mở đầu như một sự ngập ngừng, phép lặng giữa dòng tho dan ta đi theo miền hồi tưởng về hình tượng cây tre từ trong quá khứ xa xăm đến hiện tại. Tứ thơ di dan vào chiều sâu suy tưởng của triết li dân gian: (Mặc dù) thdn gầy guộc, lá mong manh; (nhưng vẫn) nên lũy nên thành; ít. nhiều (mỡ màu ít chat dồn lâu hóa nhiều); bao nhiêu. Đây là những câu thơ có phương thức tư duy 20 tương đồng với rất nhiều thành ngữ, tục ngữ, ca dao: Mua lâu thấm dat; Năng nhặt chặt bị; (dinh/cau.
Những lời nói cửa miệng dân gian (ca dao, tục ngữ, thành ngữ) xuất hiện một cách tự nhiên làm cho câu thơ lục bát quyện hòa hai sắc thái: tính triết lí nhân sinh (trong cảm hứng của tục ngữ, thành ngữ) và chất trữ tình đằm thắm (trong thi hứng của giai điệu ca dao). Nếu thiết lập quan hệ liên tưởng giữa câu thơ lục bát trong bài với ngôn từ dân gian ta sẽ thấy một hiện tượng tương đồng, tương sinh: Thành ngữ: Lá lành dum lá rách; chị ngã em nâng. Câu thơ lục bát: Bao bùng thân bọc lấy thân - Tay ôm tay níu tre gan nhau thêm Ca dao, tục ngữ: Mot cây làm chẳng nên non.; Ba người dai hợp lại thành một người khôn. Câu tho lục bát: Thuong nhau tre không ở riêng - Lũy thành từ đó mà nên hỡi người Thành ngữ: Nhường cơm sẻ áo; một nắng hai sương.
Câu tho lục bát: Lung tran phơi nắng phơi sương - Có manh áo cộc tre nhường cho con Thành ngữ, tục ngữ: Giỏ nhà ai quai nhà nấy; cha nào con nấy. Câu thơ lục bát: Măng non là búp măng non - Đã mang dáng thắng thân tròn cua tre Kết thúc tứ tho là một thành ngữ nguyên dang (chứng tỏ quan hệ liên tưởng giữa lục bát và ca đao trong bài thơ là có thực) được bố trí song hành với về đầu câu thơ mang chức năng gợi mở van đề: Năm qua di tháng qua di - Tre già măng mọc có gì lạ đâu. Câu trúc ngữ nghĩa theo hướng nay thé hiện rõ nét kiểu tu duy triết luận của một xu hướng mới trong thi ca hiện đại. Câu thơ đã đạt đến độ hoàn mi cao: sự biến nhịp thé loại được cộng hưởng bởi nghĩa của từ (năm.) tao ra ý nghĩa liệt kê tăng cấp.
Năm qua di rồi tháng qua di, thời gian vĩnh hang trong sự vận động tuân hoàn kéo theo sự vĩnh hăng của tre, đê Mai sau. Dat xanh tre mãi xanh màu tre xanh. Lớp trước già đi, lớp sau thay thé, cho ngàn vạn mai sau tre vẫn phủ màu xanh lên đất nước này. Với một 36 lượng lớn thành ngữ, tục ngữ dan gian được sử dung dưới hình thức cau tạo lại, đến lượt nó, các dòng thơ bị "dong hóa” dé trở thành những thành ngữ, tục ngữ hiện đại.
Đây thực sự là một “cuộc sinh hạ” ngôn từ có “tinh di truyền " đạt mức cực đại trong một bài thơ. Điều đó khiến cho nó trở thành độc đáo. Qua đây chúng ta thấy rằng khi đánh giá một bài thơ lục bát, ta không thể xem xét hai mặt ngữ âm - ngữ nghĩa một cách tách rời. Về điểm này Đỗ Đức Hiểu cũng đã nhận định: "tac phẩm văn học là một hệ thống ki hiệu lông vào nhau, văn bản di động trên nhiều bình diện, chồng chất nhiều hệ thong đan chéo nhau (âm thanh, cu pháp, ngữ nghĩa.
Tho là một cau trúc ngôn từ trùng điệp” [50, 46]. Các hệ thống, bình diện trong thơ liên kết với nhau bằng những mối quan hệ đa chiều và giá trị của mỗi thành tố cũng được sản sinh từ những mối liên hệ ấy. Điều này còn cho phép ta đi đến một hệ luận khác nữa: khai thác một bình diện, yếu tố nào đó của ngôn ngữ tác phẩm thi ca cũng không thể tách chúng ra khỏi hệ thống mà phải xem xét chúng trên các mối quan hệ khách quan dé cuối cùng trả chúng về hệ thống. Ngôn ngữ thơ trong vận động tạo lập đặc trưng thể loại Đặc trưng thể loại quy định đặc trưng ngôn ngữ.
Vì vậy sự vận động tạo thê giúp ta hiểu thêm về đặc điểm ngôn ngữ của một thé thơ nào đó. Khi nắm được cơ chế tạo thể của thơ, ta có thể biến một bài thơ nào đó từ thể này sang thể khác thông qua các thao tác lựa chọn và kết hợp. Hình thức cuối cùng của tác phẩm là tam gương phản chiếu tư duy mĩ cảm - ngôn ngữ của chủ thé sáng tạo. Bùi Văn Nguyên và Hà Minh Đức là hai trong số rất ít tác giả đã đưa ra vài nét lớn về đặc điểm ngôn ngữ quy định đặc trưng cảm xúc thi ca trong các thê thơ tiếng Việt.
Tuy nhiên hai tác giả này chưa đi sâu phân tích các biểu hiện có tính quy luật của ngôn ngữ trong các thé thơ và quy luật vận động tao thé trong quá trình sáng tác của nhà thơ. Trong chuyên luận Ngồn ngữ tho, Nguyễn Phan Cảnh đã nói về trong nét dư của mỗi câu thơ và cơ chế ngâm thơ. Phát hiện này cho phép ta hiểu được cách 22 thức vận động của ngôn ngữ trong quá trình hình thành đặc trưng thé loại. Dựa vào những biểu hiện về ngữ đoạn được đánh dấu bằng hiện tượng gieo vần, Nguyễn Phan Cảnh cho rằng vận động tạo vân chính là khâu cơ bản nhất của quá trình hình thành thé thơ.
Mỗi thé thơ có một kiêu gieo van (trong những ngữ đoạn ngan/ dài) đặc trưng. Nhưng không phải vận động tạo vần đẻ ra thể thơ một cách cơ học, mà hai quá trình này diễn ra đồng thời. Chúng ta có thé nhận diện ra một thé thơ khi căn cứ vào các đấu hiệu vần điệu. Tuy nhiên một sé trường hợp việc nhận diện thé thơ qua van lại gặp rất nhiều khó khăn.
Trong bài Tiếng chổi tre của Tỗ Hữu (Những đêm hè/ Khi ve ve/ Đã ngủ/ Tôi lắng nghe/ Trên đường Tran Phú/ Tiếng chổi tre/ Xao xác/ Hàng me.), Néu chấp nhận vần lưng thi văn bản thơ sẽ là: Những đêm hè khi ve ve đã ngủ/ Tôi lắng nghe trên đường Tran Phú/ Tiếng choi tre xao xác hàng me. Như vậy, trong sáng tác thi ca, thể thơ hình thành không phải như một “sự chọn lọc tu nhiên”, mà là sự vận động của các quan hệ nội tại trong những cấu trúc ngôn ngữ dưới sự điều khiển của tâm thức văn hóa - ngôn ngữ cộng đồng. Trong tiếng Việt, quá trình vận động tạo thơ đã hình thành nên các thé thơ 2 tiếng cho đến 12 tiếng. Mặc dù trước đó có văn bién ngẫu song tho văn xuôi không trở nên phô biến.
Những thể thơ quen thuộc với người Việt là lục bát, song thất lục bat, 5 tiéng, 7 tiéng. Cơ chế biểu đạt của một van bản thơ khác xa với co chế biểu đạt của một văn bản văn xuôi. Các đơn vi trên trục ngữ đoạn có tính độc lập cao và tự nó đối lập với các yếu tố đồng loại trên trục lựa chọn dé tạo ra giá trị. Chính vai trò ưu thế của quan hệ ngữ đoạn đã làm cho ngôn ngữ văn xuôi chỉ thuần tủy mang giá trị thông báo (tất nhiên quan hệ ngữ đoạn của ngôn ngữ văn xuôi cũng rất khác so với quan hệ ngữ đoạn của ngôn ngữ thơ).
Dưới áp lực tạo thé (nhạc điệu), quan hệ ngữ đoạn trong ngôn ngữ thơ được hiện thực hóa qua hai con đường chính: quan hệ "lỏng" và quan hệ "phi lô gic". Khi bi lược bỏ các hư từ hay các từ nghèo thông tin, các đơn vị ngôn ngữ hiện diện trở thành yếu tố tối thiểu có tính độc lập rất cao, quan hệ ngữ đoạn trở nên lỏng ra. Cũng có khi cần đến một kết hợp bất thường để 23 tạo nghĩa mới cho cấu trúc ngôn ngữ. Lúc này quan hệ ngữ đoạn được thiết lập dựa trên nguyên lý phi lô gíc.
Mỗi dòng thơ có thể tương đương với một phán đoán tồn tại trên một tiết tau và thé hiện bằng một dư âm. Dư âm là "tiéng vọng” của giá trị ngữ âm được thé hiện bằng tiết tau. Có thé có câu thơ mang dư âm di xa, cũng có thé có câu thơ mà dư âm chỉ là một cái gì đó rất mờ nhạt. Câu thơ (trong Bài ca chim Cho Rao) của Thu Bồn rất gần với văn xuôi: An trái gam (/) nhớ trái dừa tha thiết Uống vũng suối trong (/) nhớ biển biếc bao la Những đêm mưa nguồn sam động Nhớ làm sao (/) tiếng sóng vỗ quanh nhà song lại có sức ngân vang rất lớn.
Hiệu quả đó bắt nguồn từ việc có ý thêm vào một số âm tiết làm cho nhịp của câu thơ dài ra trùng với đơn vị cú pháp của văn xuôi, do đó người đọc có cảm tưởng như đang bơi trên một dòng chảy không dứt của chuỗi ngôn từ đầy ấn tượng. Tình trạng trên khác xa với những câu thơ ngắn trong bài thơ Lwom của Tế Hữu: Chú bé loắt choắt/ Cái xắc xinh xinh/ Cái chân thoăn thoat/ Cái dau nghênh nghênh. Những câu thơ trùng với một ngữ đoạn ngắn tạo ra cảm giác nhanh, mạnh, phù hợp với sự miêu tả tính hồn nhiên trong bước chân sáo của cậu bé liên lạc. Tóm lại, sự vận động tạo thê trong ngôn ngữ thơ vừa phụ thuộc vào sự chi phối của hai loại quan hệ khách quan của ngôn ngữ (quan hệ ngữ đoạn và quan hệ liên tưởng), vừa phụ thuộc vào cảm thức nhạc điệu của tác giả.
Mỗi thể thơ với bản thé của mình đều tôn tại trong một giới hạn ngữ âm-ngữ nghĩa nhất định. Mỗi dân tộc đều có một nền thi ca đặc trưng gắn với những thé thơ nhất định. Thơ tiếng Việt có thê 2 tiếng, 4 tiếng, 5 tiếng, 6 tiếng, 7 tiếng, lục bát, song thất lục bát, 8 tiếng, thơ tự do, thơ văn xuôi. Sáng tạo một bài thơ theo một thể nào đây phần lớn bắt nguồn từ cảm thức ngôn ngữ.
Quá trình này vừa phụ thuộc vào tâm lí lứa tuổi, vốn văn hóa, vừa phụ thuộc vào năng lực tư duy nghệ thuật. Khi vốn văn hóa trở nên thứ yếu và yếu tô tâm lí đóng vai trò hướng đạo thì thơ thường nghiêng 24 hắn về cảm xúc. Ngược lại sẽ là thơ trí tuệ, thơ lô gíc. Một bài thơ hay thuộc một thé nào đấy kết tinh cả ba yếu tố kê trên.
Trong những bài thơ hay của Tran Đăng Khoa người ta vẫn dé dàng tìm thấy yếu tố tâm lí lứa tuổi chi phối một cách mạnh mẽ lối tư duy ngôn ngữ. Mỗi nhà thơ có một lối tư duy ngôn ngữ nhất định tương ứng với một thé thơ sở trường.