Mở đầu: Giới thuyết chung. Các tác gia Hán Nôm Hƣng Yên giai đoạn 1884 – 1919 và những đánh giá chung. Chƣơng 2 Các tác gia Hán Nôm Hƣng Yên gia đoạn 1884 -1919 thông qua nghiên cứu đại diện. Phụ lục 8 z CHƢƠNG 1 CÁC TÁC GIA HÁN NÔM HƢNG YÊN GIAI ĐOẠN 1884 – 1919 VÀ NHỮNG ĐÁNH GIÁ CHUNG 1.1 Địa bàn Hƣng Yên xƣa và địa bàn Hƣng Yên nay Về địa lý tỉnh Hƣng Yên xƣa theo Đại Nam nhất thống chí thì đông tây cách nhau 43 dặm, nam bắc cách nhau 39 dặm.
Phía đông giáp huyện Quỳnh Côi tỉnh Nam Định, phía tây giáp sông Nhị hà, đối ngạn với huyện Nam Xang và Phú Xuyên tỉnh Hà Nội; phía bắc giáp huyện Đƣờng Hào tỉnh Hải Dƣơng, phía đông nam giáp huyện Thƣ Trì tỉnh Nam Định, phía đông giáp huyện Thanh Miện Hải Dƣơng. Nguyên trƣớc đây là đất của hai lộ Sơn Nam thƣợng và Sơn Nam hạ. Đời Hán thuộc đất Giao Chỉ, có lẽ là đất huyện Chu Diên; đời Lƣơng đặt là quận Vũ Bình, đời Tuỳ bỏ, đến đời Đƣờng đặt làm châu Diên, lại đặt hai huyện An Định và Cao Lăng thuộc châu Diên. Đến đầu đời Ngô nƣớc ta thì đổi là châu Đằng, đời Tiền Lý đổi là phủ Thái Bình, đời Lý Cao Tông đổi là Đằng Châu, Khoái Châu.
Nhà Trần (1225-1400): Năm 1229 nhà Trần đổi 24 lộ thời Lý thành 12 lộ, Hƣng Yên thuộc Khoái Lộ. Tháng 4 năm 1297, nhà Trần lại tiếp tục đổi các lộ, phủ, thành, trấn; vùng đất Hƣng Yên thuộc Thiên Trƣờng phủ lộ. Nhà Hồ-Trần kháng chiến chống quân Minh (1407- 1413): Tháng 6 năm 1407 nhà Minh đổi An Nam thành Giao Chỉ, lập thành 17 phủ, vùng Hƣng Yên thuộc phủ Kiến Xƣơng. Thời kỳ đấu tranh chống nhà Minh (1414-1427): Vùng Hƣng Yên vẫn thuộc phủ Kiến Xƣơng.
9 z Năm 1426, khi tiến quân ra Đông Đô, Lê Lợi chia nƣớc ta làm 4 đạo, Hƣng Yên thuộc Nam đạo. Thời Lê sơ (1428-1527): Tháng 6/1466 (tức năm Quang Thuận thứ 7), Lê Thánh Tông chia nƣớc ta làm 12 đạo thừa tuyên, Hƣng Yên thuộc thừa tuyên Thiên Trƣờng. Tháng 3/1469 (tức năm Quang Thuận thứ 10), năm đầu tiên nhà nƣớc định bản đồ, Thiên Trƣờng lại đổi là Sơn Nam quản 11 phủ, 42 huyện, phủ Khoái Châu quản 5 huyện gồm Đông Yên, Tiên Lữ, Kim Động, Phù Dung, Thiên Thi; phủ Tiên Hƣng quản 4 huyện gồm Ngự Thiên, Duyên Hà, Thần Khê, Thanh Lan. Tháng 4/1490 (năm Hồng Đức thứ 21), nƣớc ta đƣợc chia làm 13 xứ, Hƣng Yên thuộc xứ Sơn Nam.
Nhà Mạc (1527-1533): Tháng 6 năm 1527, nhà Mạc (Đăng Dung) đem các lộ của Khoái Châu thuộc vào Hải Dƣơng. Thời Hậu Lê (Lê-Trịnh, 1533-1788): Nhà Lê lại đổi lại nhƣ cũ. Bản đồ Hƣng Yên năm 1740 10 z Năm Cảnh Hƣng thứ 2 (1741) tháng giêng: Nhà Lê chia Sơn Nam thành 2 lộ Sơn Nam thƣợng và Sơn Nam hạ, phủ Khoái Châu thuộc lộ Sơn Nam thƣợng, phủ Tiên Hƣng thuộc Sơn Nam hạ. Nhà Tây Sơn (1778-1802): Hai phủ Sơn Nam thƣợng và Sơn Nam hạ đƣợc đổi lại làm 2 trấn Sơn Nam thƣợng và Sơn Nam hạ.
Năm Minh Mạng thứ ba 1822, trấn Sơn Nam thƣợng đổi là trấn Sơn Nam, trấn Sơn Nam hạ đổi là trấn Nam Định. Năm Minh Mạng thứ 12 (tháng 10/1831): Minh Mạng tiến hành một cuộc cải cách hành chính địa phƣơng, xóa bỏ các tổng trấn, đổi các dinh trấn thành tỉnh, chia cả nƣớc thành 30 tỉnh, trong đó có tỉnh Hƣng Yên. Các trấn phía Bắc đƣợc đổi thành 18 tỉnh, dƣới tỉnh là phủ, huyện, châu và tổng, xã. Tỉnh Hƣng Yên có phủ Khoái Châu và 5 huyện (Đông An, Kim Động, Thiên Thi, Phù Dung, Tiên Lữ).
Cải tổ lại hệ thống các quan lại đứng đầu tỉnh, bỏ các chức cũ mà đặt mới nhƣ Tổng đốc, Tuần phủ, Bố chính, Án sát, Lãnh binh ở các tỉnh. Sau nhiều lần thay đổi, mỗi triều đại đều có cải cách, canh tân bộ máy hành chính từ Trung ƣơng đến cơ sở cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử và thuận bề cho việc cai trị, điều hành. Cuối tháng 2 đầu tháng 3/1890 thực dân Pháp thành lập đạo Bãi Sậy gồm 4 huyện Văn Lâm, Cẩm Lƣơng, Yên Mỹ và Mỹ Hào. 11 z Năm 1891 thực dân Pháp lại bỏ đạo Bãi Sậy, đƣa các huyện Văn Lâm, Yên Mỹ, Mỹ Hào vào Hƣng Yên.
Ngày 28/11/1894 chính quyền thực dân cắt hai huyện Hƣng Nhân và Duyên Hà của Hƣng Yên về Thái Bình. Năm 1945 sau khi giành đƣợc chính quyền, tỉnh Hƣng Yên gồm có các huyện: Khoái Châu, Mỹ Hào, Tiên Lữ, Kim Động, Ân Thi, Phù Cừ, Văn Lâm, Yên Mỹ. Đầu năm 1947 huyện Văn Giang chuyển về Hƣng Yên, Hƣng Yên chính thức có 1 thị xã và 9 huyện. Giữa tháng 11/1967 Hội đồng nhân dân tỉnh Hƣng Yên họp phiên bất thƣờng, bàn chuẩn bị việc hợp nhất hai tỉnh Hƣng Yên và Hải Dƣơng.
Hội nghị ra Nghị quyết đề nghị Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội cho hợp nhất hai tỉnh lấy tên là tỉnh Hải Hƣng. Ngày 6/11/1996 Quốc hội khóa IX, kỳ họp thứ 10 phê chuẩn việc phân chia lại địa giới hành chính tỉnh. Hải Hƣng đƣợc tách ra làm hai tỉnh; Hƣng Yên và Hải Dƣơng. Tỉnh Hƣng Yên có diện tích tự nhiên là 923,09km2, dân số 1.517 ngƣời, gồm 6 đơn vị hành chính cấp huyện: thị xã Hƣng Yên, Mỹ Văn, Châu Giang, Phù Tiên, Ân Thi, Kim Động.
Vị trí địa lý, phía bắc giáp tỉnh Bắc Ninh và thủ đô Hà Nội; phía đông giáp tỉnh Hải Dƣơng; phía Nam giáp tỉnh Thái Bình và Hà Nam; phía tây giáp tỉnh Hà Nam, và thủ đô Hà Nội. Tháng 5/ 1998 chia lại một số huyện trên địa bàn tỉnh huyện Mỹ Văn thành ba huyện Văn Lâm, Yên Mỹ, Mỹ Hào. Huyện Châu giang thành hai 12 z huyện Khoái Châu và Văn Giang. Huyện Phù Tiên chia thành huyện Phù Cừ và Tiên Lữ.
Từ đây, tỉnh Hƣng Yên có 10 huyện và thị xã. Trong đề tài này, chúng tôi lấy tỉnh Hƣng Yên đƣợc phân chia sau năm 1998 để nghiên cứu về các tác gia và tác phẩm giai đoạn 1884 - 1919.2 Khảo sát các tác gia và tác phẩm Hán Nôm Hƣng Yên 1.1 Tác gia Hán Nôm Hưng Yên theo lịch đại Là một tỉnh nằm giữa đồng bằng Sông Hồng, Hƣng Yên có truyền thống vẻ vang trong lao động sản xuất, chống chọi với thiên tai và chống giặc ngoại xâm, lịch sử Phố Hiến – Hƣng Yên đã qua nhiều phen biến đổi thăng trầm. Ngƣời ta biết đến Phố Hiến nhƣ một vùng đất văn hoá nhƣng cần khẳng định thêm về truyền thống hiếu học, vẻ đẹp văn học ở vùng quê này…. Tuy nhiên, thời kì hƣng thịnh xƣa kia đã qua, những gì còn lại chỉ đƣợc lƣu giữ trong các trang viết của những nhân sĩ đƣơng thời.
Có một điều mà tất cả các nhà nghiên cứu văn học sử đều thừa nhận. Trên bầu trời văn học Việt Nam, trong mọi thời đại, mảnh đất Hƣng Yên bao giờ cũng góp mặt những ngôi sao sáng nhất làm cho bầu trời văn học càng thêm lung linh và ẩn chứa vẻ diệu kỳ. Tính từ thế kỉ X đến nửa cuối thế kỉ XIX nền văn học Hán – Nôm trên mảnh đất Phố Hiến đã góp mặt vào làng Nho Việt Nam những tên tuổi lớn. Thời Lý – Trần đất Hƣng Yên thuộc Đằng Châu, lộ Long Hƣng và lộ Khoái văn học thời kỳ này phát triển hết sức đa dạng, bao trùm lên cả thời kỳ này là tƣ tƣởng Phật giáo khá đậm nét, ngƣời đầu tiên có thể kể đến lF Nguyên phi Ỷ Lan, Đỗ Thế Diên và một số tác gia vô danh khác.
13 z Sang đến đời Trần thì văn học ở đây rực rỡ hơn, lúc này các tác gia xuất hiện ngày càng nhiều, những gƣơng mặt nổi bật nhất có thể kể đến Nguyễn Trung Ngạn, Phạm Ngũ Lão. Đến thời Lê các tác gia Hƣng Yên xuất hiện với số lƣợng lớn. Những gƣơng mặt tiêu biểu của thời kỳ này có thể kể đến Hoàng Bình Chính, Hoàng Công Chí, Phan Phu Tiên, Vƣơng Sƣ Bá, Phạm Công Trứ, Đào Công Soạn, Đào Nghiễm, Trình Phong, Đoàn Thị Điểm, Lê Hữu Danh, Lê Hữu Kiều, Lê Hữu Trác, Lê Tô, Bùi Trí Dĩnh, Vũ Lãm, Trƣơng Thị Ngọc Chử. Thời Mạc Hƣng Yên không những xuất hiện nhiều nhà khoa bảng đỗ trạng nguyên ( Dƣơng Phúc Tƣ, Đỗ Tông, Nguyễn Kỳ) mà còn là thời kỳ xuất hiện nhiều tác gia có những tác phẩm lớn nhƣ Dƣơng Phúc Tƣ, Đỗ Nhân, Nguyễn Phúc Chiêu, Lê Tuấn Ngạn, Đào Công Soạn, Trình Phong.
Sang đến thời Nguyễn, các tác gia Hán Nôm đồng loạt xuất hiện với nhiều thành phần, địa vị khác nhau. Nhƣng tựu chung lại, họ đều là những cây bút xuất sắc nhƣ Hoàng Công Bảo, Nguyễn Hữu Đức, Nguyễn Khắc Trạch, Bùi Thực, Hoàng Văn Mỹ, Nguyễn Đình Tố, Trần Tú Dĩnh, Nguyễn Thiện Thuật, Nguyễn Thạc Chi, Phạm Đình Trạc, Phạm Sĩ Ái, Phạm Văn Thụ, Bùi Ngọc Quỹ, Lê Cù, Chu Mạnh Trinh, Dƣơng Bá Trạc Nguyễn Gia Cát, Nguyễn Hành, Nguyễn Tuỵ Trân, Nguyễn Văn San, Phan Văn Ái, Tô Nha, Tô Ngọc Huyễn, Ngô Quang Huy… Với tập hợp của hơn 70 tác gia qua các thời kỳ, phần nào cho chúng ta thấy đƣợc tập hợp đa dạng của các văn nhân trên mảnh đất Hƣng Yên. Tuy thế, những tác gia có tầm ảnh hƣởng lớn đến xã hội cũng nhƣ đến nhận thức văn chƣơng trong thời gian tác gia đó sống lại chƣa đƣợc tìm hiểu và nghiên cứu nhiều. Nhƣng dẫu sao, họ đã tác động lớn đến diện mạo văn học trên đất 14 z Phố Hiến và tạo nên bƣớc chuyển mình mới so với nhiều vùng quê khác.
Họ là những con ngƣời cả đời cống hiến cho một lý tƣởng cao đẹp mà mình theo đuổi, ngƣời thích thú với cảnh điền viên, ngƣời lại vui với thú sách đèn, ngƣời lại hăng say với sự nghiệp cách mạng, cho sự nghiệp chung của toàn dân tộc, ngƣời lại bận rộn với con đƣờng quan nghiệp và tƣ tƣởng của họ đã trƣờng tồn, áng văn thơ của họ đã làm nên những tiếng vang lớn trong trào lƣu cứu quốc, giải phóng dân tộc và họ đã trở thành niềm tự hào cho mảnh đất Phố Hiến xƣa và Hƣng Yên nay.2 Tác phẩm Hán Nôm Hưng Yên theo lịch đại Với số lƣợng các tác gia lớn nhƣ vậy, phần nào chúng ta cũng mƣờng tƣợng ra đƣợc số lƣợng tác phẩm Hán Nôm có trên mảnh đất Hƣng Yên. Trải qua những biến cố của lịch sử và sự phá hoại của thiên nhiên, những tác phẩm Hán Nôm trên đất Hƣng Yên đã bị thất lạc nhiều. Dù đã đƣợc lƣu tâm sƣu tầm, khai thác và bảo quản trong một vài năm gần đây thì sự mai một, thất truyền cũng khó tránh khỏi.