Chương 1: Khái quát về chủ nghĩa hiện sinh và nhà văn Nguyễn Danh Lam Với việc dẫn ra những phạm trù lí thuyết cơ bản nhất, chương này có ý nghĩa như một tiền đề lí thuyết - lí luận cho đề tài. Chủ nghĩa hiện sinh được soi chiếu từ góc nhìn cơ bản đến góc nhìn kết hợp, chuyển hóa. Đây là cơ sở xác tín để đề tài hướng tới định vị được sự tiếp biến chủ nghĩa hiện sinh trong văn xuôi Việt Nam sau 1986. Cụ thể, trong phần “Giới thuyết về chủ nghĩa hiện sinh”, chúng tôi sẽ triển khai các ý sau: Khái niệm chủ nghĩa hiện sinh, Điều kiện ra đời của chủ nghĩa hiện sinh, Những tư tưởng chính của chủ nghĩa hiện sinh, Sự biểu hiện của khuynh hướng hiện sinh trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ sau Đổi mới (Các tiền đề cho sự trở lại của khuynh hướng hiện sinh trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ sau Đổi mới, Những biểu hiện của khuynh hướng hiện sinh trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ sau Đổi mới).
Trong phần “Nhà văn Nguyễn Danh Lam và những sáng tác mang dấu ấn hiện sinh”, chúng tôi sẽ đi vào tìm hiểu: Cuộc đời và tác phẩm, Điều kiện tiếp biến chủ nghĩa hiện sinh trong sáng tác của Nguyễn Danh Lam. Chương 2: Dấu ấn hiện sinh trong truyện ngắn và tiểu thuyết Nguyễn Danh Lam nhìn từ cảm quan về hiện thực, con người. Chương này hướng trọng tâm vào việc minh giải các biểu hiện cơ bản trong cảm quan hiện thực và con người mang dấu ấn hiện sinh qua sáu tác phẩm Nguyễn Danh Lam. Đó là hiện thực mang màu sắc phi lí, kì ảo, hiện thực tiềm ẩn nhiều bất trắc.
Các dạng thức cảm quan hiện thực này chính là môi trường nghiệm sinh cho con người. Đó là cảm quan về con người mang phẩm tính hiện sinh phổ biến trên cơ sở lí thuyết đã dẫn ở chương trước: kiểu con người cô đơn - bản thể, cô đơn – lạc loài; kiểu con người lo âu về cuộc sống, về cái chết, kiểu con người nổi loạn trong suy nghĩ, hành động, kiểu con người tha hóa trong suy nghĩ,trong hành động. 16 Chương 3: Dấu ấn chủ nghĩa hiện sinh trong sáng tác Nguyễn Danh Lam nhìn từ phương thức thể hiện. Thực chất, cảm quan hiện sinh có ảnh hưởng đến mọi mặt nghệ thuật tiểu thuyết.
Chương này giải quyết các vấn đề về nghệ thuật thể hiện như: Cốt truyện phân mảnh, Kết cấu mở; Giọng điệu triết lí, vô âm sắc; Các motif hiện sinh như motif hành trình, motif cuộc đời phi lí. Xét trong chỉnh thể cấu trúc, Chương 2 và Chương 3 có mối quan hệ chặt chẽ theo hướng bổ trợ cho nhau, góp phần thể hiện đóng góp mới của luận văn. KHÁI QUÁT VỀ CHỦ NGHĨA HIỆN SINH VÀ NHÀ VĂN NGUYỄN DANH LAM Trong chương này, người nghiên cứu sẽ đề cập đến lý thuyết của chủ nghĩa hiện sinh, những tiền đề cho sự trở lại cũng như những biểu hiện của khuynh hướng hiện sinh trong văn xuôi Việt Nam thời kỳ sau đổi mới và đôi nét về Nguyễn Danh Lam cùng với những điều kiện giúp nhà văn tiếp biến chủ nghĩa hiện sinh trong sáng tác của mình. Đây là cơ sở cho việc phân tích những dấu ấn hiện sinh trong truyện ngắn và tiểu thuyết của nhà văn ở các chương tiếp theo.
Giới thuyết về chủ nghĩa hiện sinh 1. Khái niệm chủ nghĩa hiện sinh Thuật ngữ “chủ nghĩa hiện sinh” (tiếng Anh là Existentialism, tiếng Pháp là Existentialisme, tiếng Đức là Dasein) xuất phát từ tiếng Latinh “existentia” - có nghĩa là “tồn tại”. Cho nên “chủ nghĩa hiện sinh” còn được gọi là Thuyết Sinh tồn, Thuyết Hiện sinh, Triết Hiện sinh. Nó là đại diện chính của trào lưu tư tưởng nhân bản chủ nghĩa trong triết học phương Tây hiện đại.
Chủ nghĩa hiện sinh xuất hiện đầu tiên ở Đức vào cuối những năm 20-30 của thế kỷ XX với những tên tuổi tiêu biểu như M. Sau đó, triết thuyết này được J. đưa vào Pháp và nhanh chóng lan rộng ra khắp thế giới.Theo các nhà nghiên cứu, sự ra đời của chủ nghĩa hiện sinh đã phá vỡ bầu không khí sinh hoạt trầm buồn của châu Âu những năm đầu thế kỷ XX. “Triết hiện sinh đã xuất hiện rầm rộ, gần như một tiếng sấm vang động cả đất trời, lay động xã hội Tây phương một cách mạnh mẽ như chưa từng thấy trong lịch sử” (Trần Thái Đỉnh, 2015).
Theo Từ điển thuật ngữ văn học, “chủ nghĩa hiện sinh” là “một trào lưu văn học xuất hiện ở châu Âu, trước hết là ở Pháp, vào những năm trước và sau Chiến tranh thế giới thứ hai và tiếp đó, lan rộng nhanh chóng sang một số nước trên thế giới. Đây là một trào lưu khá rộng lớn và phức tạp. Ngay trong tư tưởng triết học của họ cũng không hoàn toàn đồng nhất. Có người hữu thần, có người vô thần, song họ 18 giống nhau ở tư tưởng bi quan sâu sắc đối với con người và cuộc sống.
Các nhà tư tưởng chủ nghĩa hiện sinh cho rằng trong thế giới ngày nay mọi giá trị tinh thần đang mất hết ý nghĩa mà không thể bù đắp lại được. Điều đó sẽ dẫn đến một thảm kịch truyền kiếp “thân phận con người” mà nhà triết học Đan Mạch Kierkegaard từ thế kỷ XIX, đã có nói đến trong các thuyết về tội lỗi của con người ở một “thời đại mất Chúa” (thực chất là sự quan niệm về sự mất ý nghĩa của cuộc sống). Theo họ, con người đang bị bỏ rơi trong nỗi cô đơn giữa cái hiện hữu thù nghịch, cho nên cuộc đời chỉ là một sự vô nghĩa, “sự vô nghĩa sinh ra từ sự đối chiếu giữa lời kêu gọi của con người và sự im lặng của cuộc đời” (A. Để khắc phục tình trạng ấy, xuất phát từ một quan điểm duy tâm về bản chất con người, trong mệnh đề triết học khá tiêu biểu của họ “cái hiện sinh có trước bản chất”, các nhà hiện sinh chủ nghĩa kêu gọi con người quay về với cá nhân của mình, “dựa vào cái mình có để nâng cao mình lên”, để “tự do sáng tạo mình bằng mỗi hành động của mình, tự do mang đến sự sinh tồn của mình một ý nghĩa và để trở thành cái mà trước đây mình không phải như thế” (J-P Sartre )” (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi,2007).
“Ở chủ nghĩa hiện sinh, triết học được khảo sát như một lĩnh vực nhận thức gần với sáng tác nghệ thuật và khác với khoa học. Theo quan điểm của chủ nghĩa hiện sinh: nhận thức duy lý là bất cập đối với hiện sinh (existentia) của con người; nhưng hiện sinh lại có thể được khám phá bằng sự trải nghiệm trực tiếp; bởi vậy có thể miêu tả nó gần với cung cách miêu tả nghệ thuật.) Trung tâm chú ý của các nhà hiện sinh là vấn đề cá nhân và các quan hệ của nó với thế giới, với những người khác và với chúa trời. Giọng điệu chung thể hiện tâm trạng bi quan, bi đát” (Lại Nguyên Ân, 2017). Trong cuốn sách Những chủ đề triết học hiện sinh, tác giả E.
Mounier cho rằng: “Nói một cách khái quát thì trào lưu tư tưởng này (triết học hiện sinh) là một phản ứng của con người, chống lại sự thái quá của triết thuyết duy tâm và triết lý về vạn vật. Trào lưu đó không lấy cuộc sống nói chung, nhưng lấy cuộc sống của con người nói riêng là vấn đề đầu tiên của triết học” ( E. Từ những khái niệm trên ta có thể hiểu, chủ nghĩa hiện sinh là từ dùng để nói về nghiên cứu của một nhóm các triết gia cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX như Kierkegaard, Nietzsche, Jaspers, Heidegger, J-P Sartre, Marcel, Camus.-những người mà tuy khác nhau về quan niệm nhưng đều có chung niềm tin rằng tư duy triết 19 học xuất phát từ chủ thể con người. Chủ nghĩa hiện sinh là sự phản ứng lại, đối lập lại chủ nghĩa duy lý mà xuất phát điểm của cá nhân được đặc tả bởi cái từng được gọi là "thái độ hiện sinh" hay một tình trạng mất định hướng và bối rối khi đứng trước một thế giới có vẻ như vô nghĩa và phi lý.
Chủ nghĩa hiện sinh đã phát triển mạnh mẽ ở châu Âu trong những năm 1940 – 1960 của thế kỷ XX. Từ cuối những năm 1960 đầu những năm 1970, chủ nghĩa hiện sinh mặc dù đi vào suy thoái nhưng tư tưởng của nó vẫn tiếp tục ảnh hưởngvà thấm sâu vào lòng thời đại ở phương thức tư duy và cách nhìn thấm đẫm tinh thần nhân văn về bản thể cũng như sự hiện tồn của con người. Điều kiện ra đời của chủ nghĩa hiện sinh Chủ nghĩa hiện sinh là một trường phái triết học lớn trong trào lưu chủ nghĩa nhân bản phi duy lý ở phương Tây thế kỷ XX. Ngay từ khi ra đời, những tư tưởng của nó không chỉ phát triển mạnh mẽ ở châu Âu mà còn nhanh chóng lan tỏa và gây ảnh hưởng sâu rộng trên phạm vi toàn thế giới.
Cũng như các trào lưu khác, chủ nghĩa hiện sinh được hình thành dựa trên các điều kiện cơ bản như: lịch sử xã hội, nhận thức và tư tưởng. Xét về mặt lịch sử xã hội, chủ nghĩa hiện sinh ra đời là hệ quả tất yếu của các cuộc chiến tranh thế giới tàn khốc mà cụ thể là Thế chiến thứ I và Thế chiến thứ II. Cuộc chiến tranh thế giới lần thứ nhất nổ ra ở Đức. Kết thúc bốn năm máu chảy thịt, trước bối cảnh một nước Đức thất trận và bị tàn phá nặng nề, tinh thần người dân dường như rơi vào ngõ cụt bởi họ không còn tìm thấy niềm tin, sự lạc quan, hi vọng mà thay vào đó đó là những hoài nghi, ưu tư, lo lắng.
Cho nên con người tìm đến chủ nghĩa hiện sinh như tìm đến một chiếc phao cứu sinh để xoa dịu nỗi đau tinh thần và thích ứng dần với những bi kịch mà họ đang gánh chịu. Như vậy, sau chiến tranh thế giới lần thứ nhất, chủ nghĩa hiện sinh chính thức hình thành ở Đức. Tuy nhiên vết thương chiến tranh một lần nữa chảy máu và hành hạ con người châu Âu bởi họ lại phải đối mặtvới những ngày tháng khủng khiếp khi cuộc chiến tranh thế giới thứ hai tiếp tục nổ ra ở Pháp. Sau cuộc chiến, một châu Âu điêu tàn, đổ nát hiện ra trước mắt họ.
Cùng với đó là những đổ vỡ không gì cứu vãn nổi của hàng loạt giá trị. Tất cả chúng khiến con người kinh hoàng, đau đớn và hoàn toàn rơi vào tuyệt vọng. Đến lúc này, làn sóng của chủ nghĩa hiện sinh một lần nữa trỗi lên mạnh mẽ ở Pháp.