Tổng quan luận án

Luận án tiến sĩ ngữ văn với đề tài "Biểu tượng văn hóa truyền thống Nhật Bản trong tiểu thuyết Y. Kawabata" do nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thanh Nga thực hiện tại Trường Đại học Sư phạm Hà Nội vào năm 2022, thuộc chuyên ngành Văn học nước ngoài, mã số 9 22 02 42. Công trình được hoàn thành dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Đào Thị Thu Hằng và PGS. Nguyễn Thị Mai Chanh.

Về tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu, tác giả xuất phát từ vị thế của Yasunari Kawabata (1899-1972) - tác giả hiện đại đầu tiên của Nhật Bản nhận giải thưởng Nobel Văn học năm 1968. Các tác phẩm của ông thể hiện sự kết hợp giữa tinh hoa mĩ học Thiền đạo và tinh thần Phật giáo truyền thống, kết tinh bản sắc văn hóa dân tộc. Tác phẩm văn học được xem là tấm gương soi chiếu văn hóa của một đất nước; trong đó, biểu tượng là phương thức đặc trưng để truyền tải tư tưởng, cảm xúc và thế giới quan của tác giả. Tại Việt Nam, các công trình nghiên cứu về Kawabata đã tiếp cận từ nhiều góc độ khác nhau như thi pháp, tiểu sử, phân tâm học, nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu một cách hệ thống, chuyên sâu về biểu tượng văn hóa truyền thống trong toàn bộ tiểu thuyết của ông. Đây là khoảng trống nghiên cứu mà luận án xác định cần giải quyết.

Mục tiêu nghiên cứu của luận án được xác định gồm ba điểm chính:

  1. Tổng hợp và lí giải nguồn gốc của những giá trị văn hóa truyền thống trong tiểu thuyết Kawabata, chỉ ra mối liên hệ giữa văn hóa truyền thống Nhật Bản và văn hóa hiện đại phương Tây trong tác phẩm của nhà văn; tiếp cận tiểu thuyết dưới góc nhìn văn hóa để lí giải các nhân tố văn hóa, xã hội, tư tưởng, cảm xúc và thẩm mĩ chi phối quá trình sáng tạo.
  2. Lựa chọn và giải mã những biểu tượng tiêu biểu có tần số xuất hiện cao trong tiểu thuyết Kawabata, nhằm đạt được cái nhìn toàn diện, hệ thống về giá trị văn hóa dân tộc cùng những quan niệm thẩm mĩ về cái đẹp trong truyền thống văn hóa Nhật Bản.
  3. Khám phá và khẳng định những nét đặc sắc trong thế giới biểu tượng của Kawabata, làm rõ kết quả của quá trình tiếp thu các yếu tố văn học phương Tây kết hợp kế thừa và cách tân truyền thống văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc.

Nhiệm vụ nghiên cứu tương ứng gồm ba nội dung:

  1. Khảo cứu hệ thống lí thuyết về biểu tượng, biểu tượng văn hóa, biểu tượng văn hóa truyền thống; lí giải cơ sở hình thành của hệ thống biểu tượng văn hóa truyền thống trong tiểu thuyết Kawabata.
  2. Thống kê hệ thống biểu tượng văn hóa truyền thống trong tiểu thuyết của Kawabata; phân loại biểu tượng theo các lớp nghĩa; giải mã những biểu tượng có tần số xuất hiện cao; làm rõ vai trò và ý nghĩa của biểu tượng văn hóa - văn học trong tác phẩm đối với việc bảo lưu truyền thống.
  3. Đánh giá và khẳng định việc xây dựng biểu tượng văn hóa truyền thống là một phương diện nghệ thuật quan trọng đem lại giá trị cho sáng tác của Kawabata và đóng góp cho văn học hiện đại Nhật Bản.

Đối tượng nghiên cứu của luận án là biểu tượng văn hóa truyền thống Nhật Bản trong tiểu thuyết Y. Kawabata, tập trung khảo sát trên hai bình diện: biểu tượng tôn giáo, tín ngưỡng và biểu tượng nghệ thuật truyền thống.

Phạm vi nghiên cứu về văn bản bao gồm các tiểu thuyết của Kawabata được dịch và xuất bản tại Việt Nam: Yasunary Kawabata Tuyển tập tác phẩm (Nhà xuất bản Lao động, Trung tâm văn hóa ngôn ngữ Đông Tây, 2005) và tiểu thuyết Hồ (Nhà xuất bản Văn học Thành phố Hồ Chí Minh, 1954). Phạm vi nội dung tập trung vào việc lí giải ý nghĩa văn hóa từ góc độ biểu tượng, xác định mối liên hệ kết nối văn hóa truyền thống - hiện đại và vai trò của biểu tượng trong việc bảo tồn các giá trị văn hóa Nhật Bản.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Trên thế giới, các công trình nghiên cứu về Kawabata và tác phẩm của ông được triển khai qua nhiều hướng tiếp cận:

  • Tiếp cận tiểu sử học: Anders Osterling (1968) trong diễn từ trao giải Nobel văn học đã phân tích những mất mát thời thơ ấu tác động đến thế giới quan của Kawabata, nhấn mạnh vẻ đẹp mong manh gắn liền với nỗi buồn trong bộ ba Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô, coi Kyoto trong Cố đô là hiện thân của vẻ đẹp cổ xưa cần được lưu giữ. Mary Jo Moran (1982) chỉ ra sự kết hợp giữa kĩ thuật phương Tây và tinh thần phương Đông tạo nên phong cách cô đọng nhưng gợi mở. Donald Keene (1984) trong Dawn to the West hệ thống hóa cuộc đời, ảnh hưởng của văn hóa phương Đông truyền thống và phương pháp sáng tác phương Tây đối với nhà văn.
  • Tiếp cận liên ngành: Edward G. Seidensticker (1968, 1969) xếp Kawabata vào mạch nguồn của các bậc thầy thơ Haiku thế kỉ XVII, chỉ ra ảnh hưởng của Truyện Genji cùng dấu ấn kĩ thuật phương Tây như James Joyce. Francis Mathy (1969) phân tích biểu tượng gương soi trong mối liên hệ với tình yêu và vai trò cầu nối văn hóa Đông - Tây. Katsuhito Takeda (1983) chỉ ra ảnh hưởng của Kinh thánh đối với Kawabata. Setsuko Tsutsumi (1997) tại Đại học Washington nghiên cứu sự đan lồng giữa truyền thống phương Đông và kĩ thuật phương Tây như thủ pháp gương soi, dòng ý thức, truyện lồng truyện. Peter M. Carriere (2002) nghiên cứu mĩ học Geido qua nghi lễ trà đạo và ảnh hưởng từ các thiền sư Dogen, Myoe. Nawang Sari (2010) phân tích biểu tượng mặt nạ, âm thanh của núi, núi Phú Sĩ dưới góc độ tâm lí học tuổi già trong Tiếng rền của núi. Yuli Christiana Yoedo (2011) tiếp cận Xứ tuyết theo thuyết phản ứng của người đọc. Masaki Mori (2004, 2007) phân tích thi pháp gương soi và xung đột cộng sinh trong Xứ tuyết. Laura Ricca (2017) khảo sát tính thẩm mĩ và thi pháp hình ảnh thị giác trong Xứ tuyết.
  • Tiếp cận thi pháp học: Reiko Tsukimura (1968) nghiên cứu chủ đề cái buồn gắn với hiện thực đất nước và truyền thống văn hóa. Gwenn R. Boardman (1969) khảo sát biểu tượng tuyết và gương soi trong Xứ tuyết. Itasaka (1983) trong Encyclopedia of Japan phân tích hình tượng người lữ khách đi tìm cái đẹp. Mishima Yukio (1980) phân tích vẻ đẹp trinh nữ và yếu tố nhục cảm trong Người đẹp say ngủ. Makoto Ueda (1983) bàn về quan niệm cái đẹp thuần khiết, mong manh và u buồn. Thomas Rimer (1988) phân tích ngôn từ nghệ thuật gợi cảm. Sidney DeVere Brown (1988) khảo sát xung đột giữa truyền thống và hiện đại qua các biểu tượng văn hóa. Shuichi Kato (1990) khảo sát hình tượng tính nữ và đồ gốm. Fedorenko nhận định ngôn ngữ Kawabata mang tính súc tích, tượng trưng. Mitsuyoshi Numano (2009) phân tích chất trữ tình và biểu tượng văn hóa cố đô Kyoto.

Tại Việt Nam, nghiên cứu về Kawabata phát triển mạnh từ sau năm 1970:

  • Tiếp cận tiểu sử học: Vũ Thư Thanh (1969) giới thiệu cuộc đời và tính chất thơ trong văn xuôi Kawabata. Lưu Đức Trung (1997) phân tích bộ ba tiểu thuyết đoạt giải Nobel trong mối liên hệ với văn học nữ tính thời Heian. Nguyễn Nam Trân (2011) hệ thống hóa tiến trình sáng tác qua các chặng đường đời. Hữu Ngọc (2016) nhìn nhận Kawabata như một "du khách u buồn" trăn trở trước sự va đập giữa lối sống cổ truyền và hiện đại.
  • Tiếp cận thi pháp học: Nhật Chiêu (2000) phân tích thi pháp chân không và thẩm mĩ của chiếc gương soi. Lưu Đức Trung (1999) chỉ ra ảnh hưởng của thơ Haiku và tinh thần Thiền trong kết cấu tác phẩm. Khương Việt Hà (2004, 2006) nghiên cứu thủ pháp tương phản trong Người đẹp say ngủ và các phạm trù mĩ học của Kawabata. Thụy Khuê (2005) khảo sát hệ thống biểu tượng khởi đi từ nước, lửa và gương. Đào Thị Thu Hằng (2006, 2007, 2018) nghiên cứu nghệ thuật kể chuyện, mĩ cảm aware và dấu ấn sân khấu Noh trong tiểu thuyết. Vũ Thị Thanh Hoài (2007) bàn về mối quan hệ giữa cái Đẹp và cái Buồn. Nguyễn Thị Mai Liên (2009) khảo sát sự phân cực không gian nghệ thuật giữa các giá trị truyền thống và văn minh Âu Mỹ. Các tác giả Nguyễn Tuấn Khanh (2009), Nguyễn Đức Ninh (2012), Nguyễn Thị Huân (2017), Lê Thị Bích Thủy (2017) tiếp tục làm rõ nghệ thuật trần thuật và cách thể hiện cái đẹp.
  • Tiếp cận phân tâm học: Đoàn Lê Giang (2000), Đào Thị Thu Hằng (2004), Hà Văn Lưỡng (2006) chỉ ra sự tiếp thu phân tâm học Freud và kĩ thuật tiểu thuyết phương Tây. Hoàng Thị Mỹ Nhị (2017) vận dụng lý thuyết vô thức tập thể của Carl Jung để phân tích biểu tượng trong Ngàn cánh hạc.
  • Tiếp cận văn hóa học và biểu tượng: Đào Thị Thu Hằng (2007) nhận định về giá trị văn hóa và biểu tượng trong Cố đô. Trần Tố Loan (2010) khảo sát biểu tượng qua nhiều tác phẩm, khẳng định biểu tượng gắn liền với mĩ học và suy tưởng Thiền. Hoàng Thị Mỹ Nhị (2017, 2018) nghiên cứu cảm thức Thiền, cảm thức thiên nhiên và mĩ cảm aware. Phạm Thị Khánh Liêm (2009) thực hiện luận văn thạc sĩ về biểu tượng trong bộ ba Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô.

Khoảng trống nghiên cứu được luận án giải quyết: Phần lớn các công trình trước đây chỉ khảo sát biểu tượng trong từng tác phẩm riêng lẻ hoặc tiếp cận biểu tượng như một thủ pháp nghệ thuật bổ trợ. Chưa có công trình nào trực tiếp lựa chọn biểu tượng văn hóa truyền thống Nhật Bản làm đối tượng trung tâm để khảo sát một cách có hệ thống, toàn diện và phân loại thành các nhóm biểu tượng tôn giáo, tín ngưỡng và nghệ thuật truyền thống trong toàn bộ tiểu thuyết của Kawabata.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Về cơ sở lí thuyết, luận án khảo cứu nguồn gốc và nội hàm của các khái niệm then chốt:

  • Khái niệm biểu tượng: Xuất phát từ từ nguyên tiếng Hy Lạp symbolon (gắn với việc ghép hai nửa vật thể làm dấu hiệu nhận biết), chuyển hóa qua tiếng Latinh symbolus/symbolum và tiếng Pháp thời Trung Cổ (xuất hiện khoảng năm 1380 trong ngữ cảnh thần học, đến giữa thế kỉ XVI mang nghĩa thực thể gợi lên ý niệm trừu tượng). Trong tiếng Hán, "biểu" là phô bày, biểu hiện; "tượng" là hình tượng. Luận án tiếp thu các định nghĩa từ Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới (Jean Chevalier và Alain Gheerbrant) về tính phân li - tái hợp và tính đa nghĩa; quan điểm tâm lí học của Sigmund Freud (biểu tượng là mối liên kết giữa nội dung biểu hiện và ý nghĩa tiềm ẩn); quan điểm phân tâm học của Carl Jung (biểu tượng gợi lên ý nghĩa ẩn tàng, xa lạ gắn với vô thức tập thể); quan điểm ngữ văn học của M. Abrams và Edward Quinn (phân biệt biểu tượng với ẩn dụ nhờ tính đa tầng, mở rộng về mặt tinh thần, đạo đức); quan điểm của Andrew Sneddon về giá trị quy ước của biểu tượng; quan niệm của các nhà nghiên cứu Việt Nam như Đinh Hồng Hải (nghĩa biểu hình và biểu ý), Trần Lâm Biền - Trịnh Sinh (biểu tượng mang bản sắc cộng đồng), Phạm Đức Dương (ba thành tố: cái thực, cái tưởng tượng, cái tượng trưng).
  • Phân biệt biểu tượng với các khái niệm liên quan: Biểu tượng khác kí hiệu thông thường ở chỗ kí hiệu dẫn tới thế giới trực quan còn biểu tượng dẫn tới thế giới ý niệm phi trực quan; biểu tượng khác hình ảnh ở khả năng lặp lại và bồi đắp nhiều tầng nghĩa trừu tượng; biểu tượng khác hình tượng nghệ thuật ở chỗ hình tượng mang đậm dấu ấn cá nhân của nghệ sĩ, trong khi biểu tượng mang tính quy ước và đại diện cho tâm thức cộng đồng.
  • Biểu tượng văn hóa và biểu tượng văn hóa truyền thống: Tiếp thu định nghĩa của UNESCO cùng các tác giả Trần Lê Bảo, Hồ Hoàng Hoa, văn hóa là tổng thể các giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo ra. Biểu tượng văn hóa được xác định là hạt nhân lưu giữ và trao truyền các giá trị xã hội qua thời gian.
  • Cơ sở hình thành biểu tượng trong tiểu thuyết Kawabata: Kết hợp giữa cội nguồn văn hóa truyền thống Nhật Bản (tinh thần Thần đạo Shinto, mĩ học Thiền tông, mĩ cảm aware, wabi-sabi, truyền thống văn học thời Heian), sự tiếp thu văn hóa phương Tây (kĩ thuật dòng ý thức, phân tâm học, chủ nghĩa tượng trưng) và quan niệm thẩm mĩ duy mĩ, duy tình gắn liền cái đẹp với nỗi buồn.

Về phương pháp nghiên cứu, tác giả kết hợp hai hướng tiếp cận chính:

  1. Tiếp cận Kí hiệu học: Khai thác các lớp nghĩa của biểu tượng với tư cách là những kí hiệu mang giá trị văn hóa đa tầng.
  2. Tiếp cận Văn hóa học: Soi chiếu biểu tượng qua các mã văn hóa tồn tại bên trong và bên ngoài văn bản (tôn giáo, tín ngưỡng, nghệ thuật) để lí giải nội dung tư tưởng tác phẩm.

Các phương pháp nghiên cứu cụ thể được triển khai gồm:

  • Phương pháp liên ngành: Kết hợp văn học với lịch sử, địa lí, tôn giáo, ngôn ngữ học Nhật Bản.
  • Phương pháp hệ thống: Phân loại, sắp xếp các lớp nghĩa của biểu tượng thành hệ thống cấu trúc hoàn chỉnh.
  • Phương pháp phê bình tiểu sử: Gắn kết cuộc đời riêng, những mất mát cá nhân của Kawabata với tư tưởng sáng tác.
  • Phương pháp lịch sử loại hình: Tìm hiểu nguồn gốc hình thành của biểu tượng văn hóa truyền thống, nhận diện sự kế thừa và các nét nghĩa mới được nhà văn sáng tạo.
  • Phương pháp so sánh - đối chiếu: Đặt tác phẩm của Kawabata trong thế đối sánh với các tác giả khác để làm nổi bật nét riêng trong tư duy nghệ thuật.
  • Thao tác bổ trợ: Phân tích - tổng hợp, khảo sát - thống kê - phân loại.

Nguồn tư liệu khảo sát chính gồm văn bản dịch tiếng Việt các tiểu thuyết của Kawabata trong Yasunary Kawabata Tuyển tập tác phẩm (2005) và tiểu thuyết Hồ (1954).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Chương này tập trung tổng kết các công trình nghiên cứu về tiểu thuyết Kawabata và biểu tượng văn hóa truyền thống trên thế giới và tại Việt Nam. Tác giả phân chia lịch sử nghiên cứu theo bốn hướng tiếp cận chủ đạo: tiểu sử học, liên ngành, thi pháp học và phân tâm học. Qua việc điểm lại hàng loạt công trình của các học giả quốc tế (Anders Osterling, Donald Keene, Edward G. Seidensticker, Setsuko Tsutsumi, Masaki Mori...) và các nhà nghiên cứu trong nước (Lưu Đức Trung, Nhật Chiêu, Đào Thị Thu Hằng, Khương Việt Hà, Hoàng Thị Mỹ Nhị...), chương 1 xác định rõ: phần lớn các nghiên cứu mới chỉ dừng lại ở phạm vi khảo sát từng tác phẩm đơn lẻ hoặc nhận diện biểu tượng ở mức độ phát hiện, gợi mở. Luận án khẳng định sự cần thiết phải xây dựng một công trình nghiên cứu hệ thống, chuyên sâu về biểu tượng văn hóa truyền thống trong toàn bộ tiểu thuyết Kawabata.

Chương 2. Biểu tượng và biểu tượng văn hóa truyền thống trong tiểu thuyết Y. Kawabata

Chương này làm rõ cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn của đề tài:

  • Khảo sát hệ thống lí thuyết: Phân tích nguồn gốc từ nguyên, các định nghĩa biểu tượng trong tâm lí học, phân tâm học, văn học; phân biệt biểu tượng với kí hiệu, hình ảnh, hình tượng nghệ thuật; định vị khái niệm biểu tượng văn hóa và văn hóa truyền thống.
  • Lí giải cơ sở hình thành biểu tượng trong sáng tác của Kawabata: Phân tích sự tương tác giữa văn hóa truyền thống Nhật Bản (Thần đạo, Thiền tông, mĩ cảm Heian) với văn hóa hiện đại phương Tây (chủ nghĩa hiện đại, kĩ thuật tâm lí); chỉ ra sự chi phối của quan niệm thẩm mĩ (cái đẹp u buồn, thuần khiết) đến việc tạo sinh ý nghĩa biểu tượng.
  • Tiêu chí phân loại và bảng thống kê: Luận án phân chia hệ thống biểu tượng dựa trên nguồn gốc văn hóa và phạm vi phản ánh vào hai nhóm chính: biểu tượng tôn giáo, tín ngưỡng và biểu tượng nghệ thuật truyền thống.
Nhóm biểu tượng lớn Nhóm biểu tượng nhánh Các biểu tượng cụ thể được giải mã Phạm vi văn hóa và tác phẩm tiêu biểu
Biểu tượng tôn giáo, tín ngưỡng Biểu tượng của Thần đạo (Shinto) Hoa anh đào, Tuyết, Gương, Cánh hạc, Suối nước nóng Gắn với ý niệm thanh tẩy, vẻ đẹp tự nhiên, sự tái sinh và phù du (Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô)
Biểu tượng tôn giáo, tín ngưỡng Biểu tượng của Thiền (Zen) Trà đạo, Lữ khách Biểu đạt tinh thần hòa - kính - thanh - tịnh, tâm thức vô ngã, sự cô đơn hiện sinh (Ngàn cánh hạc, Xứ tuyết)
Biểu tượng nghệ thuật truyền thống Biểu tượng nghệ thuật dệt may Áo Kimono, Vải dệt Chijimi Phản ánh linh hồn văn hóa, sự tỉ mỉ, kiên trì và bảo tồn nghề thủ công cổ truyền (Cố đô, Xứ tuyết)
Biểu tượng nghệ thuật truyền thống Biểu tượng nghệ thuật biểu diễn Geisha, Đàn Shamisen, Mặt nạ kịch Noh Hiện thân của tài năng diễn xướng, âm thanh nội tâm và sự đan xen giữa thực - hư (Xứ tuyết, Tiếng rền của núi)

Chương 3. Biểu tượng tôn giáo, tín ngưỡng

Chương này đi sâu giải mã hai hệ thống biểu tượng tôn giáo, tín ngưỡng chi phối tiểu thuyết Kawabata:

  • Biểu tượng của Thần đạo:
    • Hoa anh đào: Xuất hiện như biểu trưng cho vẻ đẹp nguyên sơ, sự phục sinh của thiên nhiên nhưng cũng gợi lên ý niệm về sự tàn lụi nhanh chóng, gắn liền với mĩ cảm aware (niềm bi cảm trước sự biến thiên của vạn vật).
    • Tuyết: Biểu tượng của không gian thanh sạch, tinh khiết, đối lập với những xao động trần tục; tuyết vừa là phông nền tự nhiên vừa là trạng thái cô lập tâm hồn của nhân vật trong Xứ tuyết.
    • Gương: Hình tượng nghệ thuật đa tầng, phản chiếu cái đẹp khúc xạ, mờ ảo giữa thực và mộng, giúp cái đẹp vượt thoát khỏi giới hạn vật chất (tiêu biểu là hình ảnh gương trên cửa kính toa tàu soi chiếu gương mặt nhân vật Yoko).
    • Cánh hạc: Xuất hiện trên những tấm vải, đồ gốm, biểu trưng cho sự thanh cao, ước vọng thuần khiết và sợi dây liên kết giữa các thế hệ trong Ngàn cánh hạc.
    • Suối nước nóng: Không gian thanh tẩy thân thể và tâm hồn theo nghi thức Thần đạo, nơi con người rũ bỏ bụi bặm đời thường để giao hòa cùng thiên nhiên.
  • Biểu tượng của Thiền:
    • Trà đạo: Không gian nghi lễ mĩ học kết hợp bốn yếu tố Hòa - Kính - Thanh - Tịnh. Trà đạo trong tiểu thuyết không chỉ là thú thưởng trà mà là phương tiện phản chiếu nhân cách, xung đột đạo đức và sự chuyển giao giá trị văn hóa qua các thế hệ đồ gốm.
    • Lữ khách: Hình ảnh những nhân vật nam di chuyển không ngừng (Shimamura, Kikuji...) biểu hiện thân phận con người trôi nổi trong cõi vô thường, tìm kiếm cái đẹp tuyệt đối trong trạng thái cô đơn bản thể.

Chương 4. Biểu tượng nghệ thuật truyền thống

Chương này khảo sát các biểu tượng nghệ thuật cổ truyền được Kawabata lưu giữ trong tiểu thuyết:

  • Biểu tượng nghệ thuật dệt may:
    • Áo Kimono: Hiện diện như trang phục chuẩn mực của vẻ đẹp phụ nữ Nhật Bản, mang màu sắc, hoa văn tương ứng với sự biến đổi bốn mùa và diễn biến tâm lí nhân vật (khảo sát chi tiết trong Cố đô).
    • Vải dệt Chijimi: Loại vải dệt từ sợi lanh phơi trên tuyết ở vùng Echigo trong Xứ tuyết. Biểu tượng này đại diện cho sự kết tinh của mồ hôi, sự kiên nhẫn của người thợ thủ công xưa, đối lập với sự mai một của các giá trị truyền thống trước làn sóng công nghiệp hóa.
  • Biểu tượng nghệ thuật biểu diễn:
    • Geisha: Nhân vật Komako trong Xứ tuyết là hiện thân của nghệ thuật truyền thống. Hình ảnh nàng Geisha không gắn với sự dung tục mà hiện lên như một nghệ sĩ tận tụy với nghề, mang vẻ đẹp trong trắng, chân thành giữa bối cảnh suy tàn.
    • Đàn Shamisen: Nhạc cụ cổ truyền với âm thanh thổn thức, đóng vai trò là phương tiện bộc lộ thế giới nội tâm u uẩn, nỗi khao khát được thấu hiểu của người nghệ nữ.
    • Mặt nạ kịch Noh: Được khảo sát trong Tiếng rền của núi và Người đẹp say ngủ, mặt nạ Noh tượng trưng cho sự ngưng đọng cảm xúc, biểu đạt vẻ đẹp tĩnh lặng, thần bí, tạo nên sự chuyển dịch linh hoạt giữa quá khứ và hiện tại, giữa sự sống và cái chết.

Kết quả và những đóng góp mới

Về mặt lí luận, luận án đã hệ thống hóa cơ sở lí thuyết về biểu tượng và biểu tượng văn hóa truyền thống trong nghiên cứu văn học, xác lập một khung phân loại biểu tượng dựa trên hai trục chính: tôn giáo - tín ngưỡng (Thần đạo, Thiền) và nghệ thuật truyền thống (dệt may, biểu diễn). Điều này cung cấp một hướng tiếp cận có căn cứ khoa học đối với việc nghiên cứu văn học hiện đại phương Đông.

Về mặt thực tiễn, luận án đã thống kê, phân loại và giải mã chi tiết hệ thống biểu tượng xuất hiện với tần số cao trong các tiểu thuyết của Kawabata. Công trình đã chỉ ra mối liên kết bền vững giữa văn hóa truyền thống và hiện đại trong tác phẩm, chứng minh rằng các yếu tố truyền thống không bị triệt tiêu mà được làm mới thông qua các kĩ thuật tự sự hiện đại. Qua đó, luận án khẳng định vai trò của Kawabata như một tác giả có ý thức sâu sắc trong việc bảo tồn, tái hiện và truyền bá các giá trị văn hóa dân tộc Nhật Bản ra thế giới.

Về mặt kiến nghị, công trình đề xuất việc vận dụng phương pháp tiếp cận văn hóa học và kí hiệu học vào giảng dạy các tác phẩm văn học nước ngoài trong nhà trường; đồng thời khuyến nghị mở rộng nghiên cứu văn học dưới góc độ bảo lưu các di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Về hạn chế, luận án triển khai khảo sát trên phạm vi các văn bản tiểu thuyết của Kawabata đã được dịch và xuất bản tại Việt Nam (chủ yếu là bộ Tuyển tập tác phẩm năm 2005 và tiểu thuyết Hồ năm 1954). Tác giả chưa có điều kiện tiếp cận toàn bộ văn bản nguyên tác tiếng Nhật cũng như các tác phẩm chưa được chuyển ngữ. Do khuôn khổ đề tài, luận án tự nhận vẫn còn những khoảng trống nhất định trong việc bao quát toàn bộ di sản văn xuôi phong phú của nhà văn.

Về hướng nghiên cứu tiếp, các hướng mở rộng khả thi bao gồm:

  1. Mở rộng phạm vi văn bản khảo sát sang thể loại truyện cực ngắn (Truyện trong lòng bàn tay) và các tiểu luận mĩ học của Kawabata.
  2. Đối chiếu hệ thống biểu tượng văn hóa truyền thống của Kawabata với các tác giả hiện đại cùng thời của Nhật Bản như Tanizaki Junichiro hay Mishima Yukio nhằm làm rõ tính tương đồng và dị biệt trong việc tiếp nhận di sản truyền thống.

Giá trị tham khảo

Luận án là tài liệu tham khảo chuyên môn phù hợp cho:

  • Nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các ngành Văn học nước ngoài, Văn học so sánh, Lý luận văn học, Văn hóa học và Nhật Bản học.
  • Giảng viên đại học, cao đẳng trực tiếp giảng dạy học phần văn học Nhật Bản và tiến trình văn học hiện đại phương Đông.
  • Các nhà nghiên cứu văn hóa quan tâm đến phương thức bảo tồn và chuyển hóa các giá trị di sản truyền thống thông qua hình thức sáng tác văn học nghệ thuật.

Phần nội dung có giá trị tham khảo chuyên sâu nhất là hệ thống giải mã các biểu tượng cụ thể ở Chương 3 và Chương 4, nơi các mã văn hóa Thần đạo, Thiền và nghệ thuật thủ công, biểu diễn được đối chiếu trực tiếp với các tình tiết và nhân vật trong tiểu thuyết.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân chia hệ thống biểu tượng văn hóa truyền thống trong tiểu thuyết Kawabata thành những nhóm cụ thể nào?
Luận án phân chia hệ thống biểu tượng thành hai nhóm chính: Nhóm biểu tượng tôn giáo, tín ngưỡng (bao gồm các biểu tượng của Thần đạo như hoa anh đào, tuyết, gương, cánh hạc, suối nước nóng; các biểu tượng của Thiền như trà đạo, lữ khách) và Nhóm biểu tượng nghệ thuật truyền thống (bao gồm nghệ thuật dệt may với áo Kimono, vải dệt Chijimi; nghệ thuật biểu diễn với Geisha, đàn Shamisen, mặt nạ kịch Noh).

2. Biểu tượng Thần đạo trong tiểu thuyết Kawabata mang ý nghĩa gì?
Các biểu tượng Thần đạo phản ánh thế giới quan nguyên thủy của người Nhật về sự linh thiêng của tự nhiên và ý thức thanh tẩy. Hoa anh đào và tuyết biểu trưng cho vẻ đẹp tinh khiết, mong manh, gợi niềm bi cảm aware trước sự đổi thay của vạn vật. Gương là phương tiện phản chiếu thực tại và ảo ảnh, đưa cái đẹp vào cõi hư ảo. Cánh hạc tượng trưng cho ước vọng thanh cao và sự tiếp nối truyền thống, trong khi suối nước nóng là không gian thanh tẩy tâm thân và chữa lành.

3. Nghệ thuật dệt may truyền thống được phản ánh qua những biểu tượng nào trong luận án?
Nghệ thuật dệt may được thể hiện qua hai biểu tượng then chốt: áo Kimono và vải dệt Chijimi. Áo Kimono là hiện thân của vẻ đẹp trang nhã, kín đáo của phụ nữ Nhật Bản và sự hòa hợp với bốn mùa. Vải dệt Chijimi trong Xứ tuyết là sản phẩm dệt lanh thủ công trên tuyết vùng Echigo, biểu tượng cho sự cần cù, kiên nhẫn và vẻ đẹp lao động truyền thống đang đứng trước nguy cơ mai một bởi văn minh hiện đại.

4. Luận án sử dụng những phương pháp và cách tiếp cận khoa học chủ đạo nào?
Luận án kết hợp hai cách tiếp cận là Kí hiệu học và Văn hóa học. Các phương pháp nghiên cứu cụ thể gồm có: phương pháp liên ngành, phương pháp hệ thống, phương pháp phê bình tiểu sử, phương pháp lịch sử loại hình và phương pháp so sánh - đối chiếu, cùng các thao tác phân tích, tổng hợp, thống kê, phân loại.

5. Phạm vi văn bản được luận án sử dụng để khảo sát thực tế gồm những tác phẩm nào?
Luận án khảo sát các tiểu thuyết lớn của Kawabata được dịch sang tiếng Việt, trọng tâm là các tác phẩm in trong Yasunary Kawabata Tuyển tập tác phẩm (Nhà xuất bản Lao động, 2005) gồm Xứ tuyết, Ngàn cánh hạc, Cố đô, Tiếng rền của núi, Người đẹp say ngủ và tiểu thuyết Hồ (Nhà xuất bản Văn học Thành phố Hồ Chí Minh, 1954).

Kết luận

Luận án của nghiên cứu sinh Nguyễn Thị Thanh Nga là công trình nghiên cứu chuyên sâu về hệ thống biểu tượng văn hóa truyền thống Nhật Bản trong tiểu thuyết Y. Kawabata dưới góc nhìn văn hóa học và kí hiệu học. Tác giả đã phân loại và giải mã thành công hai nhóm biểu tượng cốt lõi: tôn giáo, tín ngưỡng (Thần đạo, Thiền) và nghệ thuật truyền thống (dệt may, diễn xướng). Kết quả nghiên cứu khẳng định sự kết hợp hài hòa giữa kĩ thuật hiện đại và cốt cách truyền thống trong sáng tác của Kawabata, đồng thời làm rõ vai trò của nhà văn trong việc bảo lưu các giá trị văn hóa dân tộc. Công trình là tài liệu hữu ích cho hoạt động nghiên cứu, giảng dạy văn học Nhật Bản và văn hóa học tại Việt Nam.