CHƯƠNG 1: BIỂN ĐẢO VÀ THƠ VIẾT VỀ ĐỀ TÀI BIỂN ĐẢO 1. Biển đảo Việt Nam Lâu nay, khi nói đến lãnh thổ Việt Nam nhiều người thường chỉ nghĩ đến diện tích đất liền hay phần lục địa chạy dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, bắc giáp Trung Quốc, tây giáp Lào và Campuchia. Tuy nhiên, theo định nghĩa hiện đại, lãnh thổ không chỉ gồm có vùng núi, vùng trung du, vùng đồng bằng và sông ngòi mà còn bao gồm tất cả vùng trời, vùng biển và hải đảo. Như vậy, đất nước Việt Nam của chúng ta không chỉ chạy dài từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau mà còn trải rộng từ Tây Trường Sơn tới Đông Trường Sa.
Đất nước Việt Nam thân yêu là một quốc gia nằm trong số 10 nước trên thế giới có chỉ số cao nhất về chiều dài bờ biển. Bờ biển nước ta dài 3670 km, từ Quảng Ninh đến Kiên Giang. Như vậy cứ l00 km2 thì có l km bờ biển (trung bình của thế giới là 600 km2 đất liền/1km bờ biển), mở ra 3 hướng Đông, Nam và Tây. Biển có vùng nội thủy, lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa với diện tích trên 1 triệu km (gấp 3 diện tích đất liền: l triệu km2/330.
Trong 63 tỉnh, thành phố của cả nước thì có 28 tỉnh, thành phố có biển và gần một nửa dân số sinh sống tại các tỉnh, thành ven biển. Biển từ lâu đã có ý nghĩa to lớn để chúng ta phát triển và mở rộng giao lưu quốc tế. Tài nguyên sinh vật và khoáng sản phong phú, đa dạng, quý hiếm của biển có ý nghĩa rất quan trọng đối với sự nghiệp phát triển đất nước. Nếu biết khai thác và khai thác đúng nguồn tài nguyên tiềm tàng của biển, nền kinh tế nước ta sẽ ngày càng giàu mạnh.
Việc sử dụng, khai thác biển là truyền thống lâu đời của dân tộc Việt Nam. Ngay từ buổi hoang sơ, qua những truyền thuyết của thời đại Hùng Vương (Lạc Long Quân - Âu Cơ, Mai An Tiêm, Tiên Dung - Chử Đồng Tử…) đã cho thấy nhân dân ta từ lâu đã biết khai thác, sử dụng lợi thế của biển và đảo. Trong quá trình tồn tại và phát triển của lịch sử mấy ngàn năm, dân tộc Việt Nam luôn có ý thức bảo vệ biên 9 z giới lãnh thổ trên đất liền và ngoài biển, thể hiện chủ quyền trên biển và các hải đảo của đất nước mình. Vùng biển và ven biển Việt Nam lại nằm án ngữ trên các tuyến hàng hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa châu Âu, Trung Cận Đông, Trung Quốc và Nhật Bản với các nước trong khu vực.
Có thể nói, đó là cánh cửa rộng mở để cho ta vươn ra đại dương bao la, nhằm chủ động hội nhập kinh tế với thế giới có hiệu quả. Vùng biển nước ta không những có vị trí quan trọng về kinh tế mà còn có vị trí đặc biệt quan trọng về quân sự đối với các nước trong khu vực và trong chiến lược của các nước lớn. Nó là biên giới phía Đông, là đường tiếp cận, bàn đạp tiến công, uy hiếp, phong tỏa và phá hoại nhiều mặt của các thế lực xâm lược. Lịch sử cho thấy rằng trong 14 cuộc chiến tranh xâm lược của kẻ thù đối với nước ta, thì có 10 cuộc bắt đầu từ hướng biển, kẻ thù đã sử dụng đường biển để tấn công xâm lược nước ta.
Những chiến công hiển hách trên chiến trường sông biển đã minh chứng: Ba lần đại thắng quân thù trên sông Bạch Đằng (năm 938, 981 và 1288); chiến thắng trên phòng tuyến sông Như Nguyệt (năm 1077); chiến thắng Rạch Gầm - Xoài Mút (năm 1785) và những chiến công vang dội của quân và dân ta trên chiến trường sông biển trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ là những minh chứng ghi đậm dấu ấn không bao giờ phai mờ trong lịch sử dân tộc. Trong cuộc chiến tranh “phá hoại và bóp nghẹt” của không quân và hải quân Mỹ (1964 - 1968 và 1972), “Đoàn tàu không số” của “Đường Hồ Chí Minh trên biển” đã kiên cường, dũng cảm, sáng tạo mở tuyến, vận chuyển chi viện cho miền Nam, giải phóng các đảo và quần đảo Trường Sa, góp phần giành thắng lợi trọn vẹn cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước. Biển nước ta còn gắn với những giá trị thiêng liêng về tâm linh và lịch sử. Truyền thuyết về Lạc Long Quân - Âu Cơ và những chiến công lịch sử Bạch Đằng, Vân Đồn xưa, Cồn Cỏ, đường huyền thoại Hồ Chí Minh trong 10 z kháng chiến chống Mỹ… đã cấu thành những thành tố thuộc về dân tộc nâng đỡ sức mạnh tinh thần cho muôn thế hệ.
Vùng biển nước ta có trên 4000 hòn đảo lớn nhỏ. Trong đó, vùng biển Đông Bắc có trên 3000 đảo, Bắc Trung Bộ có trên 40 đảo. Còn lại ở vùng biển Nam Trung Bộ, vùng biển Tây Nam có hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa. Căn cứ vào vị trí chiến lược cùng các điều kiện địa lý kinh tế, dân cư, thường người ta chia các đảo, quần đảo thành các nhóm: hệ thống đảo tiền tiêu, các đảo lớn, các đảo ven bờ và hai quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa.
Hệ thống đảo tiền tiêu có vị trí quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Trên các đảo có thể lập những căn cứ kiểm soát vùng biển, vùng trời nước ta, kiểm tra hoạt động của tàu, thuyền, bảo đảm an ninh quốc phòng, xây dựng kinh tế, bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của đất nước ta. Đó là các đảo, quần đảo như: Hoàng Sa, Trường Sa, Chàng Tây, Thổ Chu, Phú Quốc, Côn Đảo, Phú Quý, Lý Sơn, Cồn Cỏ, Cô Tô, Bạch Long Vĩ. Các đảo lớn có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho phát triển kinh tế - xã hội như: Cô Tô, Cát Bà, Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Phú Quý, Côn Đảo, Phú Quốc.
Các đảo ven bờ có điều kiện phát triển nghề cá, du lịch và cũng là căn cứ để bảo vệ trật tự, an ninh trên vùng biển và bờ biển nước ta. Đó là các đảo thuộc huyện đảo Cát Bà, huyện đảo Bạch Long Vĩ (Hải Phòng), huyện đảo Phú Quý (Bình Thuận), huyện đảo Côn Sơn (Bà Rịa - Vũng Tàu), huyện đảo Lý Sơn (Quảng Ngãi), huyện đảo Phú Quốc (Kiên Giang). Việt Nam có hai quần đảo xa bờ là Hoàng Sa và Trường Sa cùng các đảo lớn, nhỏ, gần và xa bờ hợp thành phòng tuyến bảo vệ, kiểm soát và làm chủ vùng biển. Đảo và quần đảo nước ta có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; có vai trò lớn lao trong công cuộc bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc ta.
Với những tiềm năng rất lớn từ phía biển, biển Đông cùng các đảo hiện nay vẫn còn diễn ra các tranh chấp phức tạp và quyết liệt về chủ quyền giữa 11 z các quốc gia, nơi tiềm ẩn những bất trắc khó lường, đang là thách thức đe dọa đến chủ quyền lãnh thổ, an ninh của nước ta trên biển và từ hướng biển. Biển đảo vì thế trở thành một vấn đề nóng bỏng, thu hút sự quan tâm của nhiều lĩnh vực. Trong đó thơ ca cũng lấy biển đảo là nguồn cảm hứng cho các sáng tạo. Thơ viết về đề tài biển đảo Nhận rõ vị trí tầm quan trọng của biển đảo nên các nhà thơ đã dành không ít những tác phẩm viết về biển đảo.
Có thể nói, biển đảo đã trở thành một đề tài lớn thu hút sự quan tâm của văn học. Bởi từ xưa đến nay, phần lãnh thổ thiêng liêng này đã gắn liền với số phận dân tộc. Từng hải lý, từng tấc đảo, Hoàng Sa, Trường Sa… là máu, mồ hôi của ông cha để lại. Tổ Quốc thân yêu đã và đang hướng ra biển lớn.
Văn học nói chung và thơ ca nói riêng không thể thờ ơ hay đứng ngoài những vấn đề lớn của dân tộc. Hành trình lịch sử và hành trình của thơ ca chân chính không tách rời nhau bởi hạt nhân của nó là lòng yêu nước nồng nàn. Song hành với ngư dân và những người lính đang ngày đêm canh giữ biển đảo - một phần máu thịt thiêng liêng của Tổ quốc còn có những nhà thơ. Họ không thường xuyên có mặt trực tiếp trên biển, song những bài thơ của họ thì luôn ấm nóng, luôn khẳng định chủ quyền bất di bất dịch về vùng lãnh hải mà hàng nghìn năm nay cha ông ta đã cất công gìn giữ.
Thật có lý khi nhà văn Nguyễn Trí Huân cho rằng: “Việt Nam là một dân tộc hướng ra biển. Biển “nóng” lên thế nào, đất liền cũng sẽ “nóng” lên như vậy. Trên biển không chỉ có sóng, có gió mà còn có cả con người - những con người hết sức đẹp đẽ. Trong nhiều năm qua, đã có hàng trăm nhà văn, nhà thơ đến với Trường Sa, Hoàng Sa.
Nhưng không chỉ có Trường Sa, Hoàng Sa, mà những hòn đảo khác nữa trong vùng biển thiêng liêng của Tổ quốc sẽ mãi là đề tài lớn với thi ca, bởi đó là máu thịt, là hương hỏa từ ngàn đời của ông cha ta bao thế hệ” [7]. 12 z Số lượng các bài thơ viết về biển đảo ngày một nhiều hơn. Mỗi một giai đoạn văn học lại ghi dấu những bài thơ hay viết về đề tài này. Biển đảo là máu thịt của đất nước nên các nhà thơ viết về biển đảo cũng chính là viết về Tổ quốc thân yêu.
Tình hình biển đảo hiện nay đang nóng bỏng từng giờ càng thôi thúc nhiều nhà thơ hướng trái tim của mình ra biển để sáng tác. Với họ, viết về biển đảo chính là một cách để thể hiện tình yêu cháy bỏng đối với đất nước. Thơ viết về biển đảo từ năm 1945 đến năm 1975 Văn học giai đoạn 1945 - 1975 là nền văn học của chế độ mới, vận động và phát triển dười sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản, có sự thống nhất về khuynh hướng tư tưởng. Văn học giai đoạn này hướng đến việc phản ánh hai cuộc kháng chiến thần thánh của dân tộc với các vấn đề lớn của thời đại.
Tuy vậy, khảo sát đội ngũ các nhà thơ chúng ta thấy có không ít những tác giả viết về biển đảo. Thậm chí ngay trong một số tập thơ viết về đề tài chiến tranh thì vẫn có những bài thơ viết với cảm hứng biển đảo.