Chương 1 MOT SO VAN DE VE THẺ VĂN PHONG SỰ TRONG VAN HỌC VIET NAM THỜI KỲ DAU DOI MỚI Trong tương quan với các thể loại văn học và báo chí khác, phóng sự Việt Nam là một thé loại còn khá non trẻ. Sự phát triển mạnh mẽ của của báo chí phương Tây thế kỷ XIX đã tạo một môi trường hết sức thuận lợi cho việc nảy sinh nhiều thể văn - báo, trong đó có phóng sự. Với những ưu thé đặc biệt, phóng sự đã nhanh chóng khang định được vị thế của mình trong đời sông văn học và báo chí nước nhà. Dù còn được nhìn dưới nhiều góc độ khác nhau, nhưng các quan điểm đều tập trung về chức năng thé loại: Phóng sự là một thể loại đứng giữa văn học và báo chi, phản ánh những van dé điển hình, có thật, có tính thời sự trong một quá trình phát sinh, phát triển, bằng but pháp van học và những biện pháp nghiệp vụ của báo chi.
Sự xuất hiện và phát triển của thể phóng sự 1. Bối cảnh xã hội và tiền đề xuất hiện Vẫn đề thời điểm xuất hiện của thể loại phóng sự trong đời sống văn học và báo chí Việt Nam hiện vẫn tồn tại nhiều ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng, phóng sự ra đời cùng với sự ra đời của báo chí. Bang chứng là hàng loạt tác pham chứa những phẩm chất của phóng sự đã xuất hiện vào thời điểm báo chí có mặt trên đất Việt như: Chuyến di Bắc kỳ năm At Hợi của Trương Vĩnh Ky (1876), Hương Sơn hành trình của Nguyễn Văn Vĩnh (1914), Pháp du hành trình nhật ký và Mười ngày ở Huế của Phạm Quỳnh (1918), Hạn mạn du ký của Nguyễn Bá Trác.Tuy nhiên, có thê thấy, qua hơn nửa thế kỷ từ khi Gia Định báo phát hành số đầu tiên (1865) cho đến 30 năm đầu của thế kỷ XX vẫn chưa xuất hiện một tác phẩm nào đúng nghĩa là phóng sự.
Những tác phẩm được coi như phóng sự thực chất là những ký sự, những ghi chép tản mạn mang tính nhật ký về những điều mắt thấy tai nghe mà nhà văn đã góp nhặt trong những chuyến du hành. Ngay kế cả Ban án chế độ thực dân Pháp của Nguyễn Ái Quốc vào giữa những năm 20 cũng chi xem là những ghi chép giàu màu sắc thâm mỹ thiên về yếu t6 điều tra giàu chất phóng sự mà thôi. Những tác phẩm này cô gắng cách tân thé loại truyền thống để hình thành một thể văn kết hợp mô tả, ghi chép sự thực với ký thác tâm sự. Bước đi mới mẻ này của văn học chưa có gì nôi bật song đã có định hướng làm tiên đê cho phóng sự xuât hiện sau nay.
14 Phóng sự là thê loại gắn liền với khả năng khám phá và phơi bày những mâu thuẫn xã hội. “Phóng sự thường gắn với những thời điểm mà ở đó đời sống của xã hội đang có những chuyển biến mạnh mẽ” [12, tr. Từ đặc trưng thê loại, có thể lý giải sự xuất hiện đột ngột của phóng sự vào những năm 30 của thế kỷ XX cùng với sự bùng nỗ mạnh mẽ của báo chi. Những sự kiện chính trị - kinh tế - văn hoá đầy kịch tính với những nét bi hài diễn ra kế tiếp nhau, chồng chéo nhau, đan xen nhau hết sức sôi sục và nóng bỏng đã làm nảy sinh nhu cầu cấp bách là phải cập nhật nhanh chóng lượng thông tin phong phú và sốt dẻo ấy.
Những hiện tượng bức xúc như vậy không dễ gì có thé được khám phá va chuyền tải một cách thời sự, cập nhật nếu chỉ nhờ vào các thé loại văn chương và báo chí đương thời. Cũng vào thời điểm này, người đọc không con thích thú với những chuyện tình ướt at, lãng mạn, những hiện tượng văn chương hư cấu, họ khát khao nếm trải những điều có thực, được nhìn thay cuộc đời trên mỗi trang văn. Theo Tam Lang: “.thi hiếu đại chúng hau như thay doi hoàn toàn, chỉ wa tim đọc những văn, những truyện thuộc loại tả chân và lang quên dân loại văn lãng man mà người ta cho là không thích hop” [69, tr. Báo chí phát triển, làm báo trở thành một nghề, nhiều người đã đến với nghề báo.
Cũng từ đây, hiện tượng văn báo bất phân nảy sinh. Cả một thế hệ vừa cầm bút viết báo, vừa viết văn. Các báo cạnh tranh nhau, không ngừng cải tiễn cả nội dung lẫn hình thức. Cái nhịp hối thúc của báo này, sự giục giã đặt hàng của báo kia khiến nhà văn, nhà báo cứ viết, cứ săn lùng tin tức và đẻ ra hàng loạt thiên phóng sự nhiều kỳ trên các báo gây xôn xao dư luận.
Trong lúc đó, các tòa báo không ngừng cải tiến kỹ thuật làm báo, điều chỉnh nội dung, đồng thời với những cách tân trong hình thức thể hiện đã thực sự làm thay đổi diện mao đời sống báo chí thời ky này. Những kinh nghiệm, kỹ năng tác nghiệp cũng như cách trình bày ấn tượng mới mẻ của báo chí thế giới đã được vận dụng vào thực tiễn sáng tạo báo chí Việt Nam, đem đến cho người đọc những sản phẩm đậm dấu ấn, đó là phóng sự. Có thể thấy phóng sự Việt Nam không xuất hiện đồng thời cùng sự xuất hiện của báo chí như ở một số nước khác. Nó ra đời trong bối cảnh báo chí Việt Nam đã có bước tiến về nhiều mặt.
Thêm vào đó, đời sống xã hội trong trạng thái bị ức chế, bị dồn nén bởi ngôn ngang những mâu thuẫn cần được giải tỏa, cần được phanh phui; nhu cầu người đọc đương thời về một hình thức thông tin trực tiếp, thiết thực; sự bùng nô của đời sông báo chí cùng sự phát triên vượt bậc của đội ngũ ký giả.chính là 15 những tiền đề cần thiết để phóng sự trình làng. Và trên thực tế, không ít phóng sự có giá trị buổi đầu ấy đã trở thành những tác phẩm văn học dé đời. Phóng sự Việt Nam thời kỳ dau đổi mới 1986-1991 Bước vào thời kỳ đổi mới, phóng sự có dấu hiệu hồi sinh sau 40 năm chìm vào quên lãng kể từ phóng sự Cây cói ở Hai Tân của Trần Huy Quang. Nhưng phải đến giai đoạn sau 1986 phóng sự mới thực thực sự nhập cuộc một cách mạnh đạn, thắng thắn.
Phóng sự là một bộ phận nhạy cảm vốn đã có những bước khởi động đôi mới cách nhìn từ cuối những năm 70 đầu những năm 80, nay được tiếp xúc với ý thức chính trị đổi mới mạnh mẽ do Đảng Cộng sản Việt Nam phát động đã tìm được cơ hội thực sự thoáng rộng để bứt phá. Công cuộc đổi mới không chỉ khôi phục lại địa vị xứng đáng của phóng sự trong báo chí và văn học mà còn tạo nên một cuộc bức phá ngoạn mục lần thứ hai cho phóng sự. Đó là Loi khai của bi can của Trần Huy Quang (1987), Cái đêm hôm ay.dém gì ? của Phùng Gia Lộc (1988), Thủ tục dé làm người còn sống của Minh Chuyên (1988), Người dan bà quỳ của Trần Khắc (1988), Suy nghĩ trên đường làng của Hồ Trung Tú (1988), Tiếng dat của Hoàng Hữu Các (1987), Làng giáo có gì vui của Hoàng Minh Tường (1987).Đây có thé coi là những phóng sự “mở đường” đầy ấn tượng. Chúng xuất hiện liền kề ngay từ những ngày đầu phát động đổi mới nên vừa có giá trị như những trái bom đột phá mạnh mẽ, góp phần khai thông con đường đôi mới budi đầu còn lắm chông gai, vừa giải tỏa cơn khát thực sự cho công chúng.
Nét đặc sắc nồi bật của phóng sự giai đoạn này là sự mở rộng phạm vi đề tài trên cả tầm vĩ mô và vi mô. Lối viết đào sâu, truy tìm, phơi bày mặt trái của hiện thực cuộc sống là hình thức thé hiện chủ đạo. Đề tài chiến tranh vẫn tiếp tục được Đỗ Quảng, Minh Chuyên, Hoàng Minh Tường. Tuy nhiên, nếu trước đây ống kính phóng sự được đặt ở vi trí cận cảnh, dé ghi lại những thước phim sinh động, hoành trang về cuộc kháng chiến vĩ đại của dân tộc, thì thời kỳ này chiến tranh được nhìn từ một vị trí khác, từ số phận người lính đang chiến đấu bảo vệ biên cương, số phận người lính trở về sau chiến tranh và những mắt mát lặng thầm của những người ở lại.
Ngòi bút tìm tòi của phóng sự sục vào những góc khuất tối tăm dé gặp gỡ những mảnh đời bất hạnh. Họ là những con người bình thường, trở về từ chiến trường ác liệt với những mảnh bom, viên đạn còn ghim trong máu thịt nhưng hàng ngày, hàng giờ đang phải vật vã trước cuộc sông khó khăn, trước những nghịch lý khó có thê chấp nhận. 16 Cùng với đề tài chiến tranh là đề tài kinh tế - xã hội được Trần Huy Quang, Phùng Gia Lộc, Hoàng Minh Tường, Trần Khắc, Hồ Trung Tú, Nguyễn Thị Vân Anh.phanh phui, mô xẻ. Đó là cuộc đấu tranh chống lại thói bảo thủ trì trệ của cơ chế quan liêu, bao cấp, chống thói buôn gian bán lận, làm ăn bat chính, ăn cắp, ăn trộm, tha hóa biến chất.
Từ sự đa dạng về đề tài của phóng sự thời kỳ đầu đổi mới một lần nữa minh chứng cho cái nhìn phiến diện về thể phóng sự ở giai đoạn trước, những lời ca ngợi một chiều, những lời tự tán đương, bào chữa. Nhìn chung hai chủ đề lớn được các cây bút phóng sự tập trung chú ý là: biểu đương, ca ngợi những điển hình tiên tiến trong mọi hoạt động của xã hội và phê phán những mặt trái tiêu cực của cuộc sống như tệ nạn trì trệ, quan liêu, tham nhũng, buôn lậu, làm hàng giả, hàng nhái, tha hóa biến chất.Ở chủ đề thứ hai và cũng là chủ đề nổi bật mà các nhà phóng sự giai đoạn nảy tập trung khai thác. Họ đã mạnh dạn đột phá vào những vùng hiện thực nhạy cảm, phối thêm một nét vẽ mới, góp phần định hình sắc diện của phóng sự giai đoạn này, đồng thời tiếp sức cho sự xuất hiện của loạt tiêu thuyết mang hơi thở cuộc sống. Bồi cảnh hiện thực mới cũng làm cho phóng sự có những cách tân về hình thức.
Ở thời kỳ đầu đổi mới hiếm có những phóng sự dài, thường là những phóng sự ngắn, đăng trọn trong một, hai kỳ báo. Trong khi đó, nếu phóng sự 1930 — 1945 có ranh giới giữa phóng sự văn học và phóng sự báo chí là khá rõ ràng thì ở giai đoạn này là khá mờ nhạt. Có thé nói, thé loại phóng sự ngày càng phát huy tác dụng tích cực, góp phan đáng kế vào việc lành mạnh hoá cuộc sống, xây dựng một xã hội dân chủ, công bằng văn minh.