Chương 1: Từ lí thuyết về không gian đến sự dịch chuyên không gian trong tiểu thuyết Linh Son của Cao Hành Kiện Chương 2: Sự dịch chuyền của tâm và thân giữa không gian hư và thực Chương 3. Nghệ thuật xây dựng và tô chức không - thời gian trong tiêu thuyết Linh Sơn 16 NOI DUNG CHUONG 1. TU Li THUYET DICH CHUYEN KHONG GIAN DEN DICH CHUYEN KHONG GIAN TRONG TIEU THUYET LINH SON CUA CAO HANH KIEN 1. Không gian và sự dịch chuyển không gian nghệ thuật Đối với mỗi thể loại tiểu thuyết đều có những cách thức tổ chức không gian mang tinh đặc trưng.
Đó có thé là không gian lâu dai, nhà thờ với những hồn ma bóng quế trong tiểu thuyết Gothic; là không gian khép kín huyền ảo trong văn chương Mi La tinh, cũng có thé là không gian với vô số những ký hiệu, biểu tượng trong tiểu thuyết trinh thám. Đối với mỗi loại tổ chức không gian riêng biệt thì phương thức mà nhân vật dịch chuyển cũng như hiệu ứng chuyển cảnh mà nhà văn tạo nên đều mang những dụng ý nghệ thuật nhất định. Khai niệm “không gian nghệ thuật” Không - thời gian là một trong những khái niệm của vat lí học hiện dai nhằm chỉ mối quan hệ gắn bó chặt chẽ không thê tách rời của thời gian với không gian dựa trên nguyên tắc tính tương đối do Einstein chứng minh. Thực ra khái niệm không - thời gian nghệ thuật được Bakhtin đặt ra nhằm hướng đến “mối liên quan cơ bản giữa thời gian và không gian được thê hiện một cách nghệ thuật trong văn học là chronotope (thời - không gian) trên tinh thần đó Bakhtin hướng sự tập trung chú ý tìm hiểu “chronotope” vào thê loại tiểu thuyết và xem đó là một sự thê hiện đầy đủ và có tầm bao quát rộng lớn hơn cả.
Lotman cũng nhắn mạnh rằng, một trong những yếu tố quan trong cấu thành nên thế giới tác phẩm chính là không gian nghệ thuật: “việc chú ý đến van đề không gian nghệ thuật là hệ quả của những quan niệm coi tác pham như một không gian hình ảnh được khu biệt, phản ánh cái hữu hạn của mình 17 về một thé giới vô hạn là không gian bên ngoài tác phẩm”[25, 24]. Theo đó, môi quan hệ giữa không gian hiện thực và không gian ý niệm của tác giả được hiểu là những nội dung quan trọng không thể thiếu trong việc phản ánh thế giới vô han mà con người ton tại trong đó. Không gian nghệ thuật là hình ảnh chủ quan của thế giới khách quan, tuy nhiên không gian trong văn học mang tính thông tin thâm mĩ, nó không chỉ tả dòng sông, thác núi, chim muông, cây cỏ. thuần túy ma mang những dụng ý nghệ thuật cũng như chứa đựng những xúc cảm thầm mĩ nhất định.
Do có thé là thủ pháp cường điệu, thi vị hoa hay hiện thực đến đáy. Ngoài ra, không gian nghệ thuật còn chứa đựng những nội dung tư tưởng và mang tính quan niệm. Nghiên cứu tác phẩm văn học dưới góc độ thi pháp hay cấu trúc đều có điểm chung là “thừa nhận không gian nghệ thuật chính là mô hình thế giới độc lập mang tính chủ quan va mang nghĩa tượng trưng” [3, 10].Lotman dưới góc độ của chủ nghĩa cấu trúc đã hệ thống vả gọi tên các mô hình không gian nghệ thuật dưới dạng: không gian điểm, không gian tuyến tính, không gian mặt phang (không gian khối). Từ những quan niệm tiêu biểu trên, có thể nói không gian nghệ thuật nói chung, không gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học nói riêng là sự mô hình hóa thế giới khách quan, mô hình hóa thế giới tâm thức của con người dưới dạng ngôn ngữ được xây dựng một cách có chủ đích, kỹ thuật.
Không gian một mặt thuộc về cau trúc nội tại của tác phẩm, tạo nên một bức tranh đời sống sinh động, phong phú; mặt khác nó cho ta thấy sự tri giác, cảm xúc chủ quan và quan niệm riêng của người sáng tạo. Không gian nghệ thuật đóng vai trò quan trọng như thế nào trong một tác phẩm văn học tùy thuộc vào cách chọn lựa khai thác và xử lí văn bản của nhà văn. Có những tác phẩm chú trọng về thời gian, có những tác phẩm chú trọng về không gian hoặc chú trọng việc kế chuyện, phân tích nội tâm. Nhưng dù thế nào, không 18 gian là yếu tố không kém phần quan trọng trong việc lí giải quan niệm thâm mĩ tư tưởng của nhà văn.
Đối với mỗi tác phẩm cụ thể, việc xây dựng không gian nghệ thuật có những mức độ đậm nhạt khác nhau, luôn phải xem xét không gian nghệ thuật trong mối quan hệ không tách rời với thời gian nghệ thuật trong tác phẩm ấy. Vấn đề “dịch chuyên không gian trong văn học” là vấn đề không mới, đặc biệt là trong ngành nghiên cứu văn học dân gian. Nhân vật chức năng được bao phủ bởi một lớp không gian mang màu sắc kỳ ảo, do không gian bị cản trở về mặt hiện thực theo trục ngang nên người sáng tạo thần thoại, cô tích thần kỳ. đã mở rộng theo chiều dọc với kiểu không gian trên cao (thượng giới), trên mặt đất (nhân gian) và âm giới (địa ngục).
Tư duy nhân loại có lí do của riêng mình, việc mở rộng không gian theo chiều nào đều gắn với sự dịch chuyền của nhân vật theo chiều ấy, không gian không thé mở rộng nếu nhân vật cứ ở một chỗ, chính sự dịch chuyền này mang lại điều thần kỳ và thú vị trong truyện cô. Chang hạn như truyện cô tích “Cây khế”, tác giả dan gian không dé cho con chim dai bàng ăn quả khế rồi mang vàng thả xuống sân nhà của người em trai ma lại trả lời “ăn một quả khế, trả một cục vàng, may túi ba gang đem ra mà đựng” như vậy dịch chuyên không gian gắn liền với thử thách, sự thử thách về thân dé vượt núi cao biển sâu bị xem là thứ yếu mà sự thử thách về đạo đức, phâm chất mới đáng được xem trọng. Có thé nói, van đề dịch chuyên không gian có ý nghĩa quan trọng trong kho tàng văn học dân gian của nhân loại. Sự chú ý đến dạng dịch chuyển không gian như vậy được trường phái địa lí — lịch sử hay còn gọi là trường phái Phần Lan và trường phái hình thức Nga hệ thống hóa và khái quát tương đối chi tiết và mang tính phân loại cần được nhìn nhận và tiếp thu một cách tích cực.
Trường phái địa lí - lịch sw và trường phái Hình thức Nga voi van đề “sự dịch chuyển không gian” Trong nền văn học nhân loại, bộ phận văn học dân gian chiếm vị trí quan trọng, nó không chi phản ánh một trang thái cô xưa mang tính chat hồng hoang, nguyên sơ và mĩ lệ trong tư duy và ứng xử của con người với tự nhiên và xã hội mà còn là “nguồn sữa trong mát, ngọt lành nuôi dưỡng cho văn học viết phát triển” (M. Sự tôn trọng đối với trầm tích văn hóa cổ xưa với vẻ đẹp thuở “bình minh” của nhân loại đã thôi thúc chúng ta phải có trách nhiệm bảo tổn và gìn giữ nét văn hóa độc đáo ấy. Những năm cuối thế kỷ XIX, khoa học nghiên cứu văn học dân gian bắt đầu hình thành và phát triển với sự ra đời của thuật ngữ folklore (1846). Ké từ đó trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu nổi tiếng về folklore nói chung và văn học dân gian nói riêng với sự xuất hiện của nhiều nhà lí luận nỗi tiếng như Zirmunxki, Meletinxki, Propp, Xakhanov.
Đặc biệt trong lĩnh vực nghiên cứu truyện cổ tích phải ké đến tên tuổi của những tác giả như V.Propp va Anti Aarne, Stith Thompson. Họ là đại diện cho hai trường phái nghiên cứu truyện cô tích, đó là trường phái hình thái học (lý thuyết chức năng của nhân vật hành động) và trường phái địa lý — lịch sử Phần Lan. Trường phải hình thức Nga Nga là một trong những quốc gia có lịch sử nghiên cứu folklore sớm với những nhà nghiên cứu văn hóa dân gian nổi tiếng. Trường phái hình thức Nga là khuynh hướng nỗi bật nhất trong giới nghiên cứu ngữ văn Nga những năm 1910 — 1920.
Trường phái nay ra đời như một sự phản ứng đối với cách tiếp cận cảm tính thiên về triết học, văn hoá, xã hội học lịch sử trong khoa nghiên cứu văn học cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX. Với vấn đề “dịch chuyên không gian trong văn học” đặc biệt phải nhắc đến V. Propp — người được đánh giá là nhà folklore vĩ đại nhất của thê kỷ XX. 20 Trong công trình “Hình thái truyện cô tích xuất hiện lần đầu vào năm 1928, Propp sử dụng phương pháp nghiên cứu dựa vào văn bản dé khảo sát và phân tích tác phâm, ông cho răng truyện cô tích được xây dựng dựa trên những yếu to bat biến gắn với hành động chức năng của nhân vật và những yếu to khả biến gắn với phương pháp hay cách thức mà nhân vật thực hiện nhiệm vụ của mình.
Tác phẩm trên của Propp có ý nghĩa bước ngoặt và có tầm quan trọng lớn đối với nghành nghiên cứu folklore thé giới, không chỉ thé nó còn ảnh hưởng đến nhiều nghành khoa học nhân văn khác như Nhân học, Dân tộc học,. Trong công trình này, lần đầu tiên trong lịch sử folklore học, V.Propp đã tiến hành nghiên cứu truyện cổ tích từ góc độ cấu trúc loại hình, trong quá trình khảo sát truyện cô tích, nha nghiên cứu phát hiện ra rằng bên cạnh các đại lượng có thể thay thé như các nhân vật với các hành động cụ thể, các thuộc tính khác nhau (tuổi tác, giới tính, hình thức bên ngoài .), còn tồn tại những đại lượng bat biến, không thể thay thé, ching lặp đi lặp lại qua các truyện thuộc cùng loại hình cô tích. Theo Propp những đại lượng bat biến và có tính chất lặp lại ấy không phải là motif (theo quan điểm của A.Veselovsky) ma chỉ là các chức năng và những vai tro hành động. Propp xác định được tông số có 3!