc Kỳ).

4. Dấu ấn phân tâm học Freud được thể hiện như thế nào trong tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng?

Phân tâm học Freud thể hiện qua việc tác giả miêu tả bản năng sinh lý vô thức, sự dồn nén và các triệu chứng ẩn ức sinh lý ở các nhân vật như bà Phó Đoan, Phước "em chả" trong Số đỏ, cũng như trong các đoạn độc thoại nội tâm của Thị Mịch trong Giông tố. Tuy nhiên, trong Làm đĩ, việc kết hợp máy móc phân tâm học với chủ nghĩa tự nhiên đã khiến nhân vật Huyền bị đông cứng thành một minh họa lý thuyết.

5. Những dấu hiệu cú pháp câu văn nào thể hiện tính hiện đại trong tiểu thuyết Vũ Trọng Phụng?

Tính hiện đại trong cú pháp câu văn của Vũ Trọng Phụng thể hiện qua ba đặc điểm: (1) Mật độ xuất hiện cao của các phó từ chỉ sự biến chuyển đột biến (thốt nhiên, bỗng nhiên, tức khắc, tức thì, lập tức, bất thần); (2) Sử dụng phổ biến cấu trúc câu bị động theo lối tư duy phân tích phương Tây; (3) Cấu trúc câu đơn mở rộng lặp lại liên tiếp các mệnh đề trạng ngữ, vị ngữ để nhấn mạnh trạng thái day dứt, bức xúc của nhân vật.


Kết luận

Luận án tiến sĩ ngữ văn của tác giả là công trình chuyên khảo hệ thống về toàn bộ 08 tiểu thuyết của Vũ Trọng Phụng từ góc độ đặc trưng thể loại. Thông qua việc phân tích toàn diện nghệ thuật xây dựng nhân vật tha hóa, kết cấu ngẫu nhiên - tổng hợp và cú pháp câu văn hiện đại, luận án đã khẳng định những đóng góp to lớn của Vũ Trọng Phụng đối với tiến trình hiện đại hóa văn xuôi Việt Nam nửa đầu thế kỷ XX. Công trình đồng thời cung cấp bức tranh lịch sử tiếp nhận học thuật khách quan, xác định những điểm thành công cũng như giới hạn nghệ thuật của nhà văn, mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho công tác nghiên cứu và giảng dạy văn học.