Chương 1 KHÁI LƯỢC VE NGHỆ THUẬT TỰ SỰ VÀ SÁNG TÁC CUA NGUYEN XUAN KHANH 1. Khái lược về nghệ thuật tự sự Tự sự học đã được hình thành ở Pháp trong những năm 1960 - 1970. Nhưng cũng giống như các ngành khoa học khác, tự sự học đã nhanh chóng vuon ra khap thé giới, có vi trí đặc biệt va trở thành trong những ngành nghiên cứu văn học được quan tâm và chú ý. Ở Việt Nam đã có rất nhiều các công trình nghiên cứu về tự sự học của các Giáo sư, các nhà khoa học tiêu biểu là các Giáo sư, Phó giáo sư: GS.
TS Trần Đình Sử, GS. TS Trần Đăng Suyén, PGS. TS Lê Lưu Oanh. Các công trình nghiên cứu của các Giáo sư và nhà khoa học đã tập hợp các khái niệm, quan niệm.
của các nhà khoa học của các nước trên thế giới về tự sự học, nhằm đưa ra được cách hiểu đúng va phương pháp nghiên cứu đúng về tự sự. Về khái niệm tự sự: Tự sự có nghĩa là: “phương thức tai hiện đời sống, bên cạnh hai phương thức khác là trữ tình và kịch, được dùng làm cơ sở để phân loại tác phẩm van học”. 385] Nếu như tác phẩm trữ tình phản ánh hiện thực trong sự cảm nhận chủ quan về nó, thì tác pham tu su lai tai hién doi sống trong toàn bộ tính khách quan của nó. Tác phẩm tự sự phản ánh hiện thực qua bức tranh mở rộng của cuộc sống trong không gian, thời gian qua các sự kiện và biến cố xảy ra trong đời sống con người.
Phương thức tự sự phản ảnh hiện thực qua các sự kiện, biến cố và hành vi của con người làm cho tác phẩm tự sự trở thành một câu chuyện về ai đó hay về cái gì đó. Vì vậy tác phẩm tự sự bao giờ cũng có cốt truyện, gắn liền với cốt truyện là hệ thống nhân vật được khắc họa đầy đủ, nhiều mặt, hơn hắn nhân vật trữ tình và kịch. 13 Tự sự học cũng được dịch là “trần thuật học”. Tự sự học là một nhánh chủ yếu của thi pháp học hiện đại, nghiên cứu cau trúc của văn bản trần thuật.
Thuật ngữ “Tự sự học” do Todorov đã sử dụng lần đầu tiên vào năm 1969 trong sách Neữ pháp “Câu chuyện mười ngày ”. Việc nghiên cứu hình thái tự sự đã có từ xưa, nhưng chủ yếu vẫn nằm trong phạm vi của tu từ học. “Thuật ngữ tự sự học cũng có khi được dich là trần thuật học. Khi nói tran thuật học thường chỉ nói tới hành vi của người tran thuật và ngôn ngữ của anh ta.
Nói là tự sự thì tính đến cả hệ thống sự kiện và tổ chức sự kiện và mặt khác bao hàm cả việc nghiên cứu các cau trúc tự sự cụ thé hoặc lịch sử của một nên văn học hay một giai đoạn văn học nào đó”. Sự hình thành và phát triển của tự sự học Tự sự học nguyên gốc vốn là một nhánh của thi pháp học hiện đại, hiểu theo nghĩa rộng chính là nghiên cứu cau trúc của một văn bản tự sự và các van dé liên quan hoặc nói cách khác là nghiên cứu đặc điểm nghệ thuật của văn bản tự sự. Tự sự học không phải đến giai đoạn hiện nay mới có, mà đã có từ xa xưa. Ngay từ thời Aristote con người đã biết phân biệt các loại tự sự và chia thành tự sự lịch sử và tự sự nghệ thuật.
Đến thế kỷ thứ V trước Công nguyên con nØƯỜi biết phân biệt thêm tự sự mô phỏng, tự sự giải thích và tự sự hỗn hợp. Nhưng phạm vi của chúng không nằm ngoài giới hạn tu từ học. Tự sự học do nhà nghiên cứu người Pháp Todorov đưa ra năm 1969, trong sách Ngữ pháp “Câu chuyện mười ngày”, làm cho ngành nghiên cứu tự sự từ trước đến nay đã có tên chính thức và đồng thời trở thành một trong những ngành khoa học nghiên cứu văn học. Dựa trên kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu về tự sự học thì tự sự học hiện đại đến nay chia làm ba giai đoạn.
“Ty sự học frước 14 chủ nghĩa cau trúc, tự sự học câu trúc chủ nghĩa và tự sự học hậu câu trúc chủ nghĩa” [44. Tự sự học trước chủ nghĩa cau trúc. Một số người đi tiên phong đó là: B. Tomasepxki đã di vào nghiên cứu các đơn vi của tự sự, V.
Shklovski chia truyện thành hai lớp, gồm: chất liệu và hình thức. Tiếp sau đó là V. Propp đã đi sâu vào nghiên cứu cấu trúc và chức năng tự sự trong truyện cô tích. Bakhtin đã nghiên cứu mối quan hệ giữa tác giả và nhân vật, ngôn ngữ trần thuật.
là những nhà khoa học đã đặt nên móng cho sự phát triên của tự sự học hiện đại. Tự sự học cấu trúc chủ nghĩa, đầu tiên là công trình của R. Barthes với tựa đề Dẫn luận phân tích tác phẩm tw sự. Tự sự học cấu trúc chủ nghĩa chính là đi tìm mô hình cho hình thức tự sự.
Đặc điểm của giai đoạn tự sự này là: Lay ngôn ngữ hoc làm hình mau, xem việc nghiên cứu tu sự học là việc nghiên cứu mở rộng của cú pháp học. Barthes đã tán thành tuyên bố của G. Genette cho rang: Mỗi câu chuyện là sự mở rộng của một câu. Như vậy mục đích của chủ nghĩa cấu trúc là đi sâu vào nghiên cứu bản chất của ngôn ngữ và bản chất ngữ pháp của tự sự, nhằm đưa ra được một cách đọc tự sự mà không cần đối chiếu tác phẩm tự sự với hiện thực khách quan của đời sống.
Như vậy chúng ta thấy tự sự học cau trúc chủ nghĩa không phủ nhận mối quan hệ giữa văn học và đời sống, nhưng tự sự học cau trúc chủ nghĩa đã đưa ra được cái bản chất biéu đạt và giao tiếp của tự sự. Tự sự học cau trúc chủ nghĩa sắn liền với ký hiệu học. Ký hiệu học quan tâm đến các phương thức biểu đạt khác nhau, nhưng lấy văn bản làm cơ sở. Vì vậy mà tự sự học cấu trúc chủ nghĩa xem hình thức tự sự như là phương tiện biéu đạt ý nghĩa của tác phẩm.
Đặc điểm lý thuyết của tự sự học câu trúc chủ nghĩa là: ĐI sâu nghiên cứu va coi trọng việc phân tích hình 15 thức, nhưng lại không tán thành việc mô phỏng đơn giản các mô hình ngôn ngữ học mà đi theo ký hiệu học. Theo sự tong kết của nhà lý luận tự sự của Mỹ là Gerald Prince đã chia tự sự làm ba nhóm. Nhóm thứ nhất gồm các có: Todorov, Northrop Frye, Barthes. đây là những nhà tự sự chịu ảnh hưởng của các nhà hình thức chủ nghĩa Nga.
Nhóm thứ hai gồm có: Dolezel, Micke Bal, G., nhóm nay xem nguôn gốc của tự sự là dùng ngôn ngữ nói hay viết dé biểu đạt, cho nên vai trò của người trần thuật được coi là rất quan trọng. Nhóm thu ba có: J. Culler, Gerald Prince, Seymour Chatman, những nhà khoa học của nhóm này coi trọng phương pháp nghiên cứu tổng thê. Như vậy khoa học tự sự học nghiên cứu cau trúc văn bản tự sự và những vấn đề liên quan.
Tự sự học ở Việt Nam - tự sự học là ngành nghiên cứu còn khá mới ở nước ta. Cho đến nay, các nhà nghiên cứu mới bước đầu quan tâm nên các công trình về tự sự học chưa nhiều. Công trình đầu tiên tập hợp các bài viết về tự sự học ở Việt Nam là Ty sự học - những van dé lí luận và lịch sử (2 phan) của tác giả Tran Dinh Sử chủ biên. Bên cạnh những bai viết có tính chất nhận định chung về tình hình nghiên cứu tự sự học ở Việt Nam là các bài viết của các tác giả trong và ngoài nước, thể hiện quan điểm về lý thuyết tự sự học.
Có thể ké ra một số bài viết tiêu biểu: bài viết của Giáo sư, Tiến sĩ Trần Đình Sử: Tự sự học - một bộ môn nghiên cứu liên ngành giàu tiềm năng và bài viết: Tự sự học không ngừng mở rộng và phát triển; bài viết của Giáo su Đặng Anh Dao: Ban về một vài thuật ngữ trong kể chuyện; bài viết của Phuong Luu: But ky về tu sự hoc; bài viết của tác giả Lê Thời Tân: Ty sự học: tên gọi, lược sử và một số van dé ly thuyét; bài viết của Nguyễn Thái Hòa: Điểm nhìn trong lời nói giao tiếp và điển nhìn nghệ thuật trong truyện; bài viết của Phan Thu Hiền: Về jý thuyết tự sự của Northrop Frye; 16 bài viết của Nguyễn Đức Dân: Cấu trúc truyện kể: Greimas - người xây nên cho trường phải ký hiệu học Pháp;. Những bài viết trên đã góp phần giới thiệu lý thuyết tự sự học ở nhiều phương diện, qua đó, ta vừa thấy được tình hình nghiên cứu tự sự học ở các nước trên thế gidi. đồng thời thấy được tình hình nghiên cứu tự sự học ở Việt Nam. Tiểu thuyết Việt Nam đương đại đã có cách tân cả về nội dung và nghệ thuật, nhất là giai đoạn từ sau đổi mới đến nay.
Đây là giai đoạn mà văn học nói chung và tiểu thuyết nói riêng có những bước tiến mạnh mẽ, đạt được thành quả đáng ghi nhận, đội ngũ sáng tác ngày càng đông đúc, số lượng tác phẩm dồi dào, trong đó có những tác phẩm thực sự có giá trị. Song song với đó là sự đòi hỏi giới nghiên cứu một sự quan tâm thích đáng về thé loại văn học này. Một số khái niệm 1. Nhân vật Nhân vật trong tác phẩm tự sự là nhân vật văn học, là những người được miêu tả trong tác phẩm tự sự bằng những phương tiện của văn học.
Đồng thời, nhân vật trong tác phẩm tự sự cũng là người thực hiện các sự việc, là người được nói đến, được biểu dương hay bị lên án. Nhân vật có vai trò rất quan trọng trong tác phẩm tự sự. Nhân vật chính là nơi chứa đựng nội dung phan ánh, tư tưởng, chủ đề của tác phẩm, là nơi ký thác quan niệm về con người, về nhân sinh của nhà văn. Vì thế, nhân vật được dựng lên có thé không phải là con người thật nên không thé phán xét nó ở ngoài đời mà phải đặt trong mối quan hệ tình huống truyện của nhà văn.
Việc phân tích nhân vật trở thành con đường dé đi đến giá trị hiện thực, nhân đạo của tác phẩm, để nhận ra lý tưởng thâm mỹ của nhà văn. Nhân vật 17 được coi là đứa con tinh thần của nhà văn, nên phân tích nhân vật còn để nhận ra tài năng, đặc điểm, bút pháp nghệ thuật của nhà văn. Nhân vật trong văn học rất phong phú: Nhân vật có tên và nhân vật không tên.