phần mở đầu và kết luận, Nội dung Luận văn gồm 2 chương: Chương | với tiêu dé: “Đoàn Thị Điểm và Truyền kỳ tân pha” nhằm giới thiệu tác giả và tác phẩm về mặt văn bản. 10 Chương 2 với tiêu đề “Các giá trị nội dung và phong cách nghệ thuật của Truyền kỳ tân pha” nhằm phân tích một số giá trị thuộc phương diện nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. DOAN THI DIEM VA TRUYEN KY TAN PHA Để nghiên cứu tac phẩm một cách có cơ sở và hệ thống, chúng ta phải hiểu được cuộc đời và sự nghiệp văn chương của tác giả. Vì tác phẩm văn học lúc nào cũng như tắm gương phản ánh những gì đang diễn ra, đang đến với cuộc đời tác giả.
Hiểu được cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Hồng Hà nữ sĩ, và văn bản Truyén kỳ tân pha , chúng ta mới có thể hiểu được những giá trị về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm. ChươngI chính là nền tảng cho Luận văn với hai phan chính: phần 1: Hong Hà nữ sĩ Đoàn Thị Điển, phần 2: Truyén kỳ tân pha. DOAN THI DIEM: 1.1 Cuộc doi: Đoàn Thị Điểm (1705 - 1748), tên tự là Hồng Hà nữ sĩ, có sách ghi là Hồng Hà phu nhân, quê quán ở làng Hiến Phạm (còn gọi là Giai Phạm, tên nôm là làng Giữa), huyện Văn Giang, tỉnh Bắc Ninh, nay thuộc tỉnh Hưng Yên. Bà chính họ là Đoàn, nhưng vì Bà lay chồng họ Nguyễn (Nguyễn Kiểu), nên có sách chép Bà là Nguyễn Thị Điểm.
Bà sinh năm At Dậu, thời nhà Lê Trung Hưng, đời vua Lê Hy Tông, chúa Trịnh là Định Vương Trịnh Căn và chúa Nguyễn ở phương Nam là Nguyễn Phúc Chu. Theo gia pha ho Doan, Tang tổ của Ba là ông Lê Công Nam, làm quan võ tới chức Thái Thường Thị Thiếu Khanh, được tước phong Thiêm Hào Tử, Nội tô là Ông Lê Doãn Vi (có bản viết là Lê Công Vị), người có tài văn học, làm quan đến chức Xã quan. Thân phụ là ông Lê Doãn Nghị, từng theo học với các vị Tiến sĩ như Nguyễn Hanh (ở Hoa Cầu, huyện Văn Giang), Đoản Tuấn Hoà (ở Cự Dong huyén Siéu Loai), dau Huong Céng (Cử Nhân) năm 21 tuổi, nhưng rớt ky thi Hội ở Thăng Long, bèn kiếm chỗ dạy học ở kinh kỳ dé dồi mài kinh sử chờ khoá thi sau. Ông Lê Doãn Nghỉ nằm mộng thay một vi than linh bao hay đổi sang họ Đoàn thì mới hiển đạt.
Do đó, ông đổi tên là Đoàn Doãn Nghĩ. 12 Năm Ông được 20 tuổi, lấy một người vợ họ Nguyễn ở quê nhà, sinh được một người con trai tên là Đoàn Doãn Sỹ, sau cũng thi đậu Hương Cống và làm tri huyện tại Châu Hoan (Nghệ An). Ở Thăng Long, ông có thêm một bà vợ lẽ là con gái quan Thái Lĩnh Bá họ Vũ, nhà ở phường Hà Khẩu, gần Hồ Hoàn Kiếm. Bà sinh một con trai đầu lòng, đặt tên là Đoàn Doãn Luân, qua 2 năm sau, 1705 sinh thêm một cô con gái đặt tên là Đoàn Thị Điểm.
Ông Doan Doãn Nghỉ vì muốn xa lánh chốn quan trường nên từ chức về thôn Lạc Viên, huyện An Dương ngay thuộc Hải Dương mở lớp dạy học. Năm 1729, ông bị bệnh qua đời. Hai anh em Luân, Điểm đưa cha về an táng tại quê nhà. Nhiều học trò của ông góp tiền làm một nhà thờ, dựng bia mộ cho thầy học.
Hai anh em Luân và Điểm, từ bé được nuôi dưỡng ở gia đình ông bà ngoại là quan Thái Lĩnh Bá. Quê của họ Vũ ở làng Vũ Điện, huyện Nam Sang (còn gọi là Nam Xương), nên ngay từ tắm bé, hai anh em thường nghe bà ngoại kế chuyện Người thiếu phụ Nam Xương là Vũ Thị Thiết nổi danh tiết liệt. Doan Doãn Luân thi đỗ Hương cống, lay con gai bạn học của cha là cô Lê Thị Vy sinh được 2 người con một trai, một gái. Được một thời gian Đoàn Doãn Luân đưa vợ con về ở luôn quê nhà là làng Hiến Pham, sau đó chuyên qua làng Vô Ngai, mở trường dạy học.
Năm 1735, Doan Doãn Luân bị bạo bệnh đột ngột qua đời, đề lại 2 đứa con thơ chưa đầy 10 tuổi, một người vợ tật nguyễn, va me gia tóc bạc. Cô Điểm, mặc dau là con gái nhưng rat được gia đình nang niu, ngay từ thuở nhỏ được học chữ nghĩa giống hệt như anh, học đủ Ngũ Kinh và Tứ Thư. Ngoài ra cô còn được mẹ dạy nữ công gia chánh làm gì cũng khéo léo như: mía được làm thành lầu cao gọi là Đài chín tầng, những trái hồng ngâm dùng làm hình các Cô tiên múa nón trong Đêm hội Long Trì, những vỏ trái bưởi được cắt xếp thành hình hoa quỳnh. Hai anh em Luân và Điểm lớn lên khôi ngô tuần tú và xinh đẹp, tư chất thông minh và có văn tai đặc biệt.
Năm 16 tuổi, Doan Thị Điểm nổi tiếng là một tài nữ trẻ tuổi. Quan Thượng thư Lê Anh Tuân, mên mộ tài văn chương và đức hạnh của cô nên 13 nhận làm con nuôi. Ké từ đó, Doan Thị Điểm ở nhà dưỡng phụ tại phường Bích Câu, kinh thành Thăng Long. Đó là địp cô quen biết nhiều người có danh tước, đỗ đạt.
Cũng vì thế tiếng tăm về tài văn chương và hoa tay khoé léo của cô được đồn vang. Trong thời gian ở nhà dưỡng phụ, nữ sĩ có dịp được đọc rất nhiều sách quý của quan Thượng Thư, nên kiến thức càng trở nên sâu rộng. Dưỡng phụ muốn cô có dịp đem tài năng thi thé nên tiến cử cô vào day học tại cung Chúa Trịnh, song cô nhất quyết từ chối vì không muốn bi gò bó trong trốn triều đình. Khi cha mat, Đoàn Thị Điểm xin với dưỡng phụ cho phép về quê nhà để chăm sóc mẹ già, giúp anh chị quán xuyến công việc, khi anh đau yếu nữ sĩ thường thay thế anh giảng dạy đám học trò.
Anh trai qua đời, gia cảnh bấy giờ rất hiu quạnh, nữ sĩ phải mở hiệu bắt mạch, bốc thuốc cho người dân quanh vùng. Cô có tâm lại có tài nên người đến chữa rất đông, nhờ đó nuôi được mẹ già và lo cho 2 cháu cùng chị dâu được tươm tất. Trong thời gian này, nhiều người đem lễ vật tới cầu hôn, nhưng cô từ chối. Cô rất kén chồng vì muốn tìm người tài đức, không màng đến giàu sang chức tước.
Nhân dip có người tiễn cử nữ sĩ vào phủ Chúa dạy học, cô nhận lời để tránh không phải đối phó với những kẻ không xứng đến cầu hôn. Làm việc ở trong phủ chúa, cô chu cấp tiền nuôi mẹ già, chị dâu và hai cháu. Sau một thời gian, cô chán nản cảnh quan lại xấu xa, triéu đình thối nát nên xin về quê. Giặc giã nỗi lên khắp nơi, nữ sĩ cùng mẹ, chị dâu và 2 cháu bỏ làng Vô Ngại, tản cư đến làng Chương Dương bên bờ sông Nhị Hà, gần Hà Nội.
Cô quyết tâm mở trường dạy học, đào tạo nhân tài. Trong số học trò của cô sau này có ông Đoàn Duy Doãn người làng Chương Dương thi đậu tiến sĩ năm 1763. Ông Nguyễn Kiều, hiệu là Hạo Hiên, sinh năm 1695 tại làng Phú Xá, huyện Hoài Duc, thi đậu tiễn sĩ năm 21 tuổi, có tài văn thơ lỗi lạc đã nhiều lần đến xin cầu hôn, sau được nữ sĩ đồng ý kết hôn năm 1743. Sau khi về nhà chồng, hai người rất tâm đầu ý hợp, lúc rảnh rỗi thường xướng hoạ văn thơ.
Chưa đầy một tháng sau, quan thị lang Nguyễn Kiều được cử làm Chánh sứ sang triéu công nhà Thanh. 14 Trong 3 năm chồng đi sứ, ở nhà nữ sĩ vừa chăm sóc ba đứa con chong vừa nuôi me già và hai cháu. Đúng thời gian chồng đi sứ, Đặng Tran Côn có gửi cho bà thi phâm Chinh phụ ngâm viết bằng Hán văn. Vì tác phẩm rất hay và hợp với nỗi lòng người vợ xa chồng nên bà đã dịch ra thơ Nom.
Tác phẩm đã đưa tên tuổi của bà trường tồn cùng thời gian, là một trong những tác phẩm đỉnh cao của nền văn học nước nhà. Sau chuyến đi sứ thành công, Nguyễn Kiều trở về được đọc bản diễn Nôm Chinh phụ ngâm và bức tâm thư bày tỏ niềm thương nỗi nhớ của người vợ xa chồng khiến ông vô cùng xúc động và cảm phục tài năng của vợ. Ông được vua khen thưởng và thăng chức làm Tham Thị ở Nghệ An. Đoàn Thị Điểm chưa muốn theo chồng vào miền Trung vì ở nhà còn mẹ già và hai cháu, linh tính báo trước cho bà có điều gì không lành trong chuyến đi, song Nguyễn Kiều hết lời nai nỉ nên bà đành chiều chồng, xuống thuyền vào Nghệ An với nỗi lòng lo âu khôn xiết.
Thuyền xuôi dòng sông Nhị Hà, theo cửa Thần Phù dé vào sông Chính Đại. Lúc thuyền đến bến Đền Song, nơi thờ Công Chúa Liễu Hạnh, Đoàn Thị, Điểm bị cảm rất nặng. Biết mình không qua khỏi, bà trăn trối cùng chồng: “Chàng nên cố gắng lo tròn việc nước dé trở về kinh sớm ngày nào tốt ngày đó, chớ nên ở lâu nơi chốn biên thuy này mà dan thân vào noi gió bụi hiểm nguy”. Bà từ trần ngày 11 tháng 9 năm Dinh Mão (1748), hưởng thọ 44 tuổi.
Nguyễn Kiều vô cùng thương tiếc người vợ tài ba lỗi lạc, ông quàn quan tài vợ tại Nghệ An, đến một tháng sau mới đưa linh cữu về quê nhà của bà an táng.2 Sang tac van hoc: 1.1 Thi pham: Khi thiéu thoi, những lúc nhàn rỗi, nữ sĩ Doan Thi Điểm thường ngâm vịnh với anh trai Đoàn Doãn Luân. Khi có chồng thì đối đáp cùng chàng. Số lượng có đến mấy trăm bài, thường viết bằng chữ Hán, hiện nay hầu như thất lạc hêt ca. Có nhiêu bài còn sót lại, có thê dan chứng 2 bai làm ví dụ: Húng thu Thu vẻ gió mát nhẹ mua bay, Muôn mang thom trong ap chén day, Trời biển chừng nhiều dan sáo nồi, Cuộc đời may có chuyến chơi nay.
Niém vui dạo đêm Sao nhỉ! Đêm xuân đốt đuốc chơi, Sáng như ngày hứng, qué thom trồi. Câu Ngân bến Hán treo cao nhịp, Phách ngọc đầu thu tod nhá ngời. Đồng nội trước nay nhìn chả khác, Phôn hoa vua chúa đất xưa thôi. Hưng về chẳng quản sông hồ lạ, Một mái chèo thênh chuốc rượu mời.
Thơ bà thường có tâm thái thư thả, phóng khoáng, hướng ra thiên nhiên với nỗi lòng hoài cổ. Việc sưu tầm và tìm lại các thi phẩm nay quả là khó khăn. Khi bà lập gia đình, trong thời gian Nguyễn Kiều đi sứ ba năm, bà ở nhà diễn Nôm tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn. Lời thơ đẹp dé, giàu âm điệu, diễn tả sinh động hình ảnh người chinh phụ nhớ chồng.