Chương 1: Phương thức biểu hiện của ca dao Việt Nam từ 1945 dén nay 1. Quan niệm về ca dao hiện đại Nếu văn học dân gian là một khái niệm khép kín thì văn học dân gian hiện đại là một khái niệm mở. Ca dao là thé loại đặc trưng nhất của văn học dân gian, do đó ca dao hiện đại cũng là một khái niệm mở, xem xét những yếu tố mở của văn học dan gian hiện đại qua thé loại này chúng ta sẽ thay được nhiều sự chuyên biến từ ca đao truyền thống đến ca dao hiện đại. Có thé nói những yếu tố hiện đại đã từng bước xâm nhập vào thê loại truyền thống này, đó là do tính chất đa dạng của sinh hoạt lao động, chiến đấu và vui chơi của quần chúng nhân dân.
Trong sự vận động của thời đại mới thì dường như những khuôn khổ cũ không còn phù hợp, ca dao dần dần tách mình ra khỏi những quy tắc cô truyền cả về nội dung và hình thức dé tìm kiếm cho mình một sự biểu đạt phù hợp với tâm tư nguyện vọng của quần chúng nhân dân, với đời sống xã hội và thời đại mới. Đồng thời, ca dao cũng có ít nhiều chuyên minh dé tiệm cận voi những thé loại khác phù hợp hơn với không khí của đời sống mới. Bởi thế, ca dao đã dần lùi xa khỏi vị trí là lĩnh vực duy nhất và quan trọng của sự sáng tạo nghệ thuật của quần chúng. Nhưng nói như thế không có nghĩa là văn học dân gian hiện đại nói chung và ca dao hiện đại nói riêng không còn có thé sáng tao ra những tác phẩm nghệ thuật có giá tri như văn học dân gian cô truyên nữa.
Trong đề tài của mình, chúng tôi giới hạn tư liệu khảo sát từ năm 1945 đến nay. Tất nhiên, không thể coi đây là mốc thời gian chính xác để phân chia ranh giới giữa ca dao cô truyền và ca dao hiện đại. Theo nhiều nghiên cứu thì ca dao hiện đại bắt đầu từ đầu thé ky XX. Điều này thé hiện ở chỗ càng ngày cùng với sự phát triển của thời đại, việc sáng tác ca dao với tư cách là sáng tác thơ với 7 Nguyễn Thị Thu Hiền Ca dao Việt Nam từ 1945 đến nay dưới góc độ dự luận xã hội đúng nghĩa của nó đã là hiện tượng tương đối phô biến từ đầu thế kỷ XX đặc biệt là trong báo chí và thơ ca cách mạng.
Tuy nhiên, chúng tôi đưa ra mốc thời gian năm 1945 bởi đây là thời điểm có ý nghĩa hết sức quan trọng trong lịch sử và văn học dân tộc, thời điểm đánh dấu những bước chuyền biến quan trọng của ca dao từ truyền thống sang hiện đại. Từ 1945 trở đi, ca dao hiện đại được đánh dẫu bằng những chặng đường lịch sử vẻ vang của dân tộc đó là cuộc kháng chiến chống Pháp và cuộc kháng chiến chống Mỹ của dân tộc. Những bài ca dao hiện đại ở những thời kỳ này là bức tranh đấu tranh cách mạng vinh quang nhất của dân tộc với đầy đủ vẻ tưoi tắn, khỏe khoắn, phong phú và đa dạng của cuộc sống. Tính chất thời đại, nhịp điệu của thời đại đã hòa quyện vào nhiều câu, nhiều bai ca dao mới.
Từ đây, trong ca đao hiện đại đã hình thành nên những bộ phận rất điển hình như hò tiếp vận, thơ đòn gánh, ca dao báng súng. Bộ phận ca dao này được sáng tác dưới hình thức cỗ truyền nhưng nội dung thì hiện đại. Chúng xoay quanh những van đề của cuộc sống hiện thực, là sự cảm nhận và cách nhìn của con người hiện đại, mới mẻ hơn, đa dạng hơn. Chăng hạn, ca dao thời kỳ kháng chiến chống Pháp và ca dao thời kỳ kháng chiến chống Mỹ thì nội dung chủ đạo là công cuộc khang chiến chống xâm lược của nhân dân, tinh thần chiến đấu kiên cường, bất khuất, sự đoàn kết, gắn bó trong tình đồng đội, tình quân dân ca nước, là sự căm thù với quân xâm lược, niềm tin vào chiến thắng ngày mai.
Không khí trong những bài ca đao ấy cũng là không khí đậm chất thời đại. Nó đã đi xa dần những cây đa, bến nước, sân đình, đêm trăng thanh. dé đến với những không gian dang gần gũi với cuộc sống hàng ngày của con người hon, là ham hào, mặt trận, tuyến đường, là nhà máy, xí nghiệp, ham mỏ - nơi mà con người đang ngày đêm chiến dau. Có thể nói ca dao từ truyền thống sang hiện đại đã chuyền dan từ không gian đồng quê sang không gian của mặt trận, của thành thị.
Những con người trong ca Nguyễn Thị Thu Hiền Ca dao Việt Nam từ 1945 đến nay dưới góc độ dự luận xã hội dao cô truyền hầu hết là hình ảnh những người nông dân quanh năm gắn bó với đồng ruộng, quê hương thì trong ca dao hiện đại, ngoài nông dân đã xuất hiện thêm những hình tượng con người mới bộ đội, du kích, dân quân, công nhân. Càng về sau này thì con người trong ca dao hiện đại càng phong phú, đa dạng với đầy đủ mọi tầng lớp, cấp bậc: lãnh đạo, quan chức, đảng viên, giáo viên, học sinh, sinh viên. Tất nhiên, nền tảng vẫn là hình ảnh người nông dân nhưng giờ đây hình anh ấy đã có những biến đồi, khoác lên mình những tắm áo mới, mang những nhiệm vu va sứ mệnh khác. Có thé nói ca dao hiện đại là sự giao thoa giữa ca dao truyền thống, tho và văn học quần chúng.
Khả năng sáng tạo đồi dào của nhân dân ta trong ca đao mới vốn có nguồn gốc từ những sáng tạo nghệ thuật truyền thống. Đó là minh chứng cho hàng loạt sáng tác ca dao hiện đại đều mang dang dap truyền thống dù ít, dù nhiều về hình thức và nội dung, từ chỗ ảnh hưởng sâu đậm đến chỗ thưa dần, mờ dần. Hình thức đối đáp nam nữ đặc biệt quen thuộc trong ca đao cô truyền đến thời kỳ kháng chiến chống Pháp rồi thời kỳ kháng chiến chống Mỹ và thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội vẫn được vận dụng khá phổ biến. Tham gia vào lực lượng sáng tác lúc này có tầng lớp trí thức cách mạng, những người có học.
Do đó, ca dao hiện đại dù vẫn được tồn tại dưới phương thức sáng tác trực tiếp, kip thời ngay sau khi diễn ra sự việc, sự kiện nào đó (bản thân những người sáng tác là những người biết chữ cũng vẫn sáng tác theo phương thức này để phù hợp với hoàn cảnh giao lưu.) nhưng hầu hết đã được ghi chép lại, in ấn dưới dạng văn bản. Do vậy, ca dao hiện đại dẫu có cũng không còn nhiều hiện tượng di bản như ca dao cô truyền do đặc trưng truyền miệng của nó. Từ chỗ là nhu cầu giao lưu trực tiếp của một bộ phận nhỏ, với lực lượng sáng tác chủ yếu là những người biết chữ thì ca đao hiện đại thực sự từ sau cách mạng tháng Tám 1945 với tư cách là sáng tác thơ đã trở thành một phong trào có tính quần chúng. Như vậy, xét cho Nguyễn Thị Thu Hiền Ca dao Việt Nam từ 1945 đến nay dưới góc độ dự luận xã hội cùng, ca dao vẫn là sản phâm của đông đảo quan chúng, là sản phẩm của tập thé.
Đây là lý do để ca dao trong thời kỳ hiện đại vẫn có chỗ đứng nhất định trong dòng chảy của văn học dân tộc, là nơi gửi gắm tâm tư, nguyện vọng, thái độ, tình cảm của đại bộ phận quan chúng nhân dân về những van đề thời cuộc, những van đề liên quan đến lợi ích của quần chúng nhân dân. Tuy vậy, đây đã là thời kỳ hiện đại, khi mà cái tôi cá nhân đã có môi trường dé phát triển một cách toàn diện thì những sáng tác ca đao mới đã phần nhiều thuộc về những cá nhân trong tập thể (dù vẫn đứng ra đại điện cho đông dao quan chúng nhân dân), có tên tuổi và được in ấn lại, ít bị sao chép, thay đôi. Và đây chính là điểm khác biệt lớn nhất giữa ca dao cô truyện và ca dao hiện dai. Chúng tôi sử dụng khái niệm ca dao hiện đại trước hết để phân biệt với cách gọi quen thuộc ca đao truyền thống (cô truyền), ngoài ra còn do những sự khác biệt khác về thời gian, về nội dung và hình thức của những sáng tác này.
Ca dao hiện đại được hiểu là những câu, những bài mang hình thức tương tự ca dao truyền thống trên cơ sở mô phỏng theo. Tuy nhiên, phần lớn những câu, bài này được xác định chính xác về tác giả, thời gian, nguồn sốc, xuất Xứ,. Khái niệm ca dao hiện đại được chúng tôi sử dụng trong đề tài này sẽ được xác lập phạm vi giới hạn là những câu, những bài được sáng tác từ năm 1945 đến nay. Ca dao hiện đại hay còn gọi là ca dao mới do đó sẽ được nhận dạng ở một số đặc điểm sau: - Có những câu, những bài được ứng khẩu sáng tác và truyền miệng trong các phong trào quần chúng.
- Những câu, những bài do các nhà văn, nha thơ chuyên nghiệp in di in lại trong sách báo, một số đã đọng lại trong trí nhớ của quần chúng và truyền đi rộng 10 Nguyễn Thị Thu Hiền Ca dao Việt Nam từ 1945 đến nay dưới góc độ dự luận xã hội rãi, ít ai biết tên tác giả. Bởi vậy, có một số câu, một số bài ghi được tên người sáng tác, nhưng nhiều câu, nhiều bài khác thì không. Nhiều câu, nhiều bài ca dao vốn có tên người sáng tác được quần chúng hóa và lưu truyền rộng rãi từ đời này sang đời khác, biến thành của báu chung, hòa vào kho tàng ca dao truyền thống của dân tộc. Tác giả Hoài Thanh trong cuốn Nói chuyện thơ kháng chiến đã tông kết việc sáng tác ca dao hiện dai theo 2 cách thức phổ biến là phóng tác theo những câu hát cô và chế biến lại những câu ca dao cô.
Với 2 cách thức này, chúng ta dé dàng nhận biết được đó là những câu ca dao mới nhờ hình thức và nội dung phỏng theo những câu ca dao cổ truyền quen thuộc. Từ đây, chúng tôi đưa ra một số cơ sở dé xác định ca dao hiện đại: - _ Về hình thức biểu hiện + Được xác định là sáng tác từ 1945 đến nay + Có nhiều bài có tên tác giả, bút đanh + Mang những đặc điểm của ca dao truyền thống như lưu truyền, tập thể, dị bản, khuyết danh + Được viết dưới thé thơ phô biến trong ca đao truyền thống: lục bát; song thất lục bát,.