Chương I: TAC GIÁ BÙI HUY TÙNG VA TÁC PHAM TỨ LẺ LƯỢC TAP 1. Tác giả Bùi Huy Tùng Bùi Huy Tùng 3§Ï## tự là Tú Linh 34H, hiệu là Như Trai #I#Š (1794 — 1862). Theo khảo sát của chúng tôi, hiện nay chưa có cuốn sách nào ghi chép tường tận về thân thế và sự nghiệp của Bùi Huy Tùng. Sách Tên tw, tên hiệu các tác gia Hán Nôm Việt Nam của PGS.
TS Trịnh Khắc Mạnh chỉ đề cập tới ông với vài dòng van tắt, ở mục 650 tác giả viết: “Như Trai: Tên hiệu của Bùi Tú Lĩnh (? - ?), người làng Phất Lộc thành Hà Nội (nay thuộc quận Hoàn Kiếm, thành phá Hà Nội). Về thân thế và sự nghiệp của Bùi Tú Lĩnh hiện chưa rõ, được biết ông sống vào thời vua Nguyễn Thánh Tổ””. O đây, tác giả Trịnh Khắc Mạnh có sự nhằm lẫn: Tú Lĩnh là tên tự, chứ không phải tên của Bùi Huy Tùng. Trong quá trình khảo sát, chúng tôi tim được bai viết khá chi tiết về thân thé va sự nghiệp của Bùi Huy Tùng của nhà Hà Nội học Nguyễn Vinh Phúc.
Bài viết có nhan đề “Bui Huy Tùng, nhà văn hóa đáng trọng của Hà Nội”, được đăng tải trên Website: http://hobuivietnam. Dưới đây xin được trích lục một số phan trong bài viết như sau: “Ông là một nhà từ thiện nổi tiếng của Hà Nội nửa đầu thế ky XIX, quê ở ngõ Phat Lộc, sinh năm Giáp Dan - 1794, mat năm Nhâm Tuất — 1862.) Theo gia phả họ Bùi thì ông tô đầu tiên lên Thăng Long là Bùi Mạo, vào học trường Giam năm Dinh Dậu niên hiệu Vĩnh Thịnh (năm 1717). Cụ thuộc thé hệ thứ 11, tính từ thủy t6 ở Thái Bình. Đến thế hệ thứ 14 có một nhân vật nôi tiếng về văn hoá, đặc biệt là về lễ nghi và công việc từ thiện.
Đó là Bùi Huy Tùng 28 #8 (1794 — 1862). Ông hiệu là Như Trai 20#%, tự là Tú Lĩnh 3$. Ông hiếu học, quảng bác song không thành đạt về khoa cử. Dường như ở một kỳ thi Hương, ông chỉ vào đến Tam trường.
Được bạn bè tiến cử, ông có vào Huế làm một chức vụ về văn thư ở phủ ? Trịnh Khắc Mạnh: Tên tu, tên hiệu các tác gia Han Nôm Việt Nam (Nxb Văn Hóa Thong Tin, 2007, Tr. 11 của Kiến An quận vương (con trai của Gia Long). Song chỉ một thời gian ngắn, ông cáo quan, về lại ngõ Phất Lộc mở trường dạy học. Được ba vợ tần tảo đảm đang buôn bán giỏi nên gia tư cũng khá giả.
Song không như nhiều nhà có của mà keo kiệt, hai ông bà luôn làm những việc từ thiện công đức. Đặc biệt đối với các di tích lịch sử thì ông bà có đóng góp quan trọng. Xin nêu hai di tích lớn. Thứ nhất, là Văn chỉ huyện Thọ Xương.
Nguyên ngày trước trong việc thờ phụng các vị sáng lập ra Nho giáo thì ở cấp tỉnh có văn miếu tức tòa nhà xây dựng quy mô; còn ở cấp phủ, huyện và ở làng thì có văn chỉ, tức là một khuôn viên (phần lớn ở giữa đồng) gồm một cái nền lát gạch lộ thiên, bên trên xây những bệ gạch, đặt bát hương, mỗi năm “Xuân Thu nhị kỳ”, thường vào ngày Dinh của tháng Hai và tháng Tám, hội Tư văn hàng phủ, hàng huyện (hoặc hang xã) tới làm lễ cũng Không Tử và các vị khoa bảng của địa phương. Riêng huyện Thọ Xương tới đời Nguyễn vẫn là huyện quan trọng của tỉnh Hà Nội nên các nhà nho đã thay thé văn chỉ lộ thiên bằng những tòa nhà han hoi, không to bang văn miéu song cũng đủ hậu cung, đại bái, tả vu, hữu vu. vì ngoài Không Tử, Tứ phối, nơi đây còn thờ các vị tiên hiền, tức các nhà khoa bảng người gốc Thọ Xương (Tho Xương tiên hiển từ vũ - đền thờ tiên hiền huyện Tho Xương). Nay Văn chỉ Thọ Xương đang xuống cấp, ở sâu trong ngõ Văn Chỉ, chỗ số nhà 222 phố Bạch Mai rẽ vào.
Tuy vậy, ở đó vẫn còn một tắm bia ghi lại sự việc xây dựng tòa đền này dựng vào niên hiệu Minh Mạng thứ 19 (Mậu Tuất, 1838). Tác giả bài văn bia là nhà văn hóa lớn đương thời - Tiến sĩ Nguyễn Văn Lý, người đời quen gọi là ông Nghẻ Đông Tác (vì quê ở làng Đông Tác tức phường Trung Tự ngày nay). Tên bia là “Tho Xương tiên hiển từ vũ bỉ". Trong bai văn bia tac giả thuật lại quá trình tạo dung văn chi, trong đó nêu cao công đức của ông Bùi Huy Tùng: “Xưa kia đã có dén thờ, nhưng trải qua cơn biển loạn (.) đền cũ không con.
Năm Nhâm Thìn - 1832, bọn thân sĩ chúng ta cảm kích nhớ tới dao đức phẩm chất các vị tiên hiển, nên bàn cách khiến cho được lưu truyền mãi, tham khảo quy chế phụng thờ, ghỉ thành ước lệ. 12 Qua năm Bính Thân - 1836, các thân sĩ đem ý định đó bàn với vị Tiến sĩ khoa Bính Tuất (năm 1826), người thôn Tự Tháp là Vũ Hoán Phi (Vũ Tông Phan) rồi chọn nơi làm dén thờ ở phường Hong Mai, phía Nam huyện. Dén chính xây toà gach, mặt hướng về phương Đông. Năm gian bái đường, nhà bên tả và bên hữu déu lợp ngói, cột phía ngoài và tường xung quanh déu xây gạch.
Khoảng giữa trồng hoa, lại đặt thêm ruộng tế và ao tắt cả 8 mẫu 7 sào 10 thước. Quy chế trăm ngàn năm, chỉ có vài năm mà hoàn thành. Ôi! Việc tốt đẹp của danh giáo được mở ra rồi chăng? Nếu không, sao lại hưng thịnh được như vậy. Ngay từ ban dau khi thân sĩ ta dé xướng ra thì ông Bùi Huy Tùng, người Hà Khẩu thuộc bản huyện đã vui lòng xuất của nhà hàng ngàn quan đưa cúng vào đó, lại tự mình trông nom mọi việc từ dau đến cuối.
Thế mới biết rằng những việc rất lớn, rất tốt trong vũ trụ, chỉ sợ không chịu làm thôi. Nếu làm thì không có gì khó. Bởi vì đã hợp lẽ trời thì than minh không hé ngăn cản việc hoàn thành ””. Không rõ giá trị của hàng ngàn quan tiền mà ông Tú Lĩnh đã bỏ ra để góp phan tu tạo di tích so với thời đó là bao nhiêu, chỉ biết bậc đại nho Nguyễn Văn Lý đã đưa tên tuôi và ca ngợi công đức của ông vào trong bia thì han là rất lớn, không chỉ về vật chất mà còn cả về tinh thần.
Thứ hai, ông Tú Lĩnh còn đứng ra cáng đáng việc tu bố chính ngồi đình Phat Lộc, nay là số nhà 46A trong ngõ. Đền đó do ba giáp Nguyên Thượng, Nguyên Trung, Nguyên Hạ của chính dân Phất Lộc lập ra, nên gọi là đền Tam Nguyên. Đền có từ giữa thế kỷ XVIII, đến giữa thế kỷ XIX thì hư hỏng. Tú Lĩnh Bùi Huy Tùng đã đứng ra làm lại ngôi đền.
Công việc xong xuôi cả ba giáp lập bia nhờ Tiến si Vũ Tông Phan viết cho bài văn bia” Tring tân Tam Nguyên từ bi ký” trong đó có đoạn: “ (.) có người Giáp Thượng là Tu Linh Bui Huy Tùng va vợ hiển là Cao Thi Tinh, vốn di vui làm việc thiện, nghe tỏ sự tình, nhân đó cũng có lời bày tỏ phân mình; tiếp theo lời lại vui vẻ xuất tiền riêng ra xây lại mới mẻ, to lớn hơn xưa. Công việc thật không lường! Thang Hai, mùa xuân năm Miậu > Ban dịch của sách Va Tông Phan - Tuyển tập thơ văn, Trung tâm Văn hoá Đông Tây, 2000 (nguyên chú) 13 Thân (năm 1848) bói quẻ khởi công, đến tháng Mười mùa đông mới xong. Nhà mái khang trang, khí sắc hơn xưa gấp bội, ấy là nhờ có phúc ấm than linh truyén lại, nhưng ví thứ không có người thành thâm, liệu được như vậy chăng? Bèn cho khắc vào bia đã để lưu truyền ”'. Lại một bậc đại nho khác ca ngợi công đức, việc làm từ thiện của Tú Lĩnh Bùi Huy Tùng.
Ngoài ra, Tú Lĩnh còn góp công của tu bổ một số di tích khác như đình Xã Đàn, đình Văn Quán (nay thuộc phường Văn Mỗ, quận Hà Đông), đình Kim Bài (nay thuộc thị trấn Kim Bài, huyện Thanh Oai, Hà Nội). Thật là một tắm gương trong sáng vô tư. Cũng phải kế đến một đóng góp đáng kể của ông Bùi Tú Lĩnh với việc nghiên cứu các cửa ô Hà Nội là bài văn bia ông soạn cho đình Thanh Hà, nay là số 10 Ngõ Gach, có tên là Trùng tu Thanh Hà đình vũ bi ký. Qua bài văn bia này ta được biết, cửa ô Quan Chưởng đến năm Đinh Sửu niên hiệu Gia Long (năm 1817) được làm lại, dé mở rộng đường cái quan nên xén vao đình làng Thanh Ha, do vậy đình phải chuyển đến chỗ ngày nay (10 Ngõ Gạch), ban đầu bằng tre gỗ lop lá, năm Nhâm Ngọ - 1822 lợp ngói, năm Canh Tý - 1840 làm mới lại.
Ngoài ra, Tú Linh còn biên soạn nhiêu sách, tô chức khăc in. Đó là những an phâm hoặc là trích lục những sách cổ, hoặc là hiệu chỉnh các bản in trước đây hoặc là những bộ sách do ông tự biên. Có thê nêu một sô: 1. Tuyến trích: 4m chất văn (trích các đoạn văn trong các sách cũ khuyên làm việc thiện).
Hiệu chỉnh: Ngữ Iudn ký (khúc ngâm va bài ký về năm đạo luân thường); Khuyét lý hợp toản (kê chuyện về Không Tử); Cức vi khuyến giới đoạt mệnh lục hợp biên, gồm: Văn xương Dé quân quá cách và Thái vi tiên quân công quá cách (nói về cách tu dưỡng bản thân theo Văn Xương và Thái Vi). * Bản dịch của sách Vai Tông Phan - Tuyển tập tho văn, Trung tâm Văn hoá Đông Tây, 2000 (nguyên chú) 14 3. Tự biên: Ti /é lược tập (tóm lược bốn lễ quan, hôn, tang, tế); Ti Linh tôn ông lục tuân song thọ thi tập (gồm trên 200 bai thơ, 105 câu đối mừng Tú Lĩnh thọ 60 tuổi của bạn bè và của cả chính ông), Tho Xương huyện triệu tự lệ (Điều lệ thờ tiên hiền ở huyện Thọ Xương). Tất cả các sách trên, đều được cho “khắc in” ở nhà sách đặt tại Như Nguyệt đường do ông chú là Bui Huy Doan sáng lập, đặt tại Văn chỉ Thọ Xương.
Tóm lại, Bùi Huy Tùng đúng là một người Hà Nội (dù gốc Thái Bình) với nghĩa là một người giữ lễ nghi, trọng nhân nghĩa, khoan hòa, chuộng việc thiện tức là ý thức cộng động cao. Vì thế mà các đại nho Hà Nội rất quý trọng.