Chương 1 TIỂU THUYET NGUYEN BAC SƠN TRONG DONG CHAY CUA TIỂU THUYET VIỆT NAM DUONG ĐẠI 1. Cái nhìn chung về tiểu thuyết Việt Nam đương dai 1. Quá trình đối mới đất nước và đối mới văn học Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc với đại thắng mùa xuân năm 1975 đã mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc. Trong chiến tranh, đất nước ta đã phải gồng mình chuẩn bị sức người, sức của cho tiền tuyến.
Hậu quả để lại thật nặng nề. Vì vậy, ta phải dồn sức dé khôi phục lại cuộc sống sau chiến tranh. Sau năm 1986, đất nước ta vẫn kiên trì con đường tiến lên chủ nghĩa xã hội nhưng đã bắt đầu gặp phải nhiều khó khăn và khiếm khuyết. Bởi trước đó, ta đã phải trải qua một thời gian dai chiến tranh, lại gần mười năm bao cấp.
Điều đó đã khiến cho kinh tế không phát triển, đời sống nhân dân nghèo nàn, lạc hậu. Trong văn kiện Dai hội Đảng toàn quốc lần thứ VI, Dang ta đã thé hiện chủ trương đổi mới: “Đối với đất nước ta, đổi mới có ý nghĩa sống còn”, “phải đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy, chúng ta mới có thê vượt qua khó khăn, thực hiện được những mục tiêu do Đại hội Đảng lần thứ VI đề ra”. Cùng với sự đổi mới của đất nước, văn học cũng có bước chuyển mình đáng kê. Bởi một trong những chức năng của văn học phan ánh hiện thực.
Nếu ngòi bút của nhà văn không bat rễ từ hiện thực thì không thé có sức sống bền bi, lâu dài. Tuy nhiên, sự phản ánh hiện thực của văn học không phải là sự rập khuôn, máy móc. Đời sống vận động không ngừng, ngòi bút phản ánh của nhà văn theo đó cũng phải biến chuyền linh hoạt, đa dạng qua mỗi giai đoạn, thời kì 16 khác nhau với những khuynh hướng sáng tác khác nhau. Quan niệm văn học phản ánh hiện thực cũng có những biến đổi nhiều chiều cho phù hợp với yêu câu đôi mới luôn thường trực trong sáng tác.
Có thê thấy công cuộc đổi mới của văn học được đặt ra như một nhu cầu bức thiết trước những thay đổi của lich sử xã hội. Đúng như GS. Phong Lê nói: “Văn chương can tự đổi mới, và đổi mới trở thành nhu cau tự thân. Nó không hoàn toàn chi vì một đòi hỏi, một sức ép từ ngoài.
Hoặc nếu có sức ép thì cũng phải tìm thấy sự thống nhất hoặc thông qua đòi hỏi bên trong. Và như vậy, với công cuộc đôi mới đất nước, văn học đang đứng trước nhu cầu mạnh mẽ của sự biên đôi”. Những tín hiệu đổi mới trong văn học được bắt đầu từ những năm 80 và đổi mới mạnh mẽ từ Đại hội VI của Đảng và sau đó là Nghị quyết 05 của Bộ Chính trị. Vào cuối năm 1987, Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh đã có cuộc gặp gỡ với giới văn nghệ sĩ.
Cuộc gặp gỡ đã tác động mạnh mẽ tới tư tưởng nghệ thuật của giới văn nghệ sĩ. Nếu như văn học trong giai đoạn trước chủ yếu phục vụ cho mục tiêu chung của cách mạng thì giai đoạn này, văn học bám sát quá trình xây dựng và phát triển đất nước nhưng cần nhấn mạnh ở sự phản ánh hiện thực và vai trò dự cảm, dự báo. Trong thời bình, con người trở lại với cuộc sống thường nhật với biết bao những vấn đề xã hội như: hôn nhân, gia đình, tôn giáo, sự thức tỉnh cá nhân, phụ nữ. Và văn học phải có trách nhiệm giải quyết những vấn đề còn đang tồn đọng này trong xã hội.
Có thé khang định rang, văn học đã bắt kịp quá trình đổi mới của đất nước. Chính vì vậy, nó đa dạng về đề tài, phong phú về thể loại, nhiều sáng tạo về nghệ thuật. Tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới Thực tiễn văn học từ sau thời kỳ đổi mới cho thấy có hàng loạt cuốn tiéu thuyết ra đời, trong đó có sự góp mặt của các tác giả hải ngoại. Như vậy tiêu thuyết không rơi vào tình trạng đáng phải lo ngại mà với sự hiện diện ngày cảng nhiều của nó, tiểu thuyết vẫn ngự trị văn đàn, vẫn tỏ rõ vị thế cũng như “gia tri tiềm ân” của thé loại trong tương lai.
Trong thực tiễn sáng tác văn học nghệ thuật, Việt Nam cũng như ở nước ngoài luôn song hành các tác phẩm viết theo thi pháp truyền thống và hiện đại. Mỗi xu hướng sáng tác đều có chủ thé sáng tao và chủ thé tiếp nhận của riêng minh cũng như đều có những thành công và hạn chế. Do vậy không vì cé xuý cách tân mà khước từ truyền thống và cũng không vì truyền thống mà dị ứng với cái mới. Xét cho cùng, khi viết theo thi pháp truyền thống người viết cũng đã nỗ lực đối mới về nội dung cũng như ở nghệ thuật trần thuật.
Nhìn chung, những tiêu thuyết viết theo thi pháp truyền thống phản ánh một cách đầy đủ và trung thực những trải nghiệm của đời sống con người. Về mặt tự sự, nó hấp dẫn người đọc trước hết bang nội dung chuyện ké, bằng những diễn biến đời sống của một nhân vật mang tính cách giống hay khác với họ. Tính thâm mỹ của tiểu thuyết bộc lộ ở sự hài hòa, nhất quán của tổng thé và các phân đoạn khiến câu chuyện mach lạc, lôi cuốn. Về cấu trúc, tiêu thuyết truyền thống dựa trên một cốt truyện, thu hút sự chú ý của người đọc và câu chuyện phải đi tới một kết thúc có hậu, trả độc giả vê với “trật tự quen thuộc của đời sông”.
Với những tiêu thuyết viết theo hướng hiện đại đã cho thấy hiện thực là phong phú, phức tạp và không thé hoặc khó có thé “kế lại” được. Ở đây, tiểu thuyết không làm sứ mệnh cung cấp một bức tranh hiện thực về xã hội mà phải “phát minh ra các hình thức”. Mối quan hệ giữa tác phẩm văn học và những gì ở ngoài văn học bị cắt đứt hoặc bị lui lại phía sau; và chỉ còn lại hai mối quan hệ chính: quan hệ giữa tác phẩm văn học với chính nó và quan hệ giữa tác pham 18 văn học này với những tác phâm văn học khác. Tiêu thuyét việt theo xu hướng này có thê còn xa lạ, đánh đô, thậm chí “gây hân” với độc giả nhưng nó đã mở ra một triên vọng mới cho tiêu thuyét va cho sự tiép nhận mới của người đọc hiện đại.
Sự mở rộng biên độ, đa dạng hóa trong cái nhìn thế giới và con người là một trong những thành tựu nổi bật của tiêu thuyết từ sau 1986 đến nay. Thực tế cuộc sống ở một thời kỳ mới đã dẫn đến sự thay đôi quan niệm nghệ thuật về hiện thực. Một tư duy văn học mới được hình thành và nhu cầu về đổi mới văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng trở nên bức thiết. Xã hội hiện đại đề cao vai trò của cá nhân và thúc day sự thức tinh của ý thức cá nhân.
Cái tôi trỗi dậy đòi hỏi được quan tâm đúng mức. Tiểu thuyết trở về với con người, thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người, bảo tồn giá trị của con người trước sự lãng quên của xã hội. Con người cô đơn, con người thân phận trở thành mối quan tâm hàng đầu của các tiểu thuyết gia đương đại. Có thê nói, tiểu thuyết là “công cụ hữu hiệu” của văn học để tái hiện lịch sử theo nhãn quan người viết và tiểu Axs„?? thuyết suy cho cùng vẫn là miêu tả số phận con người.
Không phải ngẫu nhiên mà nhiều nhà tiêu thuyết đã khắc hoa khá day đặn về lịch sử của một gia đình, một dòng tộc hay một đời người gắn với những biến động của lịch sử, với những thăng tram của đời sống xã hội: Manh đất lắm người nhiễu ma (Nguyễn Khắc Trường), Bến không chong, Dưới chín tang trời (Dương Hướng), Dòng sông mia (Đào Thang), Céi người (Từ Nguyên Tĩnh), Bến do xưa lặng lẽ (Xuân Đức), Trăm năm thoáng chốc (Vũ Huy Anh), Cánh đồng lưu lạc (Hoàng Đình Quang), Céi mé (Triệu Xuân), Luật đời và cha con, Lửa đắng (Nguyễn Bắc Sơn), Tam ván phóng dao (Mac Can), Thượng dé thì cười (Nguyễn Khải), Gia đình bé mọn (Dạ Ngân), Mẫu thượng ngàn, Đội gạo lên chùa (Nguyễn Xuân Khánh), 5a người khác (Tô Hoài), Một mình một ngựa (Ma Văn Kháng). Các nhà văn đã có một cái nhìn soi thấu một đời người, một thân phận trong hành trình của thế kỷ XX gắn với chiều dai lịch sử qua bao cuộc “bể dâu”. Mỗi tiểu 19 thuyết là một cách khai thác sâu hơn về cõi người, cõi đời dé đạt được một tam sâu cho nhận thức vê cõi nhân sinh. Các tiêu thuyết nói trên đều hướng tới hệ quy chiếu, đó là thế giới riêng của những con người chịu nhiều nếm trải cay đăng, thấm dam sắc thái bi hài của số phận.
Hơn nữa, tiểu thuyết còn có thêm mảng đề tài về cuộc sống con người Việt Nam ở hải ngoại: Chinatown, Paris 11 tháng Tám, T. Sự góp mặt đó làm giàu có hơn đời sống của thê loại, làm cho diện mạo tiêu thuyết phong phú và đa dạng hơn đồng thời tiếng nói về cuộc đời và con người trong tiêu thuyét cũng giàu sac điệu và đa nghĩa hon. Hiện thực đời sống con người với những tâm tư, khát vọng, những bi kịch riêng tư chồng chất, những trào lộng, giéu nhại bi hài được các cây bút tiểu thuyết khám phá đến tận cùng, day tác pham chạm đến một chiều sâu mới. Trong những năm gan đây nhiều tiêu thuyết mang tính tự truyện đã thu hút độc giả: Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Tấm ván phóng dao (Mạc Can), Thượng dé thì cười (Nguyễn Khải), Đời thường (Phùng Khắc Bắc), Gia đình bé mon (Da Ngân), Một mình một ngựa (Ma Văn Kháng).
Tìm đến chất liệu cái tôi, các nhà văn như trở về với chính mình. Với tiểu thuyết tự truyện, cốt truyện được xây dựng trên cơ sở của sự kiện chính về cuộc đời, về con người tác giả. Điều đáng nói ở đây là trí nhớ, sự hồi tưởng, ký ức không lắn at yếu tố hư cấu. Với loại hình tiểu thuyết này, việc đảm nhiệm chức năng tái tạo lại một đoạn đời của người viết được tô chức theo nhiều kiểu kết cấu khác nhau, đặc biệt đi sâu vào khai thác dòng ý thức mà thành công nổi bật ở Nỗi budn chiến tranh (Bảo Ninh).
Có thé nói, tiểu thuyết tự truyện không có gi mới lạ với văn học thế giới nhưng là một loại hình khá mới mẻ với văn học Việt Nam, và nó đã gây được 20 tiếng vang với người đọc.