CHƯƠNG 1. NHUNG VAN DE CHUNG wescssssssssssssssesessssssseeessessnssesesesssens 20 Hl, AGRiNiEnive'“0DIEU(TOHE cea sscesscesseessncesscessuecssncaesstssesnscatsscnemeessecieeaiss 20 1. Cách hiểu về "biểu tượng” trong sáng tác của Diém Liên Khoa. Anh hưởng từ truyền thong văn học Trung Quốc.
Chi phối bởi Chủ nghĩa thần thực. BIEU TƯỢNG NƯỚC TRONG TIỂU THUYET ĐĨNH TRANG MONG VÀ TỦ THU scscscessvsosessesesvecsssssessvcsvsesesvavesvssissnsesine 42 2. Nước và hiểu về nước trong tâm thức nhân loai. Dòng nước tự nhiên — dong sinh và dòng tử.
Dòng nước trong văn học Trung Hoa. Nước — truyền thống va phái sinh trong sáng tác của Diém Liên Khoa. Muon “nước tinh” làm nôi bật “nhân tính`”. Dau ấn sáng tạo của nhà văn.- 2s ©zscsz+rxrxxersecvzrrsrrsrrsee 59 CHƯƠNG 3.
BIEU TƯỢNG MONG TRONG TIỂU THUYET DINE TRANG MONG VÀ TỪ THU scssscssssscssossscavesscssvesssescasessoessasssaversessse 73 3. Mộng và hiểu về mộng trong tâm thức nhân loại. Những hình dung về giấc M0. Giấc mộng trong văn học Trung Hoa.
Mộng - truyền thong và phái sinh trong sáng tác của Diêm Liên Khoa. ca co 0000000060002 00 00 và 79 3. Mộng truyền thống. s5 cuc tt rxrrtrerrrrterrriee 79 5:2.
MÔNG phải SINI;::s::si:2iiisiiiniiciiiitiitiiiititiiiii211210211312402262516952984023533832 83 KẾT LH ẤN ossisssscsiscsisiasccssscstniscraeareainaninaecninnnnnenmnnanmnmnienaese 101 TATELIEUDTHATM KH du ÝỸÝ ra aÝỷanỶŸ-Ÿ-ỷaaaaaaanaỷse 103 PHƯLHE. BANG KHAO SÁT BIÊU TƯỢNG TRONG TIEU THUYET ĐINH TRANG MONG VÀ TU THU vccccccccscssescscssssveresescssescesssesvercncacseverenenes 109 PHAN B. TRÍCH NGUYEN VĂN TAILIEU THAM KHAO NƯỚC NGOÀI MỞ ĐÀU 0. Lí do chọn đề tài 0.
Trung Quốc vào khoảng 10 năm Văn cách (1966 — 1976) đã ghi nhận hàng loạt những sự kiện trải dài từ chính trị, xã hội đến văn hóa. Tất cả những điều đó đã đây tình trạng Trung Quốc nói chung và giới văn nghệ sĩ nói riêng vào tình cảnh “nhân tâm ly tán, lòng tin sụp đổ" (Trần Lê Hoa Tranh, 2010, tr. “chết sặc trong vững bùn giá đối" (Nguyễn Thị Tịnh Thy, 2021, tr. Có thé xem các sự kiện đó như những "cú đánh” mạnh mẽ, đánh dấu bước ngoặt quan trọng trong lịch sử văn học quốc gia này.
Phải đến năm 1979, sau cuộc “hội sư” của Đại hội nhà văn Trung Quốc. mới thấy được sự khởi sắc, hỏi sinh ở thời ki văn học tiếp nối, từ thé loại đến dé tải và cả lực lượng sáng tác cũng phát triển rực rỡ chưa từng thấy, Ngoài ra, qúa trình ay còn được ghi nhận với sự xuất hiện hàng loạt các trào lưu văn học, chăng hạn: “thương chan”, “tiên phong”, “tam can”, “phan tư”. với đặc điểm: vừa tái hiện bản sắc truyền thống vốn có, vừa sử dụng hiệu quả các thủ pháp nghệ thuật, tư tưởng thâm mỹ phương Tây. Điều này đã góp phần tạo dựng vị thế của nền văn học của quốc gia tỉ dân trên văn đàn the giới Ở thời điểm hiện tại, với hàng loạt các giải thướng: Nobel (Cao Hành Kiện, Mạc Ngôn), Franz Kafka (Điêm Liên Khoa),.
Can cứ trên những sự kiện, sự ghi nhận đó, chúng tôi nhận thay những sáng tác văn học lấy cứ liệu xoay quanh mảng lịch sử này đáng lưu tâm nghiên cứu. Diễm Liên Khoa là một trong số những nhà văn có xuất phát điểm trong việc khai thác chất liệu từ những thời kì lịch sử ay. Ong van sử dụng thao tác này cho đến những tác pham ở giai đoạn sáng tác sau (Dinh trang mộng, Phong nhã tung, Tứ thư, Kiên ngạnh như thity,. Sở hữu trong mình những trải nghiệm đau thương trong các nghịch cảnh, nhà van đã mạnh dạn lựa chọn thái độ dam ' Xem thêm số liệu thực tế trong công trình: Hồ Si Hiệp.
Một số vấn dé văn học đương đại Trung Quốc. NXB Tông hợp Đồng Nai. đương đầu, đám nêu bật, dám bảy tỏ trong quan niệm nghệ thuật của mình. Điều này cũng định hình cho phong cách sáng tác đậm đặc sắc thái “kiên nhẫn nhưng vô cùng tàn nhẫn" của Diêm Liên Khoa.
Hơn thé nữa, các tác phâm nêu trên cũng gây được tiếng vang lớn trong văn học khu vực nói chung, đồng thời cũng là các tiểu thuyết được lí giải đưới nhiều góc độ khác nhau (ngôn ngữ. hình tượng nhân vật, lí luận văn học, tâm lí hoc,. Vì vậy, có thê xem Diêm Liên Khoa như là một hiện tượng văn học cần nhiều kiến giải và đóng góp về mặt khoa học. Tiếp cận tác phâm văn học từ góc độ biéu tượng là hướng nghiên cứu không xa lạ nhưng lại giàu tiềm năng trong việc khai thác, giải mã, kiến tạo nghĩa cho văn bản.
Các công trình có liên quan đến tác giả, tác phẩm Diêm Liên Khoa chưa sử dụng đến hướng đi này như một công cụ đắc dụng trong việc kiến giải các mã văn hóa an tang, tư duy nghệ thuật của nha văn, minh triết của tác phẩm. Vì vậy, trong khuôn khô khóa luận tốt nghiệp (chuyên ngành Sư phạm Ngữ Văn), chúng tôi cho rằng đây là hướng tiếp cận phù hợp, như là tiền dé quan trọng dé phát trién hành trình nghiên cứu vẻ tác giả. Từ kết quả của việc tìm hiểu về việc tiếp nhận Diêm Liên Khoa, ở Trung Quốc và Việt Nam hiện nay, chúng tôi nhận thấy van dé sau: sự *kiêm duyệt" và “ty kiểm duyét” về mặt nội dung của các tiêu thuyết mà ông sáng tác ở quê nha, đã phan nao tạo ra sự li tán, tách Diêm Liên Khoa ra khỏi quỹ đạo văn chương vốn có của nó. Chính vì vậy, tiếp nhận tác giả này ở cả Trung Quốc va Việt Nam déu có những hạn chế nhất định: những tác phẩm được lưu hành ở Trung Quốc là phiên ban lược bó rat nhiều dé phù hợp với tiêu chí đánh giá xuất bản, trong khi đó ớ Việt Nam là những tác phẩm hoàn chỉnh, không trải qua lược bỏ từ tác giả nhưng lại tồn tại dưới dạng bản dịch.
Day có thé xem là điểm thú vị, thôi thúc chúng tôi nghiên cứu vẻ tác giả Diêm Liên Khoa. Nw Tổng hòa những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đẻ tài: * Ý nghĩa một số biểu tượng nghệ thuật trong sáng tác của Diém Liên Khoa (trưòng hợp Dinh trang mộng và Tứ thu)” đề góp phan lí giải sức hap dẫn của các tác pham được thê hiện qua các biêu tượng, cũng như tư duy nghệ thuật, phong cách sáng tác của nhà văn. Lịch sử nghiên cứu vẫn đề Như đã đề cập, nghiên cứu về tác giả Diêm Liên Khoa và các tác phẩm của ông trải dai trên nhiều lĩnh vực. Trong phạm vi dé tài va khả năng đọc tư liệu, chúng tôi nhận thấy được một số công trình có liên quan đến góc nhìn biểu tượng và biêu tượng trong tiểu thuyết của Diêm Liên Khoa.
Lịch sử nghiên cứu trong nước - Nhằm đưa ra cách hiéu cụ thê về biéu tượng trong khóa luận, trước hết chúng tôi có sự tham khảo, đối chiếu với các cách hiệu khái quát được ghi nhận ở các lĩnh vực: Ngôn ngữ học, Triết học, Văn hóa học, Tâm lí học (các lĩnh vực có sự giao thoa với văn học). Ngoài ra, nhằm đưa ra cách hiệu đắc dụng nhất (cách hiểu về biểu tượng của C. Jung), chúng tôi cũng có sự so sánh, đối chiều lẫn nhau giữa các lí thuyết ở các công trình. - Trong lời bạt của dịch giả Minh Thương được in trong bản dich Dinh trang mộng (2019), nhà nghiên cứu đã giới thiệu khái quát về tiền trình truyện, bộ khung truyện, từ đó cung cấp cho chúng tôi một số ý niệm cơ bản vẻ biểu tượng có sức ám ảnh trong tác phẩm: mộng là biểu tượng gây sự ám ảnh (sự kết hợp với biéu tượng máu — biêu tượng mau đỏ), mộng là công cụ dé nhà văn bước vào tưởng tượng.
Từ đó tác giả cũng đưa ra nhận định về sự tương tác giữa thực và mộng (cũng là van đề mà chúng tôi tiếp thu và lí giải sâu hơn trong khóa luận): “Hai dong mach thực va mong dan xen tạo nên một thé giới trùng phức da tấn g`” (Diem Liên Khoa, Minh Thương dịch, 2019, tr. w - — Ngoài ra, dịch giả Châu Hải Đường trong bản dich Tir thir (2019) cũng chi ra các phạm trù đối nghịch nhau xuất hiện trong tác phẩm”: phàm phu (ham lợi)- kẻ sĩ (háo danh), cam thú (tự hạ bệ) - thánh than (tự tan phong), (cực) thiện — (tận) ác, thiên đường — địa ngục (dao loạn); va dịch gia cũng khái quát ngắn gọn tính than “than thực” — một đặc trưng sáng tác của Diêm Liên Khoa: sử dụng thần thoại và Kinh Thánh làm chất liệu, kết hợp với tính chất siêu thực, hoang đường trong giọng kê. Tất cả những phát hiện về các phạm trù và đặc trưng sáng tác trên đều được chúng tôi vận dụng vào việc phân tích nghệ thuật sử dụng biểu tượng của nhà văn. - _ Nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Mai Chanh trong bai báo khoa học “Ba tác gia lớn của Văn học đương đại Trung Quốc thời kì sau cải cách mở cura” (2019) đã xem xét thành tựu của văn học đương đại Trung Quốc dựa trên số liệu về sự đóng góp (giải thưởng) va sự đối thoại trong văn chương (phương thức nghệ thuật) của ba nhà văn có cùng đặc điểm sáng tác, là: Cao Hành Kiện, Mạc Ngôn và Diêm Liên Khoa với nhận định: “Với cái nhìn cay đẳng, thấu hiểu quá khứ của lịch sứ dân tộc minh, họ không ngân ngại khai thác “những cái cần quên di” để cứu vớt hiện tai”.
Van đề được gợi ra từ nhận xét này là một điểm đáng lưu ý đề chúng tôi làm căn cứ nhằm xác lập những đánh giá về ý nghĩa biểu tượng của nhà văn Diễm Liên Khoa. - Trong luận án Tién sĩ “Nghé thuật tiểu thuyết Diêm Liên Khoa" (2019), nhà nghiên cứu Nguyễn Thị Thúy Hạnh đã dựa trên lý thuyết tự sự học và thi pháp học dé làm sáng rõ các van dé: chủ nghĩa than thực, kĩ thuật tự sự, diễn > Nhận định được in trên bìa của tác phẩm Tứ thie (2019) ngôn tự sự và ngôn ngữ tiểu thuyết. Trong đó, chúng tôi đựa vào chủ yếu các kết quả vẻ dịch thuật. sự đánh giá về cách hiểu, đặc trưng cơ bản và đóng góp về mặt lí thuyết của “chi nghĩa thần thực”, cũng như kĩ thuật *mộng như một tự sự” ma nhà nghiên cứu đã chỉ ra, nhằm bồ trợ cho cách hiểu về biêu tượng trong khuôn khô khóa luận.
cụ thê: Từ kết quả phân tích, đánh giá về chủ nghĩa thần thực, chúng tôi vận dung thao tác so sánh, đặt trào lưu “than thực` trong các trào lưu khác có liên quan (chủ nghĩa hiện thực — xuất phát điểm của nhà văn; chủ nghĩa hiện thực huyền ảo — quan điểm thường được đem ra đối sánh với trao lưu “thần thực”) dé chỉ ra sự khu biệt nhất định, và sự liên kết giữa cách hiểu vẻ “thần thực” và cách hiểu biéu tượng; Đồng thời.