Chương 1 luận án tổng thuật lại tình hình nghiên cứu đã có ở trong và ngoài nước về truyện truyền kỳ trong văn học Việt Nam thời trung đại, trên cơ sở đó, luận án tiếp thu kế thừa, và cố gắng bổ sung một vài nghiên cứu mới, nhất là nghiên cứu đặc trưng truyện truyền kỳ nhìn từ văn hoá tâm linh, từ nghệ thuật sử dụng mô-tip, từ xây dựng kết cấu và nghệ thuật miêu tả (trang 8 – trang 23) Chương 2 luận án dựng lại bức tranh chung về diện mạo truyện truyền kỳ trong văn học Việt Nam thời trung đại, đồng thời nêu lên mối quan hệ giao lưu tiếp biến giữa truyện truyền kỳ Việt Nam với truyện truyền kỳ trong văn học khu vực Đông Á thời trung đại (trang 24 – trang 55). Chương 3 luận án sẽ đi sâu nghiên cứu đặc trưng truyện truyền kỳ nhìn từ văn hoá tâm linh, như: giới thuyết khái niệm „văn hóa tâm linh‟; Cơ sở hình thành yếu tố tâm linh trong văn hóa và trong truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam; Những biểu hiện của văn hoá tâm linh trong truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam; Ảnh hưởng và tác 6 luan an động văn hoá tâm linh trong truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam; Ý nghĩa của văn hoá tâm linh trong truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam (trang 56 – trang 134). Chương 4 luận án tìm hiểu các kiểu mô-tip thường gặp trong các tác phẩm truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam, như: mô-tip lấy vợ (hoặc chồng) kỳ dị, mô-tip nhân vật chu du trong các cõi không gian tưởng tượng, mô-tip thụ thai thần kỳ, mô-tip chết thần kỳ, mô-tip thần tiên đạo nhân cứu người, trấn áp ma quỷ.; các kiểu kết cấu của truyện truyền kỳ, nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật, nghệ thuật miêu tả thế giới siêu nhiên, không gian và thời gian, yếu tố văn học dân gian được sử dụng trong truyện truyền kỳ (trang 135 – trang 170). Cuối cùng là Kết luận (trang 171 – trang 174) Những công trình của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án (trang 175); Danh mục tài liệu tham khảo (trang 176 – trang 186).
Phụ lục: Bảng thống kê xác lập tiêu chí phân loại truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam (trang 189 – trang 213). 7 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRUYỆN TRUYỀN KỲ TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM Truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam được viết bằng chữ Hán và hiện nay hầu hết đều được dịch sang chữ quốc ngữ. Có những công trình dịch từng tác phẩm truyện truyền kỳ, cũng có những công trình tập hợp các truyện truyền kỳ thành một tuyển tập, hợp tuyển. Và cũng đã có nhiều công trình dịch các tác phẩm truyền kỳ của một số nước đồng văn Đông Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản.
Bên cạnh đó, có nhiều tiểu luận, công trình nghiên cứu các tác phẩm truyện truyền kỳ công bố trên các tạp chí hay xuất bản thành sách. Nhờ thế mà chúng tôi gặp khá nhiều thuận lợi khi triển khai đề tài luận án. Trong các tác phẩm thuộc thể loại truyền kỳ trong văn học trung đại Việt Nam thì tác phẩm Truyền kỳ mạn lục là đỉnh cao của thể loại. Sau đây, xin được tổng thuật lại tình hình sưu tầm, khắc in văn bản tác phẩm, tình hình dịch thuật và nghiên cứu các tác phẩm thuộc thể loại truyền kỳ, mà trọng tâm là tác phẩm Truyền kỳ mạn lục theo ba giai đoạn: từ cuối thế kỷ XIX trở về trước; từ đầu thế kỷ XX đếm năm 1975 và từ sau năm 1975 đến nay như sau: 1.
Từ cuối thế kỉ XIX trở về trƣớc Bản dịch đầu tiên từ chữ Hán sang chữ Nôm (có thêm phần giải âm, tập chú) tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là bản giải âm của Nguyễn Thế Nghi vào nửa đầu thế kỷ XVI, một người sống cùng thời với Nguyễn Dữ, nhan đề là Truyền kỳ mạn lục giải âm. Từ đó, có thể nói diễn Nôm được xem như là khởi thuỷ, là thượng nguồn của văn học dịch trong lịch sử văn học nước nhà. Bản chữ Nôm này đã được vị giáo sư lão thành Nguyễn Quang Hồng ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm phiên âm sang quốc ngữ, đã xuất bản và tái bản. Người giới thiệu, nhận xét đánh giá đầu tiên về Nguyễn Dữ và tác phẩm Truyền kỳ mạn lục là Hà Thiện Hán, một người sống cùng thời với Nguyễn Dữ.
Trong Lời Tựa, Hà Thiện Hán viết vào ngày lành tháng 7 mùa thu năm Vĩnh Định sơ niên (1547), in ở bản Cựu biên Truyền kỳ mạn lục (1712), có nói về Nguyễn Dữ và tập Truyền kỳ 8 luan an mạn lục như sau: “Ông thuở thiếu thời chăm học, đọc rộng nhớ lâu, những muốn lấy văn chương lập nghiệp nhà. Ông vượt qua thi Hương, mấy lần thi đỗ trường thi Hội. Được bổ làm quan Tri huyện Thanh Tuyền, song mới được một năm, liền từ quan về nhà phụng dưỡng mẹ già, cho tròn đạo hiếu. [Từ đó] nhiều năm chân không bén đến nơi thị thành.
Rồi bèn soạn nên tập truyện này, mong ngụ lòng mình trong đó. Xem văn từ của ông, [thấy] không ra ngoài "rào giậu" của Tông Cát [Cù Tông Cát soạn Tiễn đăng tân thoại]. Song [trong đó] có ý khuyên răn, có lời dạy dỗ, thật có can hệ đến giáo hóa ở đời, đâu có phải là chuyện vặt vãnh chắp nhặt tầm thường”. (Nguyên văn: Thiếu cù vu học, bác lãm cường kí, dục dĩ văn chương thế kì gia, việt lĩnh Hương tiến, lũy trúng Hội thí trường.
Tể vu Thanh Tuyền huyện, tài đắc nhất nẫm, từ ấp dưỡng mẫu, dĩ toàn hiếu đạo. Túc bất [đạp] thành thị, phàm kỉ dư sương. Ư thị bút tư lục, dĩ ngụ ý yên. Quan kì văn từ bất xuất Tông Cát phiên li chi ngoại [Cù Tông Cát trước “Tiễn đăng tân thoại”].
Nhiên hữu cảnh giới giả, hữu qui châm giả, kì quan ư thế giáo, khởi tiểu bổ vân.) (Hà Thiện Hán, Tựa Truyền kỳ mạn lục) Vũ Khâm Lân trong bài Phả ký “Bạch vân am tiên sinh Nguyễn công Văn Đạt phả ký” viết vào mùa đông năm Kỷ Hợi (1743), ông đã ngợi khen Truyền kỳ mạn lục là áng “thiên cổ kỳ bút”. Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục đã viết về Nguyễn Dữ:“Ông người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, Hải Dương. Cha là Tường Phiêu, đỗ Tiến sĩ khoa Bính Thìn (1496), làm quan Thượng thư bộ Hộ. Nguyễn Dữ lúc còn bé thông minh lanh lợi, xem rộng, nhớ lâu, văn chương có thể nối dõi được gia phong, thi đỗ Hương cống, thi Hội nhiều khoa trúng kì đệ tam, được bổ Tri huyện Thanh Tuyền, làm quan mới được một năm, liền lấy cớ là xa nhà, xin từ chức về nhà hầu cha mẹ.
Sau vì nguỵ Mạc cướp ngôi vua, ông thề không ra làm quan, sống ở thôn quê dạy học trò, không bao giờ để chân đến thành thị. Về phần trứ tác có Truyền kỳ mạn lục 4 quyển, lời lẽ thanh tao tươi đẹp, người bấy giờ lấy làm ngợi khen” [bản dịch, Nxb KHXH, HN, 1977, tr. Bùi Huy Bích trong Hoàng Việt thi tuyển đã dựa vào những bài thơ của các nhân vật làm ra trong các truyện của Truyền kỳ mạn lục mà chép lại, tuyển vào bộ sách của ông và ghi Nguyễn Dữ là tác giả của những bài thơ ấy, tuyển 4 bài với 3 đầu đề, đó là bài số 3 bài số 5 (trong 10 bài) mà Từ Thức đề trên bức bình phong tại nơi ở của Giáng Hương trong truyện Từ Thức lấy vợ Tiên nhan đề “Làm thay Từ Thức đề ở bức 9 luan an bình phong trắng tại nơi ở của nàng tiên Giáng Hương”, một bài trong truyện Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa mà Kim Hoa nữ học sĩ Ngô Chi Lan (Nguyễn Hạ Huệ) đề ở núi Vệ Linh, nơi Phù Đổng Thiên Vương bay về trời, với nhan đề “Làm thay nữ học sĩ Kim Hoa đề núi Vệ Linh” và một bài trong truyện Nghiệp oan của Đào thị, với nhan đề “Mây núi, trăng núi” và ghi chú thêm “phỏng theo thơ nhà sư Vô Kỉ cùng nàng Hàn Than ngâm vịnh ở núi Vệ Kì”. Phan Huy Chú trong bộ bách khoa thư Lịch triều hiến chương loại chí, mục Văn tịch chí đã giới thiệu sơ lược như sau: Truyền kỳ mạn lục, 4 quyển.
Dật sĩ Nguyễn Dữ soạn, đại khái bắt chước Tiễn đăng tân thoại của một nhà nho đời Nguyên. Tập này cộng 22 truyện1. Dữ người ở Đỗ Tùng, huyện Gia Phúc, con trai của Tiến sĩ Tường Phiêu [Lịch triều hiến chương loại chí, tập 4, bản dịch, trang 121]. Từ đầu thế kỉ XX đến năm 1975 Về các bản Việt dịch Truyền kỳ mạn lục Bản dịch sang quốc ngữ đầu tiên là bản của Cát Thành.
Ông chọn dịch 12 truyện, do nhà in Thạch Thái Bưởi ở Hà Nội xuất bản năm 1912, đó là: Khoái Châu nghĩa phụ truyện, Mộc miên thụ truyện, Tây viên kỳ ngộ ký, Đà Giang dạ ẩm ký, Từ Thức tiên hôn lục, Đông Triều phế tự lục, Long đình đối tụng lục, Phạm Tử Hư du Thiên tào lục, Tản Viên từ Phán sự lục, Dạ Xoa bộ suý lục, Nam Xang nữ tử truyện, Đào thị nghiệp oan ký. Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch đầy đủ tác phẩm Truyền kỳ mạn lục, bản dịch công bố lần đầu vào năm 1935. Tiếp theo bản dịch này lại được công bố trên Phổ thông bán nguyệt san, số 124, số 125 tháng 2-1943 và số 126, tháng 3-1943. Sau đó được Nxb Tân Việt, Sài Gòn, in lại năm 1952, rồi được tái bản nhiều lần vào các năm 1957 bởi Nxb Văn hoá; năm 1971 bởi Nxb Văn học; và năm 1989 bởi Nxb Trẻ Tp HCM phối hợp với Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Văn học TP.
Có thể nói bản dịch của Trúc Khê là bản dịch được các nhà nghiên cứu và độc giả đánh giá là bản dịch tốt nhất, được lưu hành rộng rãi nhất, được sách giáo khoa và giáo trình các cấp học dùng làm văn bản để giảng dạy. 1 Chỗ này thì cụ Phan Huy Chú ghi nhầm, thực tế Truyền kỳ mạn lục chỉ có 20 truyện, gồm 4 quyển, mỗi quyển chép 5 truyện. 10 luan an Lê Huy Hạp đã dịch truyện Người thiếu phụ Nam Xương và một số truyện truyền kỳ khác sang tiếng Anh: The Lady of Nam Xương and Other Vietnamses Legends, nhà in Phan Thanh Giản, Sài Gòn, 1957. Cũng tại Sài Gòn, Thứ Lang Bùi Xuân Trang dịch Tân biên Truyền kỳ mạn lục làm 2 quyển, quyển thượng in năm 1962; quyển hạ in năm 1963, do Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, sau đó tái bản năm 1970.