Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn "Truyện ngắn và tiểu thuyết Nguyễn Ngọc Tư trong văn mạch Nam Bộ" của nghiên cứu sinh Trần Thị Vân Dung được thực hiện dưới sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Nguyễn Thị Minh Thương, bảo vệ tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội (tháng 01 năm 2024), thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam.

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Văn học Nam Bộ là một bộ phận hợp thành của văn học dân tộc, trải qua hơn ba trăm năm lịch sử với những đặc điểm riêng biệt về thổ nhưỡng, lịch sử, văn hóa và ngôn ngữ. Trong tiến trình đó, tồn tại một dòng mạch kết đọng được bồi lắng bởi các thế hệ nhà văn gốc Nam Bộ, sinh trưởng tại Nam Bộ, sống và viết về đất và người Nam Bộ – được luận án định danh là "văn mạch Nam Bộ".

Nguyễn Ngọc Tư là tác giả tiêu biểu sinh ra và lớn lên tại Nam Bộ, kế thừa di sản văn mạch của vùng đất này, đồng thời tạo lập lối đi riêng qua hơn hai thập kỷ sáng tác, đặc biệt ở hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết. Điểm qua lịch sử nghiên cứu, tác giả luận án nhận thấy giới nghiên cứu đã có nhiều công trình riêng lẻ về văn học Nam Bộ cũng như về tác giả Nguyễn Ngọc Tư. Tuy nhiên, chưa có công trình nào khảo cứu một cách chuyên sâu, đặt toàn bộ truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Tư vào dòng chảy "văn mạch Nam Bộ" theo trục lịch đại và không gian địa – văn hóa. Do đó, việc nghiên cứu vị trí của Nguyễn Ngọc Tư trong văn mạch Nam Bộ nhằm giải quyết khoảng trống học thuật này.

Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu

Mục đích nghiên cứu của luận án là trên cơ sở nhận diện, phân tích đặc điểm của văn mạch Nam Bộ trong dòng chảy lịch sử, làm rõ sự kế thừa và đổi mới về nội dung cùng nghệ thuật trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Tư, từ đó xác định vị trí văn học sử của tác giả trong dòng mạch này.

Luận án xác định 4 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Hệ thống hóa tư liệu về văn mạch Nam Bộ với những đặc trưng và tiêu chí nhận diện riêng; tổng quan sự nghiệp sáng tác cùng những đóng góp của Nguyễn Ngọc Tư ở hai thể loại truyện ngắn và tiểu thuyết.
  2. So sánh, đối chiếu Nguyễn Ngọc Tư với các nhà văn tiêu biểu trong văn mạch Nam Bộ qua các thời kỳ nhằm chỉ ra sự kế thừa và đổi mới về quan niệm nghệ thuật.
  3. Phân tích, khảo sát và đánh giá sự tiếp nối cùng sự phát triển của hệ thống đề tài, chủ đề và hình tượng nhân vật trung tâm trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Tư so với các nhà văn đi trước.
  4. Khảo cứu sự tiếp nối và biến đổi trong kết cấu, nghệ thuật xây dựng nhân vật, ngôn ngữ và giọng điệu trần thuật của truyện ngắn và tiểu thuyết Nguyễn Ngọc Tư khi đặt trong văn mạch Nam Bộ.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Tư trong sự kế thừa và phát triển văn mạch Nam Bộ.
  • Phạm vi tư liệu khảo sát:
    • Các tập truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư xuất bản từ năm 2000 đến năm 2020 (từ Ngọn đèn không tắt đến Cố định một đám mây).
    • Hai tiểu thuyết đã xuất bản của Nguyễn Ngọc Tư: Sông (2012) và Biên sử nước (2020).
    • Tác phẩm của các tác gia tiêu biểu thuộc văn mạch Nam Bộ qua các thời kỳ lịch sử dùng làm đối tượng so sánh: Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Trang Thế Hy.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Các hướng nghiên cứu trước đây

Luận án tiến hành tổng quan lịch sử nghiên cứu trên hai mảng tư liệu lớn: nghiên cứu về văn học Nam Bộ và nghiên cứu về tác gia Nguyễn Ngọc Tư.

Nhóm hướng nghiên cứu Các tác giả, công trình tiêu biểu được điểm luận Nội dung chính đã ghi nhận
Nghiên cứu văn học dân gian Nam Bộ Trần Ngọc Thêm (2016), Huỳnh Văn Tới (2016), Đoàn Thị Thu Vân (2016), Lê Thị Diệu Hà (2016), Nguyễn Thị Tâm Anh (2016). Nhận diện sắc thái văn hóa Đông Nam Bộ và Tây Nam Bộ, sự hỗn dung văn hóa qua ca dao, truyền thuyết nhân vật lịch sử và mô típ chằn trong văn hóa Khmer.
Nghiên cứu văn học viết Nam Bộ qua các thời kỳ Phong Lê (2016), Cao Tự Thanh (2016), Nguyễn Văn Kha (2016), Bảo Định Giang (1988), Cao Thị Hảo (2016), Trần Văn Trọng (2016), Nguyễn Văn Triều (2016), Lưu Hồng Sơn (2016), Lê Dục Tú (2016), Nguyễn Q. Thắng (2007), Huỳnh Như Phương (2016), Võ Văn Nhơn (2021), Trần Thanh Bình (2016), Nguyễn Thị Thu Trang (2015), Bùi Thanh Truyền (2018), Hà Thanh Vân (2016), Hà Minh Châu (2016), Nguyễn Bá Long và Phạm Phi Na (2016). Khảo sát tiến trình hiện đại hóa văn xuôi Quốc ngữ cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX; khuynh hướng yêu nước, phong trào thơ Minh Tân; văn học đô thị miền Nam 1954-1975; văn học Đông Nam Bộ và Đồng bằng sông Cửu Long sau 1975 dưới góc nhìn thi pháp học và phê bình sinh thái.
Nghiên cứu các tác gia tiêu biểu của dòng mạch Nam Bộ Phạm Văn Đồng (1963), Nguyễn Khánh Toàn, Trần Ngọc Vương (về Nguyễn Đình Chiểu); Nguyễn Khuê, Trần Văn Toàn (về Hồ Biểu Chánh); Viễn Phương (1988), Trần Cao Lĩnh (2007), Nguyễn Vy Khanh (2007), Võ Phiến (2007), Thụy Khuê (2007), Nguyễn Quang Thắng (2002) (về Bình Nguyên Lộc); Hồ Sĩ Hiệp (1986), Văn Giá (2008), Lê Thị Nghĩa (2009), Phan Thị Diễm (2011) (về Sơn Nam); Lê Văn Nghĩa, Hà Đình Nguyên, Nguyễn Trọng Bình (về Trang Thế Hy). Đánh giá tư tưởng đạo lý, lòng yêu nước của Nguyễn Đình Chiểu; tính chất An Nam và phong tục trong tiểu thuyết Hồ Biểu Chánh; cảm hứng nguồn cội, đất đai của Bình Nguyên Lộc; tri thức khảo cứu của Sơn Nam; khí chất nhân văn của Trang Thế Hy.
Nghiên cứu dấu ấn Nam Bộ trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Thị Phương (2012), Nguyễn Thị Hồng Thắm (2013), Dạ Ngân, Trần Hữu Dũng, Huỳnh Công Tín, Nguyễn Trọng Bình (2009), Bùi Văn Khôi (2019), Phạm Thị Thu Thủy, Phạm Xuân Nguyên, Trần Thị Thu (2016), Huỳnh Trọng Khang, Nguyễn Thị Tuyết và Nguyễn Lâm Hồng Thắm (2022). Khai thác không gian sông nước, phương ngữ Nam Bộ, sinh hoạt đời thường của người nông dân vùng đất Mũi Cà Mau trong truyện ngắn và hai tiểu thuyết Sông, Biên sử nước.
Nghiên cứu tính kế thừa và cách tân của Nguyễn Ngọc Tư Nguyễn Trọng Bình, Trần Hoàng Thiên Kim, Phạm Thái Lê, Trần Phượng Diêu, Lê Hồng Tuyến, Dương Thị Kim Thoa, Nguyễn Thị Kiều Oanh, Đoàn Thị Hà Nhi (2022), Lam Điền. Phân tích quan niệm nghệ thuật về con người cô đơn, thế giới nhân vật người nghệ sĩ, kết cấu tảng băng trôi và tiếp cận tiểu thuyết dưới góc nhìn phê bình sinh thái.

Khoảng trống luận án giải quyết

Các công trình đi trước phần lớn tiếp cận Nguyễn Ngọc Tư như một hiện tượng văn học đương đại độc lập, hoặc chỉ dừng lại ở việc miêu tả "chất Nam Bộ" về mặt ngôn ngữ và phong cảnh địa phương. Chưa có công trình nào đối sánh có hệ thống toàn bộ truyện ngắn và tiểu thuyết của tác giả với các thế hệ nhà văn tiền bối (Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Trang Thế Hy) để xác lập tính liên tục và những bước chuyển của quan niệm nghệ thuật, đề tài, thể loại và ngôn ngữ trần thuật trong một dòng mạch xuyên suốt.


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Cơ sở lý thuyết và các khái niệm cốt lõi

  1. Khái niệm "Văn mạch Nam Bộ": Luận án đề xuất định nghĩa: "Văn mạch là sự kế thừa và tiếp biến về quan niệm, nội dung và hình thức nghệ thuật của các tác gia văn học tiêu biểu qua các thời kỳ lịch sử tại một vùng miền hoặc một quốc gia, dân tộc". Văn mạch Nam Bộ là bộ phận cốt lõi thuộc văn học Nam Bộ, được duy trì bởi các tác giả sinh ra và lớn lên tại Nam Bộ, gắn bó trọn vẹn sự nghiệp sáng tác với hiện thực và con người phương Nam.
Tiêu chí Văn học Nam Bộ Văn học miền Nam (1954-1975) Văn mạch Nam Bộ
Phạm vi tác giả Gồm tất cả tác giả (Bắc, Trung, Nam) viết tại/về Nam Bộ. Tác giả sinh sống và sáng tác tại vùng kiểm soát phía Nam vĩ tuyến 17. Tác giả sinh trưởng tại Nam Bộ, gắn bó máu thịt với đời sống phương Nam.
Cơ sở phân chia Phân kỳ theo tiến trình lịch sử - xã hội chung của đất nước. Mang tính địa lý và bối cảnh chính trị - ý thức hệ thời chiến. Phân chia theo thế hệ tác gia mang quan niệm nghệ thuật tiếp nối và cách tân.
Tính chất Khái niệm dung chứa toàn diện, rộng lớn. Hiện tượng lịch sử cụ thể gắn với giai đoạn 1954-1975. Dòng mạch nghệ thuật cốt lõi, lâu bền mang căn cước văn hóa vùng miền.
  1. Khái niệm "Quan niệm nghệ thuật": Được sử dụng theo định nghĩa trong Từ điển thuật ngữ văn học (Lê Bá Hán, Trần Đình Sử, Nguyễn Khắc Phi): là "nguyên tắc cắt nghĩa thế giới và con người của nhà văn", chi phối việc xây dựng hình tượng, kết cấu và ngôn ngữ tác phẩm.
  2. Lý thuyết không gian địa – văn hóa: Khảo sát tác động của điều kiện tự nhiên sông nước, tính chất đa tộc người (Việt, Hoa, Chăm, Khmer), ẩm thực mùa vụ và các loại hình nghệ thuật diễn xướng (hát bội, cải lương, đờn ca tài tử) tới tâm thức sáng tạo của nhà văn.

Phương pháp nghiên cứu

Luận án sử dụng hướng tiếp cận nghiên cứu định tính với các phương pháp cụ thể:

  • Phương pháp lịch sử – xã hội: Đặt văn mạch Nam Bộ và sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư vào bối cảnh lịch sử xã hội Nam Bộ từ thế kỷ XIX đến giai đoạn sau năm 1986.
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Kết hợp nghiên cứu văn học với văn hóa học, địa lý văn hóa và phong tục học phương Nam.
  • Phương pháp tiếp cận thi pháp học: Phân tích hệ thống hình tượng, kết cấu văn bản, không gian – thời gian nghệ thuật, điểm nhìn và giọng điệu trần thuật.
  • Phương pháp phân tích – tổng hợp: Khảo sát các văn bản tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư để khái quát thành các luận điểm.
  • Phương pháp so sánh – đối chiếu: So sánh đồng đại (giữa các tác phẩm của Nguyễn Ngọc Tư) và lịch đại (đối chiếu sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư với Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Trang Thế Hy).

Nguồn tư liệu nghiên cứu

  • Văn bản khảo sát chính: Các tập truyện ngắn xuất bản từ năm 2000 đến 2020 và 2 tiểu thuyết (Sông, 2012; Biên sử nước, 2020) của Nguyễn Ngọc Tư.
  • Văn bản khảo sát đối sánh: Các tác phẩm tiêu biểu của Nguyễn Đình Chiểu (Truyện Lục Vân Tiên, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc); Hồ Biểu Chánh (Nặng gánh cang thường, Cha con nghĩa nặng, Ngọn cỏ gió đùa, Đoạn tình, Tân Phong nữ sĩ...); Bình Nguyên Lộc (Lương tâm kẻ trộm, Chiếc khăn kỷ niệm, Bám níu...); Sơn Nam (Hương rừng Cà Mau, Cá tính miền Nam); Trang Thế Hy (Nợ nước mắt, Vết thương thứ 13, Tiếng khóc và tiếng hát...).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương 1 thiết lập khung lý thuyết cho toàn bộ luận án thông qua việc xác định khái niệm văn mạch Nam Bộ, phân tích không gian địa – văn hóa, đội ngũ tác giả và phân kỳ 4 giai đoạn phát triển:

Giai đoạn văn mạch Tác gia điển phạm tiêu biểu Đặc điểm bối cảnh và hướng sáng tạo chủ đạo
Giai đoạn 1 (Nửa cuối TK XIX - đầu TK XX) Nguyễn Đình Chiểu (cùng Phan Văn Trị, Bùi Hữu Nghĩa, Nguyễn Thông...) Khởi đầu từ văn học Hán Nôm; mang cảm hứng yêu nước, tinh thần đạo lý, nhân nghĩa chống ngoại xâm.
Giai đoạn 2 (Đầu TK XX - 1945) Hồ Biểu Chánh (cùng Nguyễn Trọng Quản, Nguyễn Chánh Sắt, Trần Chánh Chiếu...) Bước chuyển sang văn xuôi Quốc ngữ; hiện đại hóa tiểu thuyết tâm lý, phong tục, dung hòa tính nghệ thuật và tính đại chúng.
Giai đoạn 3 (1945 - 1975) Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Trang Thế Hy (cùng Đoàn Giỏi, Nguyễn Quang Sáng...) Tái hiện hiện thực chiến tranh và đời sống Nam Bộ; cảm hứng nguồn cội, khảo cứu đất lề quê thói, khám phá góc khuất phận người.
Giai đoạn 4 (1975 đến nay, đặc biệt sau 1986) Nguyễn Ngọc Tư (cùng Lê Văn Thảo, Dạ Ngân, Trầm Nguyên Ý Anh...) Cảm thức hậu chiến và đời tư thế sự; đổi mới thi pháp trần thuật; soi chiếu thân phận con người thời hiện đại giữa biến thiên xã hội.

Chương này cũng tổng hợp chi tiết tiểu sử văn học của Nguyễn Ngọc Tư từ giải Nhất "Văn học tuổi 20" lần 2 (năm 2000 với tập Ngọn đèn không tắt), giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam (2006 với Cánh đồng bất tận), Giải thưởng Văn học ASEAN (2008), Giải thưởng Liberaturpreis (Đức, 2018) và việc được tạp chí Forbes Việt Nam bình chọn vào Top 50 phụ nữ có ảnh hưởng nhất Việt Nam năm 2019.

Chương 2: Quan niệm nghệ thuật của Nguyễn Ngọc Tư trong văn mạch Nam Bộ

Chương 2 phân tích sự vận động của ba phương diện quan niệm nghệ thuật qua 4 thế hệ tác giả:

  • Quan niệm về đạo lý:
    • Nguyễn Đình Chiểu: Đạo lý gắn với trung quân ái quốc và tinh thần vì dân ("Chở bao nhiêu đạo thuyền không khẳm / Đâm mấy thằng gian bút chẳng tà").
    • Hồ Biểu Chánh: Đạo lý "thức thời", chuyển trọng tâm sang luân lý gia đình và chuẩn mực ứng xử xã hội đời thường (Đoạn tình, Ngọn cỏ gió đùa).
    • Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Trang Thế Hy: Đạo lý gắn liền với ân tình đất đai quê hương, tình làng nghĩa xóm và sự hy sinh thầm lặng (Nợ nước mắt).
    • Nguyễn Ngọc Tư: "Quan niệm đạo lý mở rộng", nhìn nhận đạo lý như lòng trắc ẩn tự nhiên giữa những con người cùng cảnh ngộ ("Lá rách ít đùm lá rách nhiều"), không phân biệt giai tầng, xóa nhòa định kiến xã hội (Cái nhìn khắc khoải, Đau gì như thể, Dòng nhớ, Sông).
  • Quan niệm về hiện thực và con người:
    • Hồ Biểu Chánh bắt đầu khai phá con người cá nhân và ý thức nữ quyền sơ kỳ (Tân Phong nữ sĩ).
    • Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Trang Thế Hy gắn con người với không gian sinh thái nguyên sơ và trách nhiệm công dân.
    • Nguyễn Ngọc Tư phát triển cái nhìn hiện thực đa chiều: hiện thực không chỉ ở bề mặt đời sống mà nằm sâu trong tâm lý, chấn thương và sự cô đơn hiện sinh của những con người bé mọn trôi dạt.
  • Quan niệm về nghề văn và nhà văn:
    • Nguyễn Đình Chiểu xem văn chương là vũ khí chiến đấu vì chính nghĩa.
    • Các thế hệ kế tiếp xem người cầm bút là người lưu giữ ký ức văn hóa xứ sở.
    • Nguyễn Ngọc Tư xem nghiệp viết là sự giãi bày những khắc khoải nội tâm, tìm kiếm vẻ đẹp khuất lấp và khơi gợi sự thấu cảm nhân văn.

Chương 3: Nội dung truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Tư trong văn mạch Nam Bộ

Chương 3 triển khai khảo sát hai trục nội dung chính:

  • Hệ thống đề tài:
    • Sự tiếp nối các đề tài truyền thống: Đề tài chiến tranh được khúc xạ qua lăng kính hậu chiến và chấn thương tinh thần; đề tài thân phận con người đời thường (người làm thuê, người buôn bán nhỏ, người già, trẻ em cơ nhỡ); đề tài thiên nhiên sông nước mang tính biểu tượng sinh thái.
    • Sự khai phá các đề tài mới: Đề tài nữ quyền và ý thức tính dục (nhu cầu bản năng, khát vọng tự do thân thể của người phụ nữ); đề tài người đồng tính trong tiểu thuyết Sông (tiếp cận bằng cái nhìn bình đẳng, thấu cảm số phận).
  • Hình tượng con người Nam Bộ:
    • Con người trong mối quan hệ với thiên nhiên: Nương tựa vào sông nước, đất đai nhưng cũng đối diện với sự biến đổi sinh thái khắc nghiệt (sạt lở, mất đất, bão lũ, hạn mặn).
    • Con người trong mối quan hệ với giá trị văn hóa: Gắn bó với tập quán, đờn ca tài tử, nếp sống nghĩa tình giữa sức ép của đô thị hóa.
    • Con người trong mối quan hệ với những bi kịch: Bi kịch số phận lưu lạc, bi kịch tình cảm lỡ làng, nỗi cô đơn không thể chia sẻ nhưng vẫn giữ phẩm chất nhân hậu.

Chương 4: Nghệ thuật truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Tư trong văn mạch Nam Bộ

Chương 4 khảo sát các bình diện hình thức nghệ thuật mang tính kế thừa và cách tân:

  • Nghệ thuật kết cấu: Vận dụng linh hoạt kết cấu tuyến tính truyền thống; kết cấu vòng tròn (phản ánh sự lặp lại của số phận); kết cấu phức hợp đa tuyến; và đặc biệt là kết cấu lắp ghép, phân mảnh trong tiểu thuyết Sông, Biên sử nước và các tập truyện ngắn giai đoạn sau.
  • Nghệ thuật xây dựng nhân vật: Kết hợp miêu tả ngoại hình khắc khổ, lam lũ đặc trưng của người vùng sông nước với việc đào sâu miêu tả nội tâm qua độc thoại, dòng tâm tư chập chờn và phân tích tâm lý phức cảm.
  • Nghệ thuật trần thuật:
    • Ngôn ngữ trần thuật: Sử dụng lớp từ ngữ và ngữ điệu phương ngữ Nam Bộ tự nhiên, đưa lời ăn tiếng nói dân dã vào cấu trúc văn chương hiện đại mà không thô mộc.
    • Điểm nhìn trần thuật: Dịch chuyển linh hoạt giữa điểm nhìn bên ngoài và điểm nhìn bên trong, đa điểm nhìn trần thuật.
    • Giọng điệu trần thuật: Đa thanh với ba âm hưởng chủ đạo: giọng trữ tình buồn bã xót xa, giọng bông lơn hóm hỉnh mang phong vị Nam Bộ, và giọng triết luận điềm tĩnh sâu sắc.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án góp phần định danh và tường giải khái niệm "văn mạch Nam Bộ", chỉ rõ các tiêu chí nhận diện về không gian địa – văn hóa hình thành, đội ngũ tác giả bản địa và tiến trình vận động qua các thế hệ nhà văn tiêu biểu.
  2. Luận án khẳng định tính khả dụng của hướng nghiên cứu phong cách tác giả cá nhân trong mối quan hệ hữu cơ với phong cách vùng miền (địa – văn hóa), làm sáng tỏ mối liên hệ biện chứng giữa nhà văn và không gian văn hóa sinh thành.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Hệ thống hóa có phương pháp toàn bộ truyện ngắn và hai tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Tư trong chặng đường 20 năm sáng tác (2000–2020), đối chiếu với các tác gia tiêu biểu của văn mạch Nam Bộ qua các thời kỳ lịch sử.
  2. Làm rõ các giá trị tiếp nối và đổi mới của Nguyễn Ngọc Tư trên các bình diện: mở rộng quan niệm đạo lý, khai phá đề tài mới (nữ quyền, tính dục, người đồng tính), làm mới thi pháp kết cấu phân mảnh, tổ chức điểm nhìn đa chiều và giọng điệu trần thuật đa thanh.
  3. Xác lập và khẳng định vị trí văn học sử của Nguyễn Ngọc Tư như một "điển phạm mới" đại diện cho giai đoạn đương đại của văn mạch Nam Bộ.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Luận án tập trung khảo sát chuyên sâu vào hai thể loại nòng cốt là truyện ngắn (giai đoạn 2000-2020) và tiểu thuyết (Sông, Biên sử nước), chưa bao quát toàn bộ các sáng tác thuộc thể loại tản văn, tạp văn, ký và thơ của Nguyễn Ngọc Tư trong tương quan với văn mạch Nam Bộ.
  • Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng khảo sát toàn bộ di sản sáng tác đa thể loại của tác giả; nghiên cứu so sánh đối chiếu Nguyễn Ngọc Tư với các cây bút đương đại cùng thế hệ ở Nam Bộ và các vùng văn hóa khác; hoặc tiếp cận sáng tác của tác giả sâu hơn dưới các lý thuyết phê bình hiện đại như lý thuyết sinh thái học văn hóa, tự sự học hậu hiện đại.

Giá trị tham khảo

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên ngành Ngữ văn: Cung cấp khung phân tích về địa – văn hóa kết hợp thi pháp học tác giả; là nguồn tài liệu tham khảo có hệ thống về tiến trình văn học Nam Bộ qua 4 thế hệ tác giả.
  • Đối với giảng viên và nhà nghiên cứu văn học Việt Nam: Cung cấp hệ thống ngữ liệu và các luận điểm đối sánh chi tiết về các tác phẩm của Nguyễn Đình Chiểu, Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Trang Thế Hy và Nguyễn Ngọc Tư, phục vụ công tác giảng dạy chuyên đề văn học khu vực và văn học đương đại.
  • Đối với người làm công tác nghiên cứu văn hóa vùng miền: Cung cấp góc nhìn về sự bảo tồn và biến đổi của các giá trị văn hóa, lối sống và tâm tính con người Nam Bộ qua phản ánh của văn học nghệ thuật.

Câu hỏi thường gặp

1. Khái niệm "văn mạch Nam Bộ" trong luận án được định nghĩa như thế nào và có gì khác với "văn học Nam Bộ"?

Luận án định nghĩa văn mạch là sự kế thừa và tiếp biến về quan niệm, nội dung và hình thức nghệ thuật của các tác gia tiêu biểu qua các thời kỳ lịch sử tại một vùng miền. Điểm khác biệt căn bản: "Văn học Nam Bộ" là một tập hợp rộng lớn bao gồm sáng tác của tất cả các tác giả đến từ các vùng miền khác nhau viết về/tại Nam Bộ và phân kỳ theo lịch sử xã hội; trong khi "văn mạch Nam Bộ" là bộ phận cốt lõi, chỉ gắn với những nhà văn sinh trưởng tại Nam Bộ, sống và viết về đất và người Nam Bộ, phân chia theo các thế hệ tác giả kế thừa và đổi mới quan niệm nghệ thuật.

2. Luận án phân chia văn mạch Nam Bộ thành những giai đoạn nào và ai là tác giả tiêu biểu cho từng giai đoạn?

Văn mạch Nam Bộ được phân chia thành 4 giai đoạn gắn với 4 thế hệ nhà văn:

  • Giai đoạn 1 (Nửa cuối thế kỷ XIX - đầu thế kỷ XX): Tác gia mở đường tiêu biểu là Nguyễn Đình Chiểu.
  • Giai đoạn 2 (Đầu thế kỷ XX - 1945): Đại diện tiêu biểu là Hồ Biểu Chánh.
  • Giai đoạn 3 (1945 - 1975): Các tác giả tiêu biểu là Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam và Trang Thế Hy.
  • Giai đoạn 4 (Sau năm 1975, nhất là từ sau năm 1986 đến nay): Đại diện tiêu biểu là Nguyễn Ngọc Tư.

3. Quan niệm về đạo lý của Nguyễn Ngọc Tư có điểm gì kế thừa và khác biệt so với các tác gia tiền bối?

Kế thừa tinh thần trọng nghĩa khinh tài từ Nguyễn Đình Chiểu, tính vị tha trong gia đình của Hồ Biểu Chánh và ân tình với đất quê của Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam, Trang Thế Hy, Nguyễn Ngọc Tư mở rộng quan niệm đạo lý thành sự thấu cảm nhân sinh phổ quát. Đạo lý trong trang văn của Nguyễn Ngọc Tư không bị quy định bởi chuẩn mực danh phận phong kiến hay tôn ti xã hội, mà biểu hiện tự nhiên qua tinh thần "lá rách ít đùm lá rách nhiều", cứu giúp và đùm bọc lẫn nhau vô điều kiện giữa những con người cùng khổ, bất hạnh.

4. Luận án chỉ ra những đề tài mới nào được Nguyễn Ngọc Tư khai phá trong văn mạch Nam Bộ?

Bên cạnh việc tiếp nối các đề tài truyền thống như chiến tranh hậu chiến, thân phận người lao động nghèo và thiên nhiên sông nước, Nguyễn Ngọc Tư đã khai phá hai mảng đề tài mới so với các tác gia tiền bối trong văn mạch: đề tài nữ quyền và tính dục (thể hiện nhu cầu giải phóng bản năng, khát vọng tự do thân xác và khẳng định quyền làm chủ của người phụ nữ) và đề tài người đồng tính (tiêu biểu trong tiểu thuyết Sông, được tiếp cận dưới góc nhìn nhân văn, thấu hiểu chiều sâu tâm lý số phận).

5. Những dạng kết cấu và đặc trưng giọng điệu trần thuật nào của Nguyễn Ngọc Tư được phân tích trong luận án?

Luận án chỉ ra 4 dạng kết cấu nghệ thuật trong truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Tư gồm: kết cấu tuyến tính, kết cấu vòng tròn, kết cấu phức hợp đa tuyến và kết cấu lắp ghép phân mảnh. Về giọng điệu trần thuật, tác phẩm của chị mang tính đa thanh với 3 âm hưởng chủ đạo: giọng trữ tình buồn bã xót xa, giọng bông lơn hài hước hóm hỉnh đặc trưng Nam Bộ, và giọng triết luận điềm tĩnh sâu sắc.


Kết luận

Luận án "Truyện ngắn và tiểu thuyết Nguyễn Ngọc Tư trong văn mạch Nam Bộ" của tác giả Trần Thị Vân Dung là một công trình nghiên cứu chuyên khảo thuộc chuyên ngành Văn học Việt Nam. Thông qua việc xác lập khái niệm và tiến trình phát triển của văn mạch Nam Bộ qua 4 thế hệ tác gia, luận án đã phân tích có hệ thống những phương diện kế thừa và cách tân trong truyện ngắn và hai tiểu thuyết của Nguyễn Ngọc Tư từ quan niệm nghệ thuật, đề tài, hình tượng nhân vật cho đến thi pháp kết cấu và ngôn ngữ trần thuật. Công trình góp phần định vị vị trí văn học sử của Nguyễn Ngọc Tư như một điển phạm tiêu biểu cho văn mạch phương Nam trong giai đoạn đổi mới và đương đại, đồng thời mở ra hướng nghiên cứu kết hợp giữa địa – văn hóa và thi pháp học tác gia.