CHƯƠNG 1 TRUYỆN NGAN VE DE TÀI DAN TOC MIEN NÚI PHÍA BAC TRONG BUC TRANH TRUYEN NGAN DUONG DAI 1. Truyện ngắn va những sự đối mới trong điều kiện xã hội đương đại Từ sau 1986, sự đổi mới tư duy nghệ thuật, sự mở rộng phạm trù thâm mĩ trong văn học khiến truyện ngắn không những đa dạng về đề tài, phong phú về nội dung mà còn có nhiều thể nghiệm, cách tân về thi pháp. Mỗi nhà văn đều lí giải cuộc sống từ một góc nhìn riêng, với những cách xử lí ngôn ngữ riêng. Hệ quả tất yếu là truyện ngắn Việt đương đại đã gặt hái được không ít thành công trên nhiều phương diện.1- Những chuyển biến về nội dung, khuynh hướng phan anh Chúng ta đều biết rằng khi xem xét quá trình đổi mới văn học phải đặt các tác phẩm trong tương quan giữa hình thức - nội dung, quá khứ - hiện tại, bản thân tác giả - các thế hệ cùng thời và đương đại.
Sự chuyên biến theo hướng đôi mới dé phát triển là một đòi hỏi tất yêu của bat kỳ một giai đoạn văn học nào và chính đội ngũ các nhà văn ở mỗi thế hệ, mỗi thời ky déu nhan dién cũng như ý thức được tầm quan trọng của nhiệm vụ này. Chiến thắng hào hùng năm 1975 mở ra một chặng đường mới cho dân tộc Việt Nam, giai đoạn hòa bình, xây dựng, tái thiết đất nước. Chiến tranh đã lùi vào quá khứ, tiếng kèn và cờ hoa thắng trận bớt rực rỡ, 6n ảo. Sau một quãng lùi lịch sử, một khoảng cách về thời gian, các truyện ngắn được sáng tác trong thời kỳ này đã nhạt dần chất sử thi, bớt đi khí vị anh hùng cao cả mà thay thé vào đó là giọng điệu thâm tram, sâu lắng hơn với những sắc màu tình cảm, cung bậc thể hiện và bình điện mới.
Ở mọi thời dai, bao giờ nhân vật của truyện ngắn cũng được đặt trong vô vàn các quan hệ và các bình diện như tập thể - cá nhân, lý tưởng - hiện thực, tiền tuyến - hậu phương, sống - chết, được - mất, cho - nhận, cống hiến - hưởng thụ, vì người - vì mình, lý tưởng chung - số phận riêng, ra đi - trở về. Nếu trong chiến tranh, những con người ấy được khai thác thiên về khía cạnh dân tộc, 13 tập thé, lý tưởng, chiến trường, công hiến. thì trong thời bình, khám pha của các nhà văn đã nghiêng về trục đối lập. Không gian trong các tác phẩm cũng được chuyền từ rộng sang hẹp, từ không gian lịch sử sang không gian đời tư, từ chiến trường về cuộc sống thường nhật.
Cảm hứng của các cây bút cũng có bước thay déi từ vĩ mô xuống vi mô, từ cao xuống thấp, từ số phận chung của đất nước, dân tộc đến số phận của những con người cụ thé. Trong các truyện ngăn đã xuất hiện với mật độ dày đặc hơn tâm thế đối thoại của các nhân vật, nó chứng tỏ sự xuất hiện của những quan niệm, tiêu chuẩn, thang bậc giá trị mới khác hoàn toàn trước đó. Chăng hạn khi các nhà văn viết về chiến tranh và cái chết đã không còn là sự hồi sinh, thăng hoa mà là cả nỗi lạnh lẽo, cô đơn, một nỗi buồn chiến tranh đeo đăng. Tư thế của người chiến sĩ không còn cao vời vợi để người đời ngưỡng vọng mà là chính bản thân của họ với ý thức cụ thé, rõ ràng về giá trị của mình, sẵn sàng chối bỏ mọi ánh hào quang, hư danh dé tìm chỗ đứng, vị trí thật của mình.
Trong rất nhiều truyện ngắn, ta bắt gặp phổ biến motip người lính trở về với cuộc sống đời thường bộn bè, phức tạp và rắc rỗi. Từ vị trí người anh hùng trong chiến trận trở thành người công dân, đối diện với sự chuyền đổi khắc nghiệt nhưng tất yếu này, họ sẽ suy nghĩ và ứng xử ra sao? Cái gì còn, cái gì mất, cái gì đã cho, cái gì sẽ nhận, điều gi sẽ xảy đến trong tâm hồn họ. Sau chiến tranh là một cuộc sống hoàn toàn khác, những nhân vật trong các truyện ngắn phải hiện điện với tư cách là những số phận cụ thé, phải tự mình đương đầu cùng những thử thách khắc nghiệt của hoàn cảnh sống thời hậu chiến với sự nghèo đói, rách rưới, thiếu thốn va cả những tàn dư của vết thương chưa lành. Nếu trong chiến tranh, nhu cầu cao nhất của tất cả mọi người là độc lập, tự do thì trong thời bình, khát vọng bức thiết nhất, quyết liệt nhất của họ lại là đòi dan chủ.
Từ những năm 80 của thế ky XX, xã hội có những đôi thay mạnh mẽ, con người hoang mang trước sự phức tạp của đời sống, sự đảo lộn của những giá trị, những quan hệ chuân mực cũ. Càng ngày, các nhà văn càng phải va chạm với một đời sống hiện thực không lý tưởng hóa 14 mà hoàn toàn trần trụi và điều đó được hiện lên rất rõ nét trong mỗi tác phẩm truyện ngắn. Đó là sự nhận thức về nỗi đau có thực với những mat mát về con người, về tinh thần luôn âm i cháy. Đó còn là những cảm nhận về trạng thái xã hội đương đại với những khiếm khuyết, băng hoại về môi trường và nhân cách, chứa đầy những thông tin nhức nhối, xót xa về số phận của những con người cụ thé như người vợ, người mẹ, người cha, người em.
và có khi là của một người dưng tình cờ gặp được. Truyện ngắn thời kỳ này đã phát triển khá mạnh mẽ và càng ngày càng khang định được vị thế của mình trong việc phơi bay một cach chi tiết về hiện thực xã hội thông qua những nỗi bat hạnh của nhân vật. Do là sự thua thiệt, khô sở, đói nghèo, mòn mỏi, bat công, trén chạy qua khứ, xa lánh cội nguồn, suy thoái đạo đức, mơ ước lụi tàn, tài năng rơi rụng. Những vấn đề “nóng bỏng” tính thời sự ấy được truyện ngắn truyền tải thông các nghịch lý và các cặp mâu thuẫn như lý tưởng - hiện thực, chiến tranh - hòa bình, cũ - mới, lừa dối - sự thật, hiện thực - mộng mo, chân thực - gia dối, nhớ - quên, được - mất, cho - nhận, khát khao - thất vọng, quá khứ - hiện tại, hy sinh - đền đáp.
Những quan hệ nay tồn tại cùng trong một môi trường, một nhân vật, một sự kiện tạo nên những tác phẩm đậm chất bi kịch. Một điều đặc biệt đó là văn xuôi Việt Nam sau năm 1975 lại phát triển theo hướng khác với xu thế chung. Nếu theo hướng phổ biến thì nó sẽ phát triển từ bút ký - truyện ngắn - tiểu thuyết còn văn học Việt Nam lại tiễn theo chiều bút ký - tiểu thuyết - truyện ngắn. Giai đoạn bút ký gắn liền với không khí mới mẻ của cuộc sống những ngày đầu hòa bình có đầy đủ những mang màu sáng, tối, đặc biệt là những van dé gai góc, những câu hỏi bức thiết, trăn trở.
Chúng ta có thé kể tới chùm các tác phẩm như Cai đêm hôm ấy đêm gì của Phùng Gia Lộc, Lời khai của bị can của Trần Huy Quang, Người dan bà quỳ của Nguyễn Văn Ba, Thi tục dé làm người sống của Minh Chuyên. Từ but ký chuyển sang tiểu thuyết tuy không theo hướng đi chung nhưng lại khá liền mạch và phù hợp. Các nhà văn mới rời chiên trường chưa lâu, một cuộc sông mới mở ra nhưng dư âm của quá khứ 15 bi tráng và hiện tại nghiệt ngã cứ dan xen, ám ảnh lẫn nhau. Chính hiện thực phong phú được phơi bày kết hợp với vốn sống ngồn ngộn, day ap đã được truyền tải và dung chứa trong các tiêu thuyết như Trong con gió lốc của Khuất Quang Thụy, 7hởi xa vắng của Lê Luu, Bến không chong của Dương Hướng, Manh dat lắm người nhiều ma của Nguyễn Khắc Trường, Nổi buồn chiến tranh của Bảo Ninh.
Điều dễ nhận thấy là ở ngay những tiểu thuyết này chất bút ký báo chí vẫn còn khá “đậm đặc”. Các sự kiện, nhân vật gần như là có thật trong đời sống hàng ngày mà chưa được “gọt rũa” dé nghệ thuật hóa một cách triệt đề. Những hiện thực phản ánh trong các cuốn tiêu thuyết đã được độc giả và người đời biết đến khá rõ ràng, khi ay nảy sinh nhu cầu muốn tim đọc cái khác, cái chưa biết. Đó chính là lúc truyện ngắn đến thời được quan tâm, chú ý, nhiều truyện ngăn hay, nhiều tác gid mới xuất hiện.
Có thé nói rằng, giai đoạn bút ký - tiểu thuyết là cả một quá trình đài chuan bi cho truyện ngắn nở rộ với những tác phẩm ngay khi mới xuất hiện đã tạo ra tiếng vang như Con thuyén ngoài xa, Bức tranh, Khách ở quê ra, Phiên chợ Giát của Nguyễn Minh Châu, Có một đêm như thé của Nguyễn Thị Minh Thu, Anh Sức của Khuất Quang Thụy. và sau đó là một loạt các truyện ngăn của Nguyễn Huy Thiệp. Từ thời kỳ đổi mới trở đi được coi là giai đoạn cực thịnh của thê loại truyện ngắn trong nền văn học nước ta. “Những phẩm chất thâm mĩ tươi mới chỉ có thể được nảy nở, phô sắc và kết đọng trong một môi trường văn hoá - xã hội mới.
Không ai còn có thể nghi ngờ gì nữa về vai trò của bối cảnh văn hoá - xã hội Việt Nam kê từ thời kì đổi mới đối với sự phát triển d6i dao của văn xuôi trong đó có truyện ngắn. Bối cảnh mới thúc đây quá trình đổi thay bởi vì trong lòng nó một hệ giá trị khác trước đã hình thành. Hệ giá trị chuyền từ cao cả, đơn tri sang đời thường, da trị. Không có căn cội này không thê có quan niệm, cái nhìn mới về thế giới và tất yếu đã không có chuyên biến cơ bản như ta đã thấy.
Những năm sau đổi mới đến nay, cùng với sự thay đổi lớn lao của đời sống văn học thé loại truyện ngăn găn liên với các tên tuôi như Nguyên Mạnh Tuân, Lê Lựu, Nguyên 16 Khải, Ma Văn Kháng, Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Bảo Ninh, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Đình Chính, Nguyễn Việt Hà, Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh, Nguyễn Ngọc Tu, Nguyễn Thị Thu Huệ, Phan Thị Vàng Anh, Võ Thị Hảo, Hồ Anh Thái, Y Ban, Cao Duy Sơn, Đỗ Bích Thúy. không chỉ tăng nhanh về số lượng mà còn đổi mới từ nội dung phản ánh đến hình thức thể hiện. “Truyén ngan là một cách đặt van đề bằng nghệ thuật trước nhu cầu tinh thần của con người. Giữa thời đại bùng nỗ thông tin hiện nay truyện ngắn với những đặc trưng và thế mạnh vốn có của mình đã phát triển một cách mạnh mẽ, giữ vững vai trò như “người lính xung kích” trên mặt trận văn học nghệ thuật.