Luận án tiến sĩ về truyện truyền kỳ Việt Nam thời trung đại: Diện mạo và đặc trưng nghệ thuật

Nghiên cứu hệ thống truyện truyền kỳ Việt Nam thời trung đại: Đặc trưng nghệ thuật và diện mạo, phương pháp định lượng kết hợp định tính, góp phần

Trường đại học

Học viện Khoa học Xã hội

Chuyên ngành

Ngữ văn

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận án tiến sĩ

2020

218
1
0

Phí lưu trữ

55 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CÁM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Mục đích nghiên cứu và nhiệm vụ của luận án

0.3. Nhiệm vụ của luận án

0.4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

0.5. Phương pháp nghiên cứu

0.6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn

0.7. Đóng góp mới của luận án

0.8. Cấu trúc luận án

1. CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRUYỆN TRUYỀN KỲ TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

1.1. Từ cuối thế kỉ XIX trở về trước

1.2. Từ đầu thế kỉ XX đến năm 1975

1.3. Từ năm 1975 đến nay

1.4. Tiểu kết

2. CHƯƠNG 2: DIỆN MẠO TRUYỆN TRUYỀN KỲ TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM

2.1. Nguồn gốc và quá trình hình thành, phát triển truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam

2.2. Nguồn gốc thể loại truyện truyền kỳ ở khu vực Đông Á thời trung đại

2.3. Vai trò của Tiễn đăng tân thoại trong quá trình phát triển thể loại truyền kỳ ở khu vực Đông Á thời trung đại

2.4. Quá trình phát triển của thể loại truyện truyền kỳ trong văn học trung đại Việt Nam

2.5. Vấn đề phân loại truyện truyền kỳ và hệ thống tác phẩm thuộc thể loại truyền kỳ trong văn học trung đại Việt Nam

2.6. Vài nét về mối quan hệ giao lưu tiếp biến, tương đồng và dị biệt giữa truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam với truyện truyền kỳ khu vực Đông Á

2.6.1. Về mối quan hệ giao lưu tiếp biến

2.6.2. Các điểm tương đồng của truyện truyền kỳ khu vực Đông Á

2.6.3. Các điểm dị biệt của truyện truyền kỳ khu vực Đông Á

2.6.4. Các điểm dị biệt của truyện truyền kỳ Việt Nam so với truyện truyền kỳ khu vực Đông Á

3. CHƯƠNG 3: ĐẶC TRƯNG TRUYỆN TRUYỀN KỲ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM NHÌN TỪ VĂN HÓA TÂM LINH

3.1. Giới thuyết khái niệm

3.2. Những cơ sở hình thành văn hoá tâm linh trong văn học trung đại Việt Nam, trong đó có truyện truyền kỳ

3.2.1. Cơ sở hình thành văn hoá tâm linh trong văn học Việt Nam

3.2.2. Cơ sở hình thành văn hoá tâm linh trong truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam

3.3. Những biểu hiện của văn hoá tâm linh trong truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam

3.3.1. Tín ngưỡng thờ Mẫu và hình tượng người phụ nữ truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam

3.3.2. Cái chết trong truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam

3.3.3. Giấc mộng trong truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam

3.3.4. Điềm báo trong truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam

3.3.5. Cầu cúng, khấn vái trong truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam

3.3.6. Linh ứng trong truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam

3.3.7. Hồn ma, hóa kiếp trong truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam

3.4. Ảnh hưởng và tác động của văn hoá tâm linh trong truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam

3.4.1. Ảnh hưởng và tác động của văn hóa tâm linh nhìn từ đặc điểm tư duy về thế giới và con người

3.4.2. Ảnh hưởng và tác động của văn hóa tâm linh nhìn từ đặc điểm tác giả, độc giả truyện truyền kỳ

3.4.3. Vài nhận xét về ảnh hưởng và tác động của văn hoá tâm linh trong truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam

3.5. Ý nghĩa của văn hoá tâm linh trong truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam

4. CHƯƠNG 4: ĐẶC TRƯNG TRUYỆN TRUYỀN KỲ TRUNG ĐẠI VIỆT NAM NHÌN TỪ CÁC MÔ-TIP THỂ HIỆN, KIỂU KẾT CẤU VÀ NGHỆ THUẬT XÂY DỰNG, MIÊU TẢ

4.1. Đặc trưng truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam nhìn từ các mô-tip thể hiện

4.1.1. Nhóm mô-tip lấy vợ (hoặc chồng) kỳ dị

4.1.2. Nhóm mô-tip nhân vật chu du trong các cõi không gian tưởng tượng

4.1.3. Nhóm mô-tip thụ thai thần kỳ

4.1.4. Nhóm mô-tip chết thần kỳ

4.1.5. Nhóm mô-tip thần tiên đạo nhân cứu người, trấn áp ma quỷ

4.2. Đặc trưng truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam nhìn từ các kiểu kết cấu truyện

4.2.1. Kết cấu của loại truyện viết về tình yêu

4.2.2. Kết cấu của loại truyện viết về sự giao du và diệt trừ các nhân vật ở thế giới khác

4.3. Đặc trưng truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam nhìn từ nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật

4.3.1. Nhân cách hoá

4.3.2. Thần kỳ hoá

4.4. Đặc trưng truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam nhìn từ nghệ thuật miêu tả thế giới siêu nhiên

4.5. Đặc trưng truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam nhìn từ nghệ thuật miêu tả không gian và thời gian

4.5.1. Nghệ thuật miêu tả không gian trong truyện truyền kỳ

4.5.2. Nghệ thuật miêu tả thời gian trong truyện truyền kỳ

DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA NCS ĐÃ CÔNG BỐ CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Giới thiệu về truyện truyền kỳ Việt Nam thời trung đại

Truyện truyền kỳ là một thể loại văn học độc đáo trong văn học Việt Nam thời trung đại, phản ánh sâu sắc đời sống văn hóa và tâm linh của người Việt. Thể loại này không chỉ tiếp thu từ văn học Trung Quốc mà còn phát triển theo hướng nội sinh, gắn liền với văn hóa dân gian và lịch sử. Nghệ thuật Việt Nam trong truyện truyền kỳ thể hiện qua việc sử dụng ngôn ngữ phong phú, hình tượng nhân vật đa dạng và các mô-tip thể hiện độc đáo. Truyện truyền kỳ không chỉ là sản phẩm văn học mà còn là di sản văn hóa, phản ánh tư tưởng, tâm tư và khát vọng của con người Việt Nam trong bối cảnh lịch sử cụ thể.

1.1. Nguồn gốc và quá trình hình thành

Truyện truyền kỳ có nguồn gốc từ thể loại truyện kỳ ảo của Trung Quốc, nhưng đã được người Việt tiếp thu và phát triển theo cách riêng. Sự hình thành của thể loại này gắn liền với các yếu tố văn hóa, lịch sử và xã hội của Việt Nam. Các tác phẩm như Việt điện u linh tập hay Lĩnh Nam chích quái không chỉ mang tính giải trí mà còn chứa đựng những giá trị văn hóa sâu sắc, phản ánh tâm tư và nguyện vọng của người dân trong thời kỳ phong kiến.

II. Đặc trưng nghệ thuật của truyện truyền kỳ

Đặc trưng nghệ thuật của truyện truyền kỳ Việt Nam thể hiện qua nhiều khía cạnh, từ nội dung đến hình thức. Các tác phẩm thường sử dụng mô-tip kỳ ảo, nhân vật có khả năng siêu nhiên, và các yếu tố tâm linh. Nghệ thuật truyền thống trong truyện truyền kỳ không chỉ dừng lại ở việc kể chuyện mà còn thể hiện sự sáng tạo trong việc xây dựng hình tượng và không gian nghệ thuật. Những yếu tố này tạo nên sức hấp dẫn và độc đáo cho thể loại này, giúp nó tồn tại và phát triển qua nhiều thế kỷ.

2.1. Hình tượng nhân vật và không gian nghệ thuật

Nhân vật trong truyện truyền kỳ thường được xây dựng với những phẩm chất đặc biệt, như trí tuệ, dũng cảm và lòng nhân ái. Không gian nghệ thuật cũng được miêu tả một cách sinh động, từ những cõi thần tiên đến những vùng đất xa lạ. Ngôn ngữ văn học trong truyện truyền kỳ rất phong phú, thể hiện sự kết hợp giữa ngôn ngữ dân gian và ngôn ngữ bác học, tạo nên một bức tranh đa dạng về văn hóa và tâm linh của người Việt.

III. Tác động của văn hóa tâm linh trong truyện truyền kỳ

Văn hóa tâm linh có ảnh hưởng sâu sắc đến nội dung và hình thức của truyện truyền kỳ. Các yếu tố như tín ngưỡng thờ Mẫu, giấc mộng, và các hiện tượng siêu nhiên thường xuất hiện trong các tác phẩm, tạo nên một không gian văn hóa đặc trưng. Di sản văn hóa này không chỉ phản ánh niềm tin và giá trị của người dân mà còn góp phần làm phong phú thêm bức tranh văn học Việt Nam. Những tác phẩm này không chỉ là sản phẩm văn học mà còn là những tài liệu quý giá để nghiên cứu về tâm tư, tình cảm và thế giới quan của người Việt trong thời kỳ trung đại.

3.1. Ý nghĩa của văn hóa tâm linh

Văn hóa tâm linh trong truyện truyền kỳ không chỉ mang lại giá trị nghệ thuật mà còn có ý nghĩa xã hội sâu sắc. Nó giúp người đọc hiểu rõ hơn về những khát vọng, nỗi đau và niềm vui của con người trong bối cảnh lịch sử cụ thể. Các tác phẩm truyền kỳ đã trở thành cầu nối giữa quá khứ và hiện tại, giữa văn hóa dân gian và văn hóa bác học, góp phần làm phong phú thêm di sản văn hóa Việt Nam.

25/01/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 luận án tổng thuật lại tình hình nghiên cứu đã có ở trong và ngoài nước về truyện truyền kỳ trong văn học Việt Nam thời trung đại, trên cơ sở đó, luận án tiếp thu kế thừa, và cố gắng bổ sung một vài nghiên cứu mới, nhất là nghiên cứu đặc trưng truyện truyền kỳ nhìn từ văn hoá tâm linh, từ nghệ thuật sử dụng mô-tip, từ xây dựng kết cấu và nghệ thuật miêu tả (trang 8 – trang 23) Chương 2 luận án dựng lại bức tranh chung về diện mạo truyện truyền kỳ trong văn học Việt Nam thời trung đại, đồng thời nêu lên mối quan hệ giao lưu tiếp biến giữa truyện truyền kỳ Việt Nam với truyện truyền kỳ trong văn học khu vực Đông Á thời trung đại (trang 24 – trang 55). Chương 3 luận án sẽ đi sâu nghiên cứu đặc trưng truyện truyền kỳ nhìn từ văn hoá tâm linh, như: giới thuyết khái niệm „văn hóa tâm linh‟; Cơ sở hình thành yếu tố tâm linh trong văn hóa và trong truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam; Những biểu hiện của văn hoá tâm linh trong truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam; Ảnh hưởng và tác 6 luan an động văn hoá tâm linh trong truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam; Ý nghĩa của văn hoá tâm linh trong truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam (trang 56 – trang 134). Chương 4 luận án tìm hiểu các kiểu mô-tip thường gặp trong các tác phẩm truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam, như: mô-tip lấy vợ (hoặc chồng) kỳ dị, mô-tip nhân vật chu du trong các cõi không gian tưởng tượng, mô-tip thụ thai thần kỳ, mô-tip chết thần kỳ, mô-tip thần tiên đạo nhân cứu người, trấn áp ma quỷ.; các kiểu kết cấu của truyện truyền kỳ, nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật, nghệ thuật miêu tả thế giới siêu nhiên, không gian và thời gian, yếu tố văn học dân gian được sử dụng trong truyện truyền kỳ (trang 135 – trang 170). Cuối cùng là Kết luận (trang 171 – trang 174) Những công trình của tác giả đã công bố có liên quan đến đề tài luận án (trang 175); Danh mục tài liệu tham khảo (trang 176 – trang 186).

Phụ lục: Bảng thống kê xác lập tiêu chí phân loại truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam (trang 189 – trang 213). 7 luan an Chƣơng 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU TRUYỆN TRUYỀN KỲ TRONG VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM Truyện truyền kỳ trung đại Việt Nam được viết bằng chữ Hán và hiện nay hầu hết đều được dịch sang chữ quốc ngữ. Có những công trình dịch từng tác phẩm truyện truyền kỳ, cũng có những công trình tập hợp các truyện truyền kỳ thành một tuyển tập, hợp tuyển. Và cũng đã có nhiều công trình dịch các tác phẩm truyền kỳ của một số nước đồng văn Đông Á như Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản.

Bên cạnh đó, có nhiều tiểu luận, công trình nghiên cứu các tác phẩm truyện truyền kỳ công bố trên các tạp chí hay xuất bản thành sách. Nhờ thế mà chúng tôi gặp khá nhiều thuận lợi khi triển khai đề tài luận án. Trong các tác phẩm thuộc thể loại truyền kỳ trong văn học trung đại Việt Nam thì tác phẩm Truyền kỳ mạn lục là đỉnh cao của thể loại. Sau đây, xin được tổng thuật lại tình hình sưu tầm, khắc in văn bản tác phẩm, tình hình dịch thuật và nghiên cứu các tác phẩm thuộc thể loại truyền kỳ, mà trọng tâm là tác phẩm Truyền kỳ mạn lục theo ba giai đoạn: từ cuối thế kỷ XIX trở về trước; từ đầu thế kỷ XX đếm năm 1975 và từ sau năm 1975 đến nay như sau: 1.

Từ cuối thế kỉ XIX trở về trƣớc Bản dịch đầu tiên từ chữ Hán sang chữ Nôm (có thêm phần giải âm, tập chú) tác phẩm Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ là bản giải âm của Nguyễn Thế Nghi vào nửa đầu thế kỷ XVI, một người sống cùng thời với Nguyễn Dữ, nhan đề là Truyền kỳ mạn lục giải âm. Từ đó, có thể nói diễn Nôm được xem như là khởi thuỷ, là thượng nguồn của văn học dịch trong lịch sử văn học nước nhà. Bản chữ Nôm này đã được vị giáo sư lão thành Nguyễn Quang Hồng ở Viện Nghiên cứu Hán Nôm phiên âm sang quốc ngữ, đã xuất bản và tái bản. Người giới thiệu, nhận xét đánh giá đầu tiên về Nguyễn Dữ và tác phẩm Truyền kỳ mạn lục là Hà Thiện Hán, một người sống cùng thời với Nguyễn Dữ.

Trong Lời Tựa, Hà Thiện Hán viết vào ngày lành tháng 7 mùa thu năm Vĩnh Định sơ niên (1547), in ở bản Cựu biên Truyền kỳ mạn lục (1712), có nói về Nguyễn Dữ và tập Truyền kỳ 8 luan an mạn lục như sau: “Ông thuở thiếu thời chăm học, đọc rộng nhớ lâu, những muốn lấy văn chương lập nghiệp nhà. Ông vượt qua thi Hương, mấy lần thi đỗ trường thi Hội. Được bổ làm quan Tri huyện Thanh Tuyền, song mới được một năm, liền từ quan về nhà phụng dưỡng mẹ già, cho tròn đạo hiếu. [Từ đó] nhiều năm chân không bén đến nơi thị thành.

Rồi bèn soạn nên tập truyện này, mong ngụ lòng mình trong đó. Xem văn từ của ông, [thấy] không ra ngoài "rào giậu" của Tông Cát [Cù Tông Cát soạn Tiễn đăng tân thoại]. Song [trong đó] có ý khuyên răn, có lời dạy dỗ, thật có can hệ đến giáo hóa ở đời, đâu có phải là chuyện vặt vãnh chắp nhặt tầm thường”. (Nguyên văn: Thiếu cù vu học, bác lãm cường kí, dục dĩ văn chương thế kì gia, việt lĩnh Hương tiến, lũy trúng Hội thí trường.

Tể vu Thanh Tuyền huyện, tài đắc nhất nẫm, từ ấp dưỡng mẫu, dĩ toàn hiếu đạo. Túc bất [đạp] thành thị, phàm kỉ dư sương. Ư thị bút tư lục, dĩ ngụ ý yên. Quan kì văn từ bất xuất Tông Cát phiên li chi ngoại [Cù Tông Cát trước “Tiễn đăng tân thoại”].

Nhiên hữu cảnh giới giả, hữu qui châm giả, kì quan ư thế giáo, khởi tiểu bổ vân.) (Hà Thiện Hán, Tựa Truyền kỳ mạn lục) Vũ Khâm Lân trong bài Phả ký “Bạch vân am tiên sinh Nguyễn công Văn Đạt phả ký” viết vào mùa đông năm Kỷ Hợi (1743), ông đã ngợi khen Truyền kỳ mạn lục là áng “thiên cổ kỳ bút”. Lê Quý Đôn trong Kiến văn tiểu lục đã viết về Nguyễn Dữ:“Ông người xã Đỗ Tùng, huyện Trường Tân, Hải Dương. Cha là Tường Phiêu, đỗ Tiến sĩ khoa Bính Thìn (1496), làm quan Thượng thư bộ Hộ. Nguyễn Dữ lúc còn bé thông minh lanh lợi, xem rộng, nhớ lâu, văn chương có thể nối dõi được gia phong, thi đỗ Hương cống, thi Hội nhiều khoa trúng kì đệ tam, được bổ Tri huyện Thanh Tuyền, làm quan mới được một năm, liền lấy cớ là xa nhà, xin từ chức về nhà hầu cha mẹ.

Sau vì nguỵ Mạc cướp ngôi vua, ông thề không ra làm quan, sống ở thôn quê dạy học trò, không bao giờ để chân đến thành thị. Về phần trứ tác có Truyền kỳ mạn lục 4 quyển, lời lẽ thanh tao tươi đẹp, người bấy giờ lấy làm ngợi khen” [bản dịch, Nxb KHXH, HN, 1977, tr. Bùi Huy Bích trong Hoàng Việt thi tuyển đã dựa vào những bài thơ của các nhân vật làm ra trong các truyện của Truyền kỳ mạn lục mà chép lại, tuyển vào bộ sách của ông và ghi Nguyễn Dữ là tác giả của những bài thơ ấy, tuyển 4 bài với 3 đầu đề, đó là bài số 3 bài số 5 (trong 10 bài) mà Từ Thức đề trên bức bình phong tại nơi ở của Giáng Hương trong truyện Từ Thức lấy vợ Tiên nhan đề “Làm thay Từ Thức đề ở bức 9 luan an bình phong trắng tại nơi ở của nàng tiên Giáng Hương”, một bài trong truyện Cuộc nói chuyện thơ ở Kim Hoa mà Kim Hoa nữ học sĩ Ngô Chi Lan (Nguyễn Hạ Huệ) đề ở núi Vệ Linh, nơi Phù Đổng Thiên Vương bay về trời, với nhan đề “Làm thay nữ học sĩ Kim Hoa đề núi Vệ Linh” và một bài trong truyện Nghiệp oan của Đào thị, với nhan đề “Mây núi, trăng núi” và ghi chú thêm “phỏng theo thơ nhà sư Vô Kỉ cùng nàng Hàn Than ngâm vịnh ở núi Vệ Kì”. Phan Huy Chú trong bộ bách khoa thư Lịch triều hiến chương loại chí, mục Văn tịch chí đã giới thiệu sơ lược như sau: Truyền kỳ mạn lục, 4 quyển.

Dật sĩ Nguyễn Dữ soạn, đại khái bắt chước Tiễn đăng tân thoại của một nhà nho đời Nguyên. Tập này cộng 22 truyện1. Dữ người ở Đỗ Tùng, huyện Gia Phúc, con trai của Tiến sĩ Tường Phiêu [Lịch triều hiến chương loại chí, tập 4, bản dịch, trang 121]. Từ đầu thế kỉ XX đến năm 1975 Về các bản Việt dịch Truyền kỳ mạn lục Bản dịch sang quốc ngữ đầu tiên là bản của Cát Thành.

Ông chọn dịch 12 truyện, do nhà in Thạch Thái Bưởi ở Hà Nội xuất bản năm 1912, đó là: Khoái Châu nghĩa phụ truyện, Mộc miên thụ truyện, Tây viên kỳ ngộ ký, Đà Giang dạ ẩm ký, Từ Thức tiên hôn lục, Đông Triều phế tự lục, Long đình đối tụng lục, Phạm Tử Hư du Thiên tào lục, Tản Viên từ Phán sự lục, Dạ Xoa bộ suý lục, Nam Xang nữ tử truyện, Đào thị nghiệp oan ký. Trúc Khê Ngô Văn Triện dịch đầy đủ tác phẩm Truyền kỳ mạn lục, bản dịch công bố lần đầu vào năm 1935. Tiếp theo bản dịch này lại được công bố trên Phổ thông bán nguyệt san, số 124, số 125 tháng 2-1943 và số 126, tháng 3-1943. Sau đó được Nxb Tân Việt, Sài Gòn, in lại năm 1952, rồi được tái bản nhiều lần vào các năm 1957 bởi Nxb Văn hoá; năm 1971 bởi Nxb Văn học; và năm 1989 bởi Nxb Trẻ Tp HCM phối hợp với Hội Nghiên cứu và Giảng dạy Văn học TP.

Có thể nói bản dịch của Trúc Khê là bản dịch được các nhà nghiên cứu và độc giả đánh giá là bản dịch tốt nhất, được lưu hành rộng rãi nhất, được sách giáo khoa và giáo trình các cấp học dùng làm văn bản để giảng dạy. 1 Chỗ này thì cụ Phan Huy Chú ghi nhầm, thực tế Truyền kỳ mạn lục chỉ có 20 truyện, gồm 4 quyển, mỗi quyển chép 5 truyện. 10 luan an Lê Huy Hạp đã dịch truyện Người thiếu phụ Nam Xương và một số truyện truyền kỳ khác sang tiếng Anh: The Lady of Nam Xương and Other Vietnamses Legends, nhà in Phan Thanh Giản, Sài Gòn, 1957. Cũng tại Sài Gòn, Thứ Lang Bùi Xuân Trang dịch Tân biên Truyền kỳ mạn lục làm 2 quyển, quyển thượng in năm 1962; quyển hạ in năm 1963, do Bộ Quốc gia Giáo dục xuất bản, sau đó tái bản năm 1970.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Luận án tiến sĩ mang tên "Luận án tiến sĩ về truyện truyền kỳ Việt Nam thời trung đại: Diện mạo và đặc trưng nghệ thuật" của tác giả Lê Dương Khắc Minh, dưới sự hướng dẫn của PGS. Nguyễn Công Lý, được thực hiện tại Học viện Khoa học Xã hội vào năm 2020. Bài viết tập trung vào việc nghiên cứu các đặc trưng nghệ thuật và diện mạo của truyện truyền kỳ Việt Nam trong thời kỳ trung đại, từ đó làm nổi bật giá trị văn hóa và nghệ thuật của thể loại này. Độc giả sẽ tìm thấy những phân tích sâu sắc về cấu trúc, nội dung và phong cách nghệ thuật, giúp mở rộng hiểu biết về văn học Việt Nam trong bối cảnh lịch sử và văn hóa.

Để khám phá thêm về các khía cạnh liên quan đến lý luận văn học và nghệ thuật trong văn học Việt Nam, bạn có thể tham khảo các tài liệu sau: Giáo Trình Lí Luận Văn Học: Tác Phẩm Văn Học Đặc Sắc, nơi cung cấp cái nhìn tổng quan về các tác phẩm văn học nổi bật, và Khám Phá Nghệ Thuật Trong Truyện Ngắn Của Võ Hồng, giúp bạn hiểu rõ hơn về nghệ thuật trong các tác phẩm văn học Việt Nam. Ngoài ra, Tư tưởng lý luận phê bình văn học của Kim Thánh Thán và sự tiếp nhận tại Việt Nam cũng là một tài liệu hữu ích để mở rộng kiến thức về lý luận văn học trong nước. Những tài liệu này sẽ giúp bạn có cái nhìn sâu sắc hơn về văn học Việt Nam và các đặc trưng nghệ thuật của nó.