CHƯƠNG 1 KHẢO SÁT HỆ THỐNG VĂN BIA HUYỆN VĨNH LỘC 1. Tìm hiểu lịch sử - địa lý huyện Vĩnh Lộc. Lịch sử hình thành tên gọi Vĩnh Lộc. Vĩnh Lộc là huyện trung du của tỉnh Thanh Hoá, phía bắc giáp huyện Cẩm Thuỷ và Thạch Thành, nam giáp huyện Yên Định, đông giáp huyện Hà Trung, tây giáp huyện Cẩm Thuỷ.
Thời Bắc thuộc, Vĩnh Lộc thuộc huyện Tư Phố bộ Cửu Chân. Thời Đinh - Lê - thuộc huyện Nhật Nam của Châu Ái; thời Lý do Tổng trấn Lý Thường Kiệt quản giáo, thời Trần - Hồ thuộc huyện Vĩnh Ninh trấn Thanh Đô; thời Lê Trung hưng vì tránh tên huý của vua Lê Trang Tông huý là Duy Ninh đổi là huyện Vĩnh Phúc và cho lệ vào phủ Thiệu Thiên. Thời Tây Sơn đổi thành huyện Vĩnh Lộc. Giai đoạn triều Nguyễn, năm Minh Mệnh thứ 16 (1935) tách huyện Vĩnh Lộc khỏi phủ Thiệu Hóa cho lệ vào phủ Quảng Hoá.
Sau Cách mạng tháng 8, năm 1977 nhập hai huyện Vĩnh Lộc và Thạch Thành đổi tên là huyện Vĩnh Thạch. Năm 1982 tách hai huyện như trước, lấy tên cũ là huyện Vĩnh Lộc. Từ thời tiền sử đã có con người đến cư trú, những dấu vết thời đại đá cũ (cách ngày nay vài chục vạn năm) được các nhà khảo cổ học tìm thấy ở di chỉ núi Nổ (xã Vĩnh An). Thời đại đá mới người nguyên thủy chủ nhân của văn hóa Hòa 12 z Bình- Bắc Sơn, dời hang động mái đá ở vùng cao, chuyển dần xuống vùng núi thấp, dọc theo sông Mã, vùng đồng bằng nhiều sản vật như Đa Bút (xã Vĩnh Tân ngày nay), Bản Thuỷ (xã Vĩnh Thịnh ngày nay), làng Còng (xã Vĩnh Hưng ngày nay) của huyện Vĩnh Lộc.
Từ thực tế trên, năm 1926, các nhà khảo học của Viện Viễn đông Bác cổ đã phát hiện và khai quật di chỉ Đa Bút, (nằm sát chân núi Mông Cù liền kề với đồng chiêm trũng làng Bồng Thượng xã Vĩnh Tân, cách sông Mã 2km và tồn tại dưới dạng cồn hến ven sông dài 50km), đã phát hiện nhiều bộ xương người ở Đa Bút. Qua nghiên cứu, các nhà khoa học đã xác định xương của người Indoxesien và người Ménanéssien. Các phân tích khoa học bằng phương pháp các bon phóng xạ, đã cho biết gần 7. Từ đó di chỉ Đa Bút đã tạo thành nền văn hoá nổi tiếng: Văn hoá Đa Bút ở khu vực Đông Nam Á.
Dưới thời nhà nước phong kiến tự chủ, Vĩnh Lộc từng là kinh đô của nhà nước Đại Ngu dưới vương triều Hồ (1400-1407) đồng thời cũng là nơi phát tích của chúa Trịnh phò tá nhà Lê điều hành đất nước. Hơn thế nữa đất Vĩnh Lộc còn là cái nôi sinh ra những anh tài kiệt xuất đóng góp công sức vào sự nghiệp dựng nước và giữ nước của dân tộc như Kim ngô Long hổ Lưỡng vệ Thượng Tướng quân Trần Khát Chân (triều Trần), Liệt Quốc công Trịnh Khả ( triều Lê Sơ), Bảng nhãn Lưu Hưng Hiếu, (người Thanh Hóa duy nhất được coi là ngôi sao sáng trong Hội Tao Đàn thời Lê sơ), Thái sư Lạng Quốc công Trịnh Kiểm (thời Lê - Trịnh), Vinh Quốc công Hoàng Đình Ái (thời Lê - Trịnh), Tĩnh Quốc công Phạm Đốc (thời Lê - Trịnh), Trạng Nguyên Trịnh Tuệ (người trạng nguyên cuối cùng của lịch sử khoa bảng Việt Nam), Nữ học giả Trịnh Thị Ngọc Trúc vợ vua Lê Thần Tông, quan nghè Tống Duy Tân, một thủ lĩnh của phong trào Cần Vương chống Pháp v.v…Ngày nay huyện Vĩnh Lộc có 15 xã và 1 thị trấn với 136 thôn, làng, và 01 khu phố. Địa hình, núi sông. 13 z Vĩnh Lộc là vùng đất cổ, nằm trong khu vực chuyển tiếp từ vùng núi và đồng bằng, với những dãy núi đá vôi nhấp nhô nằm xen kẻ giữa những cánh đồng phù sa do sông Mã và sông Bưởi bồi đắp.
Đất Vĩnh Lộc địa hình đa dạng và phức tạp, là trung tâm nơi hợp giao của tỉnh lộ 217 và 47 về phố Giáng thị trấn huyện, chạy lên các huyện miền Tây, đến cửa khẩu Quốc tế Na Mèo sang Lào. Nhiều dãy núi ghi đậm những chứng tích lịch sử gắn với nhiều giai thoại, truyền thuyết đã thấm sâu vào tiềm thức của người dân Vĩnh Lộc như núi An Tôn ở xã Vĩnh Yên, trong núi có Hang Nàng là nơi Hồ Quí Ly giam giữ các cung tần nhà Trần, cũng tại núi này khi Hồ Quí Ly tiến hành xây thành Tây Đô, đã lấy đá núi và sử dụng núi này là khu bãi khai thác đá giúp cho việc xây thành Tây Đô. Núi Đốn Sơn ở địa phận xã Vĩnh Thành, tích xưa truyền lại, dưới triều Trần, tướng quân Trần Khát Chân âm mưu giết Hồ Qúy Ly nhưng không thành, sau đó phải chết ở đấy. Ở phía Đông núi có đàn tế Nam Giao, có giếng Ngự Dục (Duyên), xếp đá làm thành, bệ cấp uy nghiêm, đều là di tích của Hồ Hán Thương xây dựng năm (1402).
Núi Mã Hí (hay còn có tên gọi khác là núi Hí Mã) ở xã Vĩnh Ninh, núi này vách đá cheo leo nhìn giống như "quần Mã" vờn "trường thi", cho nên thời trước khi khảo hạch các bậc nhân sĩ hàng huyện thường đặt trường ở đấy. Núi Mông Cù nằm ở xã Vĩnh Tân, trên đỉnh có một cái ao thiên tạo uốn lượn quanh co mà đổ nước xuống, xưa kia là nơi đặt mộ tổ Thái Quận công người họ Hà. Núi Hùng Lĩnh (còn có tên là núi Tác Hùng) ở xã Vĩnh Hùng và Vĩnh Tân, núi này nối liền với núi Mông Cù, đời xưa truyền lại trên núi có hai cây cổ thụ, có thần tích trú, ban đêm cứ ẩn hiện trong chốc lát. Bên tả ngọn núi là mộ cũ họ Trịnh, có phủ từ ở đấy, dưới chân núi có bia mộ (phủ từ nay đã bị phá, bia mộ thất lạc chúng tôi chưa tìm ra?).
Núi Cô Sơn ở xã Vĩnh Thịnh, trên núi có một đỉnh gọi là Hoàng Sơn, đứng cheo leo bên bờ, phía trên khắc tám chữ Hán lớn Thanh tri điền trí, Thanh trí điền tri 清知田 智清智田知(nay dòng chữ này không còn). Núi Phú Thịnh ở xã Vĩnh Minh, núi 14 z này xưa kia là nơi dân cư của xã Khắc Kiệm ở, (nay xã này không còn tồn tại trong đơn vị hành chính huyện), các bậc danh hiền Thám hoa, Tiến sĩ, đều từ ấy ra, thật là một làng quê nổi tiếng. Trong núi ấy kéo xuống một đồi đất, rất là tròn chĩnh, là nơi mộ tổ của Quận công họ Tống. Núi Nham Sơn ở xã Vĩnh An, nơi có chùa Liên Hoa, được di chuyển từ ngoài đê vào từ thời gian năm Kỹ Mão đời vua Tự Đức thứ 32(1879), trên núi ngày nay vẫn còn hai văn bia Liên Hoa tự bi 蓮花寺碑 và Liên Hoa tự trùng tu bi kí 蓮花寺重修碑記.
Trong số các núi vừa nêu trên, ở Vĩnh Lộc còn có 2 ngọn núi Xuân Đài ở xã Vĩnh Ninh, núi Biện Lĩnh ở xã Vĩnh An và Vĩnh Minh có số lượng văn bia ma nhai nhiều nhất. Xưa kia là điểm đến hấp dẫn được các bậc tao nhân mặc khác đến du lãm, khắc bia lưu đề. Núi Xuân Đài, nơi có chùa Du Anh và động Hồ Công. Ở khu vực núi và chùa có tổng số 18 văn bia ma nhai và 2 văn bia chùa.
Núi có nham thạch chồng chất, tầng lớp cao vọt như một lâu đài ôm lấy nhau tựa như chiếc thuyền, cho nên tên là Xuân Đài. Dưới chân núi có chùa Du Anh, hai bên nách chùa lại có hai hồ nước “Nhật Nguyệt” do thiên nhiên tạo thành, bốn mùa nước trong vắt, nhìn xuống tận đáy. Phía trước chùa có một tượng hổ phục, một tượng voi qùy, đều làm bằng đá. Từ xa nhìn lại như một bức họa vẽ.
Bên phải chùa có am công chúa, bên trái có gác Ngọc Hoàng, bên ngoài lên phía Bắc khoảng vài chục bước, dưới chân núi có một phiến đá dựng đứng, nhân đó làm thành bia đặt tên Trùng tu Xuân Đường sơn Hồ Công động Du Anh tự bi 重修春棠山壺公洞遊英寺碑 do Trạng Bùng Phùng Khắc Khoan soạn niên hiệu Hoằng Định thứ 6 (1606) đời vua Lê Kính Tông. Góc phía sau chùa có con đường mòn, chếch hướng Đông Nam, cheo leo trên vách núi theo cấp bậc mà lên, ước độ sáu - bảy trăm bậc là động Hồ Công. Đi hơi chếch về hướng Tây, bên trái đường lên có phiến đá to khắc 4 chữ lớn Thanh kỳ khả ái 青奇 15 z 可愛 là chữ của chúa Trịnh Sâm đề. Lại theo hướng Tây lên khoảng bốn năm mươi bước, bên trái đường có phiến đá to bằng phẳng, là nơi vua chúa các triều lên đó nghỉ ngơi ngắm cảnh.
Lại vẫn theo hướng Tây đến vài bước, ngoặt về hướng Nam các bậc đá đều bằng phẳng, không còn gập ghềnh. Đến đó, vách đá dựng đứng, trông ra phía trước là đồng bằng, bèn mở ra một động khum khum như miệng hang, rộng rãi thoáng đãng, rất cao và trống. Ngoài cửa hơi chếch về bên trái, bên trên khắc 4 chữ Hán Sơn bất tại cao 山不在高 là chữ của Hồng Ngư Cư sỹ (Nguyễn Nghiễm) đề. Phía trước cửa động là bài thơ của Nhật Nam Nguyên chủ Trịnh Sâm, bên trong cửa, hai bên có hai tượng người đá, đó là tượng Hồ Công và Phí Trường Công.
Hai bên vách đá cao vút, có rất nhiều các văn bia ma nhai của các vua chúa và các bậc túc nho xưa kia đến thăm lưu đề như Đề Hồ Công động tịnh dẫn 題壺公洞並 của Thiên Nam Động Chủ Lê Thánh Tông khắc niên hiệu Hồng Đức thứ 9 (1478), Ngự chế đề Hồ Công động 御製題壺公洞 của Thượng Dương Động Chủ Lê Hiến Tông đề niên hiệu Cảnh Thống thứ 4 (1504), bài thơ của Hồng Ngư Cư sĩ Nguyễn Nghiễm khắc năm Quí Dậu (1753) đời Lê Hiển Tông, bài thơ của Đông các hiệu thư kiêm Bí thư các sự Ngô Thì Sĩ khắc năm Bính Tuất (1767) đời vua Lê Hiển Tông và 14 các bài thơ khác của nhiều các bậc túc nho, xưa kia đã đến thăm động tức cảnh làm thơ, khắc vào vách đá… Bên trên chỗ thạch nhũ rỏ xuống khắc thành hai chữ lớn Ngọc Hồ 玉壺 đó là thiên nhiên ban tặng cho bức hoành phi không phải người thường tạo nên. Bên trái lại có một động, mở ra một hang nhỏ, tăm tối trống không, trên có nhũ đá rũ xuống tạo thành chiếc đỉnh, có gian bếp đá, do thần qủy khắc nên, người thường không thể làm được. Bên trái đỉnh đá có con đường đá ngoằn ngoèo, trèo lên đến chỗ cao nhất có giếng tối om, lấy đuốc soi vào kín bưng. Sâu không thể lường được, thử lấy đá ném xuống 16 z để dò nhưng không đến được đáy.