Chương 1: Cdi tôi phức cảm và chiéu sâu tâm thức hiện đại Chương 2: Những biểu tượng nghệ thuật đặc sắc trong thơ Nguyễn Quang Thiêu Chương 3: Ngôn ngữ thơ Nguyễn Quang T'hiểu. Cuối cùng là tài liệu tham khảo với 136 mục từ. Tw duy thơ Nguyễn Quang Thiéu qua các tập thơ từ 1990 đến 2000 7 Luận văn thạc sĩ Lê Thị Bích Hợp PHAN NOI DUNG Chuong 1 CAI TOI PHUC CAM VA CHIEU SAU TAM THUC HIEN DAI. Nguyễn Quang Thiều - người chủ động đổi mới tư duy thơ Nguyễn Quang Thiéu sinh ngày 3 tháng 2 năm 1957 tại làng Chùa ven bờ sông Đáy, thuộc địa phận tỉnh Hà Tây, nay là Hà Nội.
Ngôi làng âm u chứa day những câu chuyện thần tiên, ma quỷ. biểu hiện một đời sống tinh thần phong phú, bí ân và mơ hồ đã ám ảnh tâm trí “cậu bé làng Chùa”. Dòng sông Đáy hiền hoà và thơ mộng là nguồn nuôi dưỡng cảm hứng sáng tác, là điểm tựa tinh thần dé thi sĩ tìm về sau bao buon trai gian nan. Nguyễn Quang Thiéu đã xuất bản 6 tập thơ, 5 tập tiểu thuyết và truyện ngắn, gần 10 cuốn sách dịch và sách viết cho thiếu nhi.
6 tập thơ của Nguyễn Quang Thiéu gồm: “Ngôi nhà mười bảy tudi” 2 (1990); “Sự mắt ngủ của lửa” Assy (1992); “Những người lính của làng” (1994 - viết trước năm 1990); “Những người đàn bà gánh nước sông” (1995); “Nhịp điệu châu thổ mới” (1997); “Bai ca những con chim đêm ” (1999). Ngoài ra, tập thơ “Cái cay ánh sảng” sẽ ra mắt bạn đọc vào cuối năm 2008. Ngoài giải thưởng Hội Nhà văn năm 1993, Nguyễn Quang Thiều còn giành được nhiều giải thưởng văn học trong nước ở nhiều thể loại: tiểu thuyết, thơ, truyện ngắn, sách thiếu nhi, kịch bản phim. Truyện ngắn Nguyễn Quang Thiều cũng được dịch ra nhiều thứ tiếng.
Đặc biệt “Bay chim chia vôi” được chọn làm một chuyên đề để giới thiệu trong một trường đại học ở Nhật. Năm 1997, Nguyễn Quang Thiéu được các nhà xuất bản ở Mỹ chon dịch cả thơ và văn. Tập tho “Sw mát ngủ của lửa” và “Những người đàn bà gánh nước sông” được dịch công phu và đăng tải trên hầu hết các tạp chí, báo văn học (khoảng 20 tờ) có uy tín trên toàn nước Mỹ, Tw duy thơ Nguyễn Quang Thiéu qua các tập thơ từ 1990 đến 2000 8 Luận văn thạc sĩ Lê Thị Bích Hợp sau đó được in trong bản song ngữ “The women carry water” (Những người dan bà gánh nước sông) tại nhà xuất bản báo chi Masschusetts and Amherst Hoa Kỳ. Nguyễn Quang Thiéu còn được biết đến với tu cách là một nhà báo, một họa sĩ không chuyên.
Thành công ở nhiều lĩnh vực, nhưng thơ ca vẫn là niềm đam mê nhất của anh. Cũng chính ở lĩnh vực thơ, Nguyễn Quang Thiều đã trở thành tâm điểm của một cuộc tranh luận kéo dài. Nguyễn Quang Thiều bắt đầu làm thơ từ đầu thập niên 80 và sớm thành công. Năm 1983 - 1984, anh đạt giải ba cuộc thi tho của tạp chí Văn nghệ quân đội, năm 1989 đạt giải thưởng thơ hay.
Tập thơ “Ngôi nhà mười bảy tuổi” xuất bản năm 1990, và sau đó một năm được bình chọn là tác phẩm hay nhất của năm. “Ngôi nhà mười bảy tuổi” có nhiều câu thơ đẹp mang đến thế giới trong sáng, tinh khiết của ký ức, là niềm thương nhớ đồng quê: Tôi như con sáo mo ga Bay về triển đất bãi Tôi của triển sông hai mươi tám tuổi Những dấu chân trên phù sa rong ruồi Của hoa ngô cuối vụ khô giòn Của hoa cải rung rung lòng không cam được Của bồn chôn mùa tu hú kêu mau. Tôi của triển sông những năm tháng di xa Cỏ mật thơm một tâm tình bối rối. Những người lính may khi về đúng hẹn Dé con sông thao thức đôi bờ Tôi một hạt của phù sa muôn thủa Dat bãi gọi về cho đất bãi ngàn xưa.
(Trở về bờ bãi) Tw duy thơ Nguyễn Quang Thiéu qua các tập thơ từ 1990 đến 2000 9 Luận văn thạc sĩ Lê Thị Bích Hợp Nếu tiếp tục đi theo con đường “Ngôi nhà mười bảy tuổi” có lẽ Nguyễn Quang Thiéu sẽ có một vi trí yên ôn trên thi đàn. Nhưng anh đã dũng cảm bước “lạc nhịp” ra khỏi “dàn đồng ca”, mạo hiểm tìm một lối đi mới. Khi “Ngôi nhà mười bảy tuổi ” lọt vào vòng cuỗi cùng với 4 tác phẩm tho ứng cử giải thưởng của Hội Nhà văn năm 1991, Nguyễn Quang Thiéu đã nhận ra, đó chưa phải là hướng đi của anh: “Tôi không muốn tập thơ đó được giải vì tôi biết những gi đích thực của tôi đang xuất hiện”. “Sự mắt ngủ cua lửa” ra đời năm 1992 được giải thưởng Hội Nhà văn năm 1993 - là một dấu mốc quan trọng trong sự nghiệp thơ ca Nguyễn Quang Thiéu, đánh dấu bước ngoặt đôi mới trong tư duy thơ.
Sóng gió đã nôi lên trên diễn đàn ngày từ khi tập thơ được trao giải, được công nhận là một hướng đi mới. “Sw mắt ngủ của lửa” đã gây “sốc” cho nhiều người. Người nhạy cảm với cái mới đã nhìn thấy triển vọng của một hướng tìm tòi mới, Phạm Xuân Nguyên nhận ra một “chất giọng lạ của thơ Thiều”, “như một khúc nhạc đồng quê”. Bên cạnh đó là những ý kiến phản bác quyết liệt, thậm chí phủ định sạch trơn.
Trần Mạnh Hảo xem đó là thứ thơ “phản thơ”, thơ “dịch xôi”, Tran Đăng Khoa thì gọi là “giọng điệu lơ lớ Tây”. Các bài viết về “Sự mát ngủ của lửa” chưa có ý kiến nào lý giải triệt đề. Có thé nói, đến nay, "Sự mát ngủ của lửa" van cần được “giải mã” để có sự kiến giải thuyết phục hơn. Tuy rang, cuộc tranh luận về Nguyễn Quang Thiều còn ngén ngang những khen chê, song nó cũng làm cho người cầm bút ý thức được rằng họ không thé viết như cũ được nữa.
Một số nhà thơ trẻ đã công nhận rằng ngọn lửa sáng tạo mà Nguyễn Quang Thiều châm lên đã kích thích họ tìm tòi, đổi mới. Nguyễn Quyến, một trong số nhà thơ trẻ thừa nhận rằng, Nguyễn Quang Thiéu đã có ảnh hưởng nhất định đối với một số sáng tác của anh. Tập “Mura ban mai” xuất hiện vào năm 1993, người đọc đã không khỏi sửng sốt trước khả năng tung phá ngôn từ và những triết lý sâu sắc của một nhà thơ còn rất trẻ. Con nhà thơ trẻ Vi Thuy Linh thì tâm sự một cách rất thành thật: “ Khi tôi Tw duy thơ Nguyễn Quang Thiéu qua các tập thơ từ 1990 đến 2000 10 Luận văn thạc sĩ Lê Thị Bích Hợp bắt đầu đến với thơ, Nguyễn Quang Thiéu đã gây cho tôi một ấn tượng đặc biệt.
Đó là nhà văn có tâm hồn mơ mộng, nhân hậu va dep dé. Tôi cũng muốn giữ gìn tâm hồn mình như vậy”. "Sự mat ngủ của lửa" đã đưa ra một quan niệm mới về thơ. Nguyễn Quang Thiều đã thoát khỏi lối mòn đơn điệu, lối viết khuôn sáo để có một cách nhìn mới về hiện thực.
Anh vừa vượt qua khỏi cái cũ, vừa nỗ lực tìm kiếm những giá trị mới. "Sw mát ngủ của lửa" là một bước chuyền đổi về thi pháp, tư duy, cảm xúc thơ Nguyễn Quang Thiéu. Thế giới trong "Sw mát ngủ của lửa" không còn là những cảm xúc dịu, nhẹ, những câu thơ ngăn gọn, những hình ảnh trong sáng của “mét thoáng hè thị xã/ chọt nghiêng mình sang thu; / con về thăm ngoại ngoại ơi/ Làng xưa chiéu nắng trong mua.” mà thay vào đó một thế giới rộng lớn, bụi bam, hỗn tạp và trần trụi hon, là “Tiếng chó khuya sia chớp phía chân trời; như dao sắc phất vào tôi tứa máu/ Tôi nắc lên câu hỏi như người sặc khói.” Thẻ thơ lục bát biến mat hoàn toàn, thay vào đó là những câu thơ tự do, thơ văn xuôi trúc trắc hơn với tất cả hình trạng của đời sống: tiếng chó sủa chớp, chùm chân dán, đàn kiến, nọc độc rắn, mùi cá khô, chuồng gà, cô gái buôn, những người đàn ba goa bụa,. ám ảnh và gai gon hơn.
Khi Pham Xuân Nguyên gọi “thơ Thiéu là tiếng hú gào” thì ngay lập tức người ta liên tưởng đến tác phẩm Howl (Hú) của Ginsberg - chủ soái trường phái nỗi loan Beat. Và nhiều người cho rằng, Nguyễn Quang Thiéu ảnh hưởng trường phái thơ Beat của Mỹ. Nguyễn Quang Thiéu dịch khá nhiều thơ hiện đại Mỹ, song nguồn anh hưởng thực sự đến nhãn quan đổi mới thơ của anh là: bản dịch nghĩa của thơ Đường, thơ J.Brodsky và chủ nghĩa hiện thực huyền ảo phương Tây. Ở đây, chúng tôi muốn nhấn mạnh đến J.
Nha thơ Nga được giải Nobel văn chương năm 1987. Ông là người có ảnh hưởng rộng rãi đến các nhà thơ trên thé giới.Brodsky từng phát biểu ông luôn cảm thấy tuyệt Tw duy thơ Nguyễn Quang Thiéu qua các tập thơ từ 1990 đến 2000 I Luận văn thạc sĩ Lê Thị Bích Hợp vọng như sống trong địa ngục khi không sáng tác. Vì vậy, dé lap đầy khoảng trong tinh than mà hình ảnh đời sống luôn chảy vào thơ ông ào ạt, mãnh liệt, lớp lớp chồng lên nhau. Nguyễn Quang Thiều luôn coi nhà thơ Nga vĩ đại này là người thầy tinh than của mình.
Ở Việt Nam, Nguyễn Quang Thiéu là người chịu ảnh hưởng J.Brodsky sâu đậm nhất. Dịch giả Hoang Ngọc Biên đã dịch thơ Josheph Brodsky “Tinh vat va những bài thơ khác” xuất bản tại Huế năm 1991. Ông tâm sự rằng, mỗi khi dich thơ J.Brodsky ông lại nghĩ đến thơ Nguyễn Quang Thiéu. Từ “Ngồi nhà mười bay tuổi” đến “Bài ca những con chim đêm” là một hành trình sáng tác đánh dấu sự chuyên biến rõ rệt trong tư duy thơ Nguyễn Quang Thiéu.
Hành trình thơ Nguyễn Quang Thiéu phan nào khắc hoa những chuyền biến trong đời sống thi ca thời kỳ đổi mới. Khái niệm cái tôi trữ tình trong thơ. Theo PGS-TS Nguyễn Bá Thành: “Đặc điểm quan trọng nhất của tư duy thơ là sự thê hiện của cái tôi trữ tình, cái tôi cảm xúc, cái tôi đang tư duy. Cái tôi trữ tình trong thơ được biểu hiện dưới hai dạng chủ yếu, cái tôi trữ tình trực tiếp và cái tôi trữ tình gián tiếp” [107, 56].
Như vậy, tìm hiểu tư duy thơ trước hết là tìm hiểu sự vận động của cái tôi trữ tình trong thơ, thiết nghĩ để làm được điều này, ta cần phân biệt được sự khác nhau giữa cái tôi và cái tôi trữ tình. Cái tôi thực chất là một khái niệm triết học. Các nhà triết học duy tâm, từ R.Pho-rot là những người đầu tiên chú ý đến cái tôi khi đề cao ý thức, lý tính trong mối quan hệ vật chất - ý thức, chủ quan - khách quan, cá nhân - xã hội.Đê-cac (1596-1650) đã đưa ra một định nghĩa nổi tiếng “Tôi tư duy vậy là tôi tồn tại”.