mở đầu thực sự cho tiểu thuyết hiện đại được xem là Hoàng Ngọc Phách với tác phẩm Tố Tâm. Sau này khi khảo sát nguồn gốc của tiểu thuyết Bêlinxki đã khẳng định “tiểu thuyết bắt đầu hình thành từ khi vận mệnh của con người, mọi mối liên hệ của nó với đời sống nhân dân được ý thức”. Chính nguồn gốc này nó đã quy định đặc trưng thể loại của tiểu thuyết. Đó là ngoài khả năng tái hiện bức tranh mang tính tổng thể của đời sống xã hội, khả năng đi sâu khám phá số phận cá nhân cũng là một phẩm chất tiêu biểu của tiểu thuyết.
Vậy tiểu thuyết là gì? Xung quanh việc định nghĩa tiểu thuyết có nhiều ý kiến khác nhau tùy thuộc vào điểm nhìn của mỗi nhà lí luận. Có người cho rằng tiểu thuyết chỉ là một câu chuyện về yêu đương, không có nút tình yêu thì không có tiểu thuyết. Người khác lại quan niệm “tiểu thuyết là một thể loại văn học để “tiêu khiển”, để làm cho người đọc “quên mình đi” trong chốc lát (Vũ Bằng, Khảo về tiểu thuyết). Sau này, cũng có nhiều cách hiểu về tiểu thuyết hoàn toàn không phiến Nghiên cứu thủ pháp so sánh trong tiểu thuyết của Chu Lai và Lê Lựu 12 z Trần Thị Thùy Linh diện, không xuyên tạc bản chất tiểu thuyết nhưng lại xem tiểu thuyết là một cái gì đó không thể giải thích được, hoàn toàn không thể cắt nghĩa nổi.
Chẳng hạn như Andrew Michael Roberts trong cuốn Tiểu thuyết - Từ nguồn gốc đến hôm nay do nhà xuất bản Bloomsbury phát hành năm 1993 đã đưa ra hai cách hiểu tiểu thuyết. Theo đó, hiểu một cách khát quát thì “Tiểu thuyết là một thể loại trần thuật có hư cấu được mở rộng, dưới dạng văn viết”. Tuy nhiên, theo giáo sư Phan Cự Đệ thì cách hiểu này rộng quá, rộng đến mức bao gồm trong đó cả sử thi Odysée của Homère, thiên tình ca đầy chất thơ Troilus và Criseyde của Chaucer và cả vở Hài kịch thần thánh của Dante… Bên cạnh đó, Andrew Michael Roberts cũng đưa ra một cách hiểu hẹp về tiểu thuyết: “Tiểu thuyết là một thể loại trần thuật có hư cấu bằng văn viết, xuất hiện vào hồi đầu thế kỉ XVIII, có đặc điểm là quan tâm nhiều đến cốt truyện, là một hiện thực tâm lí hay xã hội trong một chừng mực nào đó và thường xuất hiện những yếu tố bình luận đạo đức, chính trị và xã hội”. Mặc dù các nhà lí luận đã cố gắng đưa ra một định nghĩa toàn diện và phản ánh đúng nhất bản chất tiểu thuyết, nhưng theo nhà lí luận văn học Phan Cự Đệ thì các định nghĩa trên vẫn còn nhiều hạn chế.
Như chúng ta đã nói, tiểu thuyết là một thể loại hãy còn rất trẻ (ra đời vào những năm 20 của thế kỉ XX) và đang phát triển. Nó là một thể loại còn uyển chuyển, mềm dẻo và dường như không bị đóng khung trong những quy phạm chật hẹp như một số thể loại khác. Và theo Mikhain Bakhtin thì tiểu thuyết là “Một thể loại luôn luôn đi tìm, luôn luôn nghiên cứu bản thân và luôn luôn soát lại tất cả những hình thức đã thành hình của mình. Một thể loại như vậy chỉ có thể được xây dựng trong khu vực tiếp xúc trực tiếp với hiện thực đang tiến triển”.
Nói như thế không có nghĩa là chúng ta không thể đưa ra một định nghĩa về tiểu thuyết. Tuy vậy, việc đưa ra định nghĩa tiểu thuyết phải bám sát vào bản chất và các đặc trưng thẩm mĩ của thể loại văn học này. Và để thuận tiện cho quá trình nghiên cứu, chúng tôi xin đưa ra một cách hiểu như sau về tiểu thuyết: Nghiên cứu thủ pháp so sánh trong tiểu thuyết của Chu Lai và Lê Lựu 13 z Trần Thị Thùy Linh Tiểu thuyết là một hình thức kể chuyện cỡ lớn có khả năng phản ánh được cả một thời đại lịch sử nhân loại. Hay nói một các rõ hơn thì: Tiểu thuyết là thể loại tự sự có quy mô lớn đối lập với các thể loại khác ở cách tiếp cận đời thường, không có khoảng cách.
Tiểu thuyết là hình thức tự sự phong phú nhất thể hiện ở số lượng nhân vật nhiều nhất, cốt truyện phức tạp nhất, ngôn từ đa dạng nhất, bối cảnh rõ nét nhất đáp ứng nhu cầu ý thức về cuộc sống con người trong tất cả mọi chiều kích. Nhờ những đặc trưng thể loại: 1- Là một hình thức kể chuyện cỡ lớn 2- Gần gũi nhất với cuộc sống đời thường 3- Có khả năng phản ánh được cả một thời đại lịch sử nhân loại nên nghiên cứu tiểu thuyết, đặc biệt là nghiên cứu thủ pháp nghệ thuật so sánh, chúng ta sẽ có một cái nhìn toàn diện hơn về bối cảnh xã hội nó phản ánh, về cách nghĩ của một lớp người và thế giới quan của người sáng tác. Bởi như chúng ta đã biết, người sáng tác không chỉ đứng ở cương vị một thư kí trung thành của thời đại mà họ luôn phản ánh hiện thực thông qua lăng kính chủ quan của mình, thổi hồn mình vào trong các tác phẩm nghệ thuật với mong muốn làm phong phú đời sống tinh thần của người tiếp nhận văn bản nghệ thuật, làm mới nhận thức của họ. Hay nói cách khác, trong tiểu thuyết hiện đại, nhà văn đã sáng tạo nên trong tác phẩm của mình một cuộc sống tự nó trôi theo dòng, tồn tại một cách độc lập, khách quan đối với tác giả.
Nhưng người viết tiểu thuyết không làm công việc của một người thợ ảnh tầm thường, không chụp ảnh cuộc sống, sao chép cuộc sống một cách máy móc mà cuộc sống trong tiểu thuyết được nghệ thuật hóa qua lăng kính, qua cảm quan của nhà văn. Do vậy, tiểu thuyết ngày càng thu hút sự quan tâm của người đọc và có nhà nghiên cứu đã nói rằng thế kỉ này là thế kỉ mà tiểu thuyết sẽ nắm vai trò chủ đạo trong văn học nghệ thuật. Nghiên cứu tiểu thuyết dưới góc độ ngôn ngữ học sẽ giúp cho việc cảm nhận cái tài của tác giả, cái hay, Nghiên cứu thủ pháp so sánh trong tiểu thuyết của Chu Lai và Lê Lựu 14 z Trần Thị Thùy Linh cái đặc sắc của tác phẩm có cơ sở rõ ràng. Chúng ta có thể lấy tác phẩm Sóng ở đáy sông của nhà văn Lê Lựu làm ví dụ.
Tác phẩm ra đời dựa trên một câu chuyện có thật về cuộc đời của một con người trong xã hội cũ. Câu chuyện về nhân vật Núi xuyên suốt từ thời chiến tranh cho đến thời kì hậu chiến. Qua đó, nhà văn đã mang đến cho độc giả những kiến thức xã hội, lịch sử nhất định. Chính vì vậy, câu chuyện càng trở nên có ý nghĩa.
Lúc này, người ta đọc nó không chỉ để tiêu khiển mà đọc để chiêm nghiệm, để hiểu hơn quá khứ. Đặc biệt đối với ai đã từng đi qua thời kì lịch sử này đều tìm thấy trong câu chuyện này một cái gì đó thật gần gũi với mình. Đặc trưng thẩm mĩ của ngôn ngữ tiểu thuyết hiện đại Chúng ta không thể nghiên cứu ngôn ngữ tiểu thuyết tách rời ngôn ngữ văn xuôi và ngôn ngữ nghệ thuật nói chung. Bởi vì những đặc trưng thẩm mĩ của ngôn ngữ nghệ thuật cũng là những đặc trưng thẩm mĩ của ngôn ngữ tiểu thuyết.
Trong câu chuyện hàng ngày và trong các tác phẩm khoa học ngôn ngữ không có tính nghệ thuật. Ngôn ngữ trong những trường hợp này chỉ nhằm mục đích thông tin, truyền đạt điều gì đó một cách chính xác. Ngôn ngữ nghệ thuật lại khác, nó đi từ sự thông tin đến sự sáng tạo. Nó không chỉ nhằm mục đích thông báo một sự kiện mà còn phải tái tạo lại cuộc sống một cách toàn vẹn, cụ thể và sinh động trong những hình tượng nghệ thuật.
Ngôn ngữ đó đồng thời cũng mang dấu ấn của cá tính và phong cách nghệ sĩ rất rõ. Sức mạnh của ngôn ngữ nghệ thuật thể hiện trong sự phối hợp giữa các từ sao cho mỗi từ ngoài các biểu tượng trực tiếp của nó ra còn kéo theo cả một loạt biểu tượng khác đột khởi lên trong tâm hồn người đọc. Để đạt được điều trên, các nhà văn đã vận dụng triệt để mọi phương tiện biểu hiện trong ngôn ngữ học trong đó không thể không kể đến thủ pháp so sánh. Thủ pháp so sánh góp phần mang lại cho ngôn ngữ nghệ thuật tính gãy gọn, rõ ràng, cụ thể Nghiên cứu thủ pháp so sánh trong tiểu thuyết của Chu Lai và Lê Lựu 15 z Trần Thị Thùy Linh và sinh động.
Đối với các độc giả, để hiểu hết nhiều tầng ý nghĩa của ngôn ngữ nghệ thuật chúng ta phải phối hợp các kiến thức liên ngành. Trong tiểu thuyết, các hình thức tổ chức ngôn ngữ được kết hợp xen kẽ nhau: độc thoại nội tâm và độc thoại của các nhân vật, các loại ngôn ngữ khác nhau của người kể chuyện… Chính đặc điểm này đã đem lại cho tiểu thuyết khả năng phản ánh cuộc sống một cách toàn vẹn nhất với tất cả tính chất sinh động, phức tạp, nhiều màu nhiều vẻ của nó. Trong tiểu thuyết chúng ta có thể bắt gặp mọi thứ trong cuộc đời: những vấn đề triết học, văn nghệ, chính trị, quân sự, kinh tế, đạo đức… Nhiều nhà phê bình thường ví những tiểu thuyết lớn như những cuốn bách khoa của đời sống. Nói tóm lại, tiểu thuyết là một hình thức kể chuyện cỡ lớn có khả năng phản ánh được cả một thời đại lịch sử của nhân loại.
Nhờ đặc điểm này khi nghiên cứu tiểu thuyết của nhà văn Chu Lai và Lê Lựu chúng ta sẽ hiểu rõ hơn cuộc sống, cách suy nghĩ của lớp người thời kháng chiến chống Mĩ cứu nước và lối tư duy của người dân những năm đầu thời kì đổi mới. Trong tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng, nhà văn Chu Lai với thủ pháp đồng hiện, gần như là một sự đối chiếu những năm tháng đánh Mĩ ác liệt của những người lính anh hùng ở phân khu miền Đông ven đô Sài Gòn với thời buổi kinh tế thị trường, “thời buổi thiên hạ đang tự thoát xác để lao vào làm ăn” chụp giật, cạnh tranh, cá lớn nuốt cá bé… tác giả đem đến cho độc giả cái nhìn toàn diện về một giai đoạn của lịch sử dân tộc. Đồng thời, tác giả cũng đi vào miêu tả từng ngõ ngách của tâm hồn, của số phận để từ đó thấy được số phận của những người anh hùng sau chiến tranh trở về đã thay đổi một cách kì lạ như thế nào. Đặc biệt là những suy nghĩ của nhân vật chính – Hai Hùng.
Cách nghĩ, cách nhìn cuộc đời của anh một phần nào đó chính là của nhà văn. Qua đây chúng ta hiểu rõ hơn về thế giới quan của tác giả.