Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Ngày nay, cùng với sự phát triển không ngừng của xã hội, con người không chỉ có nhu cầu giao tiếp với những người nói cùng ngôn ngữ ở xung quanh mình, mà họ còn có nhu cầu được giao lưu với những người sử dụng ngôn ngữ khác ở những nơi xa xôi tới vùng đất của họ, hay những con người sử dụng ngôn ngữ khác ở những vùng đất mới mà họ có thể đi tới; cũng có thể là những kiến thức, những đặc trưng văn hoá của những cộng đồng người sử dụng một ngôn ngữ khác mà chúng ta cần tìm hiểu hay do nhu cầu giao thương buôn bán, do nhu cầu học tập hay tuyên truyền tôn giáo. Bởi vậy, ngoài việc sử dụng tiếng mẹ đẻ, xu hướng học thêm ngoại ngữ và ngôn ngữ thứ hai để đáp ứng những nhu cầu về giao tiếp và cập nhật những thông tin, kiến thức mới trên thế giới ngày càng phổ biến và trở thành một nhu cầu cần thiết của xã hội hiện đại. Song song với sự gia tăng không ngừng về nhu cầu học ngoại ngữ chính là sự phát triển của việc dạy-học ngoại ngữ và ngôn ngữ thứ hai.
Cho tới nay, thật khó để có thể tìm câu trả lời chính xác cho câu hỏi “Việc dạy học ngoại ngữ bắt đầu từ khi nào và khởi nguồn từ đâu?”; nhưng có một điều chúng ta có thể chắc chắn rằng song ngữ luôn là xu hướng được hướng đến và phổ biến hơn việc chỉ sử dụng một ngôn ngữ đơn thuần. Ngoài ra, một điểm đáng nhấn mạnh nữa là trong chính quá trình dạy và học ngôn ngữ thì các ngôn ngữ lại có sự chuyển hoá vai trò cho nhau: Trong quá trình chinh phục Hy Lạp, người La Mã đã cố gắng để học tiếng Hy Lạp nhưng sau đó, người Hy Lạp lại cố gắng để học tiếng của người La Mã, … Vì thế, một trong những câu hỏi lớn được đặt ra cho các nhà giáo dục, các nhà khoa học, nhà nghiên cứu ngôn ngữ là “Người ta dạy và học ngoại ngữ như thế nào?”. Câu hỏi này chính là thách thức, đồng thời cũng là động lực của 7 luan an những nhà nghiên cứu để có thể tìm ra câu trả lời, tìm ra những phương pháp giảng dạy ngoại ngữ sao cho việc dạy và học có thể đạt được hiệu quả cao nhất. Và một trong những yếu tố quyết định để có thể trả lời câu hỏi đó chính là việc nên sử dụng ngôn ngữ trong các lớp dạy ngoại ngữ như thế nào để đạt hiệu quả dạy học cao nhất.
Trong phạm vi của luận văn này, chúng tôi xin tạm gác lại những vấn đề khác và chỉ đề cập tới một khía cạnh của vấn đề sử dụng ngôn ngữ trong các lớp dạy ngoại ngữ, đó là vấn đề sử dụng tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ đích trong giảng dạy ngoại ngữ của người dạy và thái độ người học đối với vấn đề đó. Để có thể làm sáng tỏ vấn đề này, chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 3 phương diện có liên quan trực tiếp tới thái độ và nhu cầu của người học đối với việc sử dụng ngôn ngữ của giáo viên trong các lớp dạy – học tiếng Việt như một ngoại ngữ. Cụ thể, ba phương diện đó bao gồm: (i) Tình hình sử dụng ngôn ngữ trong các lớp học ngoại ngữ; (ii) Thái độ và nhu cầu của người học về việc sử dụng ngôn ngữ của giáo viên trong các lớp học ngoại ngữ và (iii) Các nhân tố có ảnh hưởng tới thái độ và nhu cầu của người học đối với việc sử dụng ngôn ngữ trong các lớp học ngoại ngữ. Tình hình nghiên cứu trên Thế giới a.
Về sử dụng ngôn ngữ trong dạy học ngoại ngữ Bàn về vấn đề ngôn ngữ được sử dụng trong các lớp học ngoại ngữ, chúng ta chắc chắn phải kể đến hai loại ngôn ngữ cơ bản nhất, đó là ngôn ngữ mẹ đẻ của người học và ngôn ngữ đích (ngôn ngữ mục tiêu mà người học đang muốn hướng tới). Bởi vậy, trong các nghiên cứu về việc sử dụng ngôn ngữ trong dạy học ngoại ngữ cả ở trên thế giới cũng như ở Việt Nam đều nghiên cứu về sự ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ (L1) và ngôn ngữ đích (TL) tới khả năng tiếp thu ngôn ngữ đích của người học. Trên thế giới đã có rất nhiều bài nghiên cứu về vấn đề sự ảnh hưởng của L1 và TL trong các lớp dạy và học ngoại ngữ. Trong đó, phần lớn là nghiên 8 luan an cứu về sự ảnh hưởng của L1 và TL đối với việc dạy và học ngoại ngữ trong các lớp học tiếng Anh.
Theo những nghiên cứu đó, các nhà nghiên cứu trên thế giới chia thành 3 nhóm quan điểm như sau: Nhóm 1 - Nhóm của những học giả có quan điểm ủng hộ việc sử dụng L1 trong các lớp học ngoại ngữ. Nhóm 2 - Nhóm những học giả có quan điểm ủng hộ việc sử dụng TL trong các lớp học ngoại ngữ. Nhóm 3 - Nhóm những học giả có quan điểm ủng hộ việc kết hợp cả L1 và TL ở trong các lớp học ngoại ngữ. Những quan điểm ủng hộ sử dụng L1 trong các lớp học ngoại ngữ cho rằng, L1 hỗ trợ cho người học đồng thời làm giảm thiểu những ảnh hưởng do rào cản tâm lý, giúp cho người học cảm thấy tự tin hơn trong giới hạn khả năng của mình và đạt hiệu quả cao hơn khi học ngoại ngữ.
Một số đại diện cho quan điểm này có thể kể tới như: Hall & Cook, Harbord, Scheffler & Dominska… Ví dụ như trong nghiên cứu của Nghiên cứu của Habor (1992) đã chỉ ra, sử dụng L1 trong lớp học ngoại ngữ sẽ tiết kiệm thời gian hơn, và thời gian đó có thể được tận dụng cho các hoạt động mở rộng khác. Các nhà nghiên cứu Seng & Hashim trong nghiên cứu của họ (2006) đã chỉ ra rằng, những sinh viên ở trình độ thấp thường gặp khó khăn trong việc diễn đạt suy nghĩ và quan điểm của họ một cách tự tin và chính xác, vì vậy họ cần được sử dụng cả TL để hỗ trợ diễn đạt. Ở một nghiên cứu khác, nhà nghiên cứu Liao (2006) đã nhận thấy rằng, nếu TL là loại ngôn ngữ duy nhất được sử dụng trong lớp học ngoại ngữ thì đối với một số câu hỏi của giáo viên, sinh viên sẽ lựa chọn cách im lặng bởi sự lo lắng vì mình không đủ vốn từ để hiểu và diễn đạt. Hay những ý kiến ủng hộ cho quan điểm này như: Nếu sử dụng TL trong lớp học ngoại ngữ sẽ cần thời gian khởi động khi bắt đầu bài học thì việc sử dụng L1 lại có thể khắc phục điều đó.
Hay: một buổi học với toàn bộ TL sẽ làm cho người học cảm thấy quá mệt mỏi. 9 luan an Hoàn toàn trái lại với những ý kiến của những nhà nghiên cứu nhóm ủng hộ chỉ sử dụng L1, những nhà nghiên cứu ủng hộ quan điểm chỉ sử dụng TL lại đưa ra một số ý kiến phản bác như: “Ngay từ khi bắt đầu, người học cần phải học cách tư duy bằng TL và L1 sẽ cản trở người học khỏi việc này”; “Việc sử dụng L1, đặc biệt là dịch, sẽ củng cố niềm tin sai lầm của người học rằng luôn tồn tại tương ứng 1-1 giữa các từ trong L1 và TL”; “Thời gian sử dụng cho L1 chính là thời gian chúng ta lãng phí không sử dụng để luyện tập TL. Vì vậy, L1 đã làm giảm bớt những cơ hội học tập của chúng ta. [dẫn theo 13, tr.
Họ cho rằng, đối với hầu hết những người học ngoại ngữ mà nói, lớp học là cơ hội duy nhất để họ tiếp xúc với ngôn ngữ đích. Nghiên cứu của Hawkin (1987) đã so sánh việc học ngoại ngữ giống như công việc làm vườn ở trong một cơn lốc. Ở đó, giáo viên được ví như những người gieo mầm nhưng luôn có những cơn lốc ở giữa những tiết học sẽ cuốn đi thành quả mà giáo viên đã gieo trồng. Vì vậy, việc sử dụng TL một cách tối đa trong lớp học là vô cùng quan trọng và cần thiết.
Quan điểm này càng được củng cố bởi nghiên cứu của Krashen (1985) rằng, người học ngoại ngữ sẽ đạt được hiệu quả cao nhất khi có thể xử lý được toàn bộ những dữ liệu đầu vào bằng TL trong những trường hợp giao tiếp cụ thể. Ngoài những ý kiến ủng hộ tuyệt đối cho sử dụng L1 hay TL trong các lớp học ngoại ngữ, còn một nhóm những nhà nghiên cứu có quan điểm trung hoà giữa nhóm 1 và nhóm 2. Đó là các nhà nghiên cứu thuộc nhóm 3 – Nhóm ủng hộ việc sử dụng kết hợp cả L1 và TL. Các nhà nghiên cứu thuộc nhóm này cho rằng, việc kết hợp giữa L1 và TL theo một tỉ lệ và chiến lược nhất định sẽ giúp cho việc dạy học ngoại ngữ đạt được hiệu quả cao hơn rất nhiều.
Họ coi phương pháp kết hợp này như một chiếc sandwich bao gồm tỉ lệ L1, TL được kết hợp với nhau theo một thứ tự và lượng hợp lý. Một số nhà nghiên cứu ủng hộ quan điểm này có thể kể đến như: Butzkamm & Calwell (2009), Goh & Burn (2012), … 10 luan an Phải nói thêm rằng, mặc dù như đã đề cập ở phần trên, việc dạy và học ngoại ngữ là hoạt động có sự tác động qua lại và ảnh hưởng hai chiều tới nhau giữa tiếng mẹ đẻ và ngôn ngữ đích. Tuy nhiên, cho tới nay, hầu hết các nghiên cứu về việc sử dụng ngôn ngữ trong các lớp dạy ngoại ngữ được tiến hành theo hướng nghiên cứu về sự ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ trong các lớp dạy ngoại ngữ hoặc ngôn ngữ thứ hai chứ ít có sự nghiên cứu theo chiều hướng ngược lại (sự ảnh hưởng của ngoại ngữ hoặc ngôn ngữ thứ hai tới tiếng mẹ đẻ). Nghiên cứu về thái độ và nhu cầu đối với sử dụng ngôn ngữ trong dạy học ngoại ngữ Thái độ và nghiên cứu thái độ Theo định nghĩa của Đại từ điển tiếng Việt, “Thái độ là mặt biểu hiện bên ngoài của ý nghĩ, tình cảm đối với ai hay việc gì thông qua nét mặt, cử chỉ, lời nói, hành động.
Thái độ là ý thức, cách nhìn nhận, đánh giá và hành động theo một hướng nào đó trước một sự việc.” Hay theo từ điển tiếng Anh định nghĩa, thái độ (Attidude), là “Cách suy nghĩ hoặc cách cư xử của một cá nhân”. Hay trong từ điển tiếng Trung có định nghĩa thái độ (态度) là cách nhìn, hoặc cách hành động được lựa chọn đối với mỗi sự vật/sự việc cụ thể.