phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo của luận văn, phần Nội dung đƣợc triển khai qua ba chƣơng: Chƣơng 1: Một số vấn đề lí luận và thực tiễn có liên quan đến đề tài. Chƣơng 2: Các giá trị văn hóa truyền thống trong truyện thơ Nôm Tày. Chƣơng 3: Tích hợp giáo dục các giá trị văn hóa truyền thống từ truyện thơ Nôm Tày cho học sinh THPT tỉnh Quảng Ninh. 9 NỘI DUNG Chƣơng 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 1.
Truyện thơ Nôm Tày Văn học Việt Nam là sự tổng hòa nền văn học của 54 dân tộc cùng chung sống. Trong đó, một bộ phận không nhỏ góp phần làm nên diện mạo riêng của văn học nƣớc ta chính là vaăn học các dân tộc thiểu số. Qua cách nhìn, cách cảm riêng, bộ phận văn học này đã tái hiện một cách chân thực và độc đáo những giá trị đời sống của đồng bào dân tộc, thể hiện mơ ƣớc của họ trong từng thời kì lịch sử nhất định. Chính vì vậy, văn học của dân tộc ít ngƣời là một kho vàng lịch sử kí thác bằng ngôn ngữ nghệ thuật đƣợc gìn giữ và lƣu truyền đến ngày nay.
Văn học các dân tộc thiểu số nói chung, truyện thơ Nôm Tày nói riêng đã góp phần làm phong phú hơn các giá trị của nền văn học Việt Nam. Các nhà nghiên cứu nhận xét văn học cổ truyền của đồng bào Tày là di sản có vị trí quan trọng bậc nhất trong lĩnh vực truyền thống văn hóa tinh thần tộc ngƣời, hợp thành toàn bộ nền văn hóa tinh thần dân tộc thống nhất trong đa dạng. Kho tàng văn học các dân tộc thiểu số phong phú về thể loại, trong đó truyện thơ là thể loại có số lƣợng tác phẩm khá lớn và đạt những giá trị nhất định. Truyện thơ là một thể loại văn học dân gian thuộc loại hình tự sự, bao gồm những tác phẩm có hình thức văn vần, đƣợc kể, đƣợc hát, đƣợc ngâm, đọc (kể cả trƣớc và sau khi đã đƣợc ghi chép) và thƣờng có nội dung khắc họa cuộc đời - số phận ngƣời lao động nghèo trong xã hội.
“Truyện thơ Nôm là thể loại dùng các thể thơ tiếng Việt viết bằng chữ Nôm (thƣờng là thơ lục bát) để kể chuyện (trần thuật). Truyện thơ Nôm là loại hình tự sự bằng thơ đƣợc viêt bằng văn tự Nôm, phản ánh cuộc sống xã hội thông qua sự trình bày, miêu tả có tinh chất hoàn chỉnh vận mệnh, tính cách 10 nhân vật bằng một cốt truyện với hệ thống biến cố và sự kiện. Đây là loại hình có khả năng phản ánh hiện thực với một phạm vi tƣơng đối rộng.” Truyện thơ Nôm Tày là thể loại tiêu biểu và có nhiều tác phẩm giá trị trong kho tàng truyện thơ dân tộc thiểu số Việt Nam. Truyện thơ Nôm Tày là truyện thơ Nôm đƣợc sáng tác và đón nhận bởi đồng bào dân tộc Tày.
Đó không chỉ là những tác phẩm truyền miệng mang đậm sắc thái dân gian mà còn đƣợc lƣu truyền bởi hệ thống chữ Nôm. Chữ Nôm Tày và truyện thơ Nôm Tày là sản phẩm của sự giao lƣu văn hóa giữa ngƣời Tày với ngƣời Kinh. Một số tác phẩm truyện thơ có sự vay mƣợn cốt truyện của văn học ngƣời Kinh nhƣ Phan Trần, Tống Trân - Cúc Hoa, Phạm Tải - Ngọc Hoa,… nhƣng các tác giả dân tộc Tày với cách nhìn, cách cảm riêng đã mang đến những vẻ đẹp độc đáo trong đời sống tâm hồn của đồng bào dân tộc Tày. Truyện thơ Nôm Tày vì thế cũng là một trong những thể loại mang tính chất trụ cột của văn học trung đại dân tộc Tày.
Về thuật ngữ truyện thơ Nôm, các nhà nghiên cứu trong những công trình của mình có nhiều cách gọi tên khác cho thể loại này: truyện Nôm, truyện thơ, tiểu thuyết bằng văn vần, truyện thơ Nôm. Theo tác giả Lại Nguyên Ân, truyện thơ Nôm là “một thể loại sáng tác tiếng Việt (chữ Nôm) thời trung đại, phát triển mạnh từ nửa sau thế kỉ XVIII và suốt thế kỉ XIX. Số lượng tác phẩm nay còn tìm được khoảng trên 100 truyện, tạo thành một bộ phận khá lớn của sáng tác tự sự (cả chữ Hán và chữ Nôm) ở thời trung đại Việt Nam” [1, 664]. Nhà nghiên cứu Vũ Anh Tuấn thì cho rằng truyện thơ là “một loại văn học dân gian đã thành văn và mới chỉ đặc biệt phát triển trong vài ba thế kỉ trở lại đây” [55, 12].
Bên cạnh đó còn có những quan niệm về truyện thơ nhƣ: “Truyện thơ là thể loại phát triển cuối cùng và cũng là đỉnh cao của dân ca Tày. Truyện thơ là thể thơ đã có sự chặt chẽ về vần điệu, và với nghệ thuật của thể này, đó là một thể thơ độc đáo của dân tộc Tày. Về cách gieo vần chữ thứ bảy câu trên vần với chữ thứ năm câu dưới và cứ tiếp tục như thế với số 11 chữ ổn định là bảy chữ, thích hợp với giọng kể chuyện, dễ nhớ cho người nghe, dễ đọc cho người kể” [55, 16]. Trong công trình Truyện thơ Tày - Nguồn gốc, quá trình phát triển và thi pháp thể loại của tác giả Vũ Anh Tuấn có in bài viết “Truyện thơ” của nhà nghiên cứu Phan Đăng Nhật, trong đó có dẫn quan niệm về truyện thơ của dân tộc thiểu số (tƣơng đƣơng khái niệm truyện Nôm của người Kinh): “Văn học dân gian và các dân tộc nước ta (dân tộc đa số cũng như thiểu số) có nhu cầu sáng tạo và lưu truyền một loại hình thơ ca kể truyện dài hơi.
Ở văn học Kinh, người ta gọi đó là truyện Nôm. Thực chất những tác phẩm được gọi là truyện Nôm (hoặc truyện Nôm bình dân) là những tác phẩm có tính chất tự sự diễn đạt bằng tiếng Việt, viết bằng chữ Nôm và đặc biệt là hình thức thơ ca dài hơi. Do nhấn mạnh hình thức thơ ca nên có người đề nghị gọi là truyện thơ Nôm. Nếu ở người Kinh có truyện thơ Nôm thì ở các dân tộc thiểu số (DTTS) có một loại hình tương đương: truyện thơ.
Đó là những tác phẩm tự sự dưới hình thức thơ ca. Ở các DTTS không cần phải phân biệt với tính bác học và hình thái ghi chép bằng chữ Hán. Các dân tộc thiểu số nước ta có một kho tàng truyện thơ phong phú. Nhà nghiên cứu Võ Quang Nhơn cũng coi truyện thơ là “một dấu nối giữa văn học truyền miệng và văn học thành văn” và khẳng định truyện thơ ở nhóm giáo dục đạo đức “đã thể hiện khá rõ tính chất thành văn, tiếp cận với đặc điểm thi pháp của văn học bác học và đánh dấu một bước phát triển mới của văn học dân gian” [35, 20].
Qua nghiên cứu, nhận định của các nhà nghiên cứu có thể khái quát: Truyện thơ Nôm Tày là một thể loại của văn học dân tộc Tày, là sáng tác thành văn có tính chất tự sự diễn đạt bằng thơ tiếng Tày, viết bằng chữ Nôm Tày. Về cơ bản, truyện thơ Nôm Tày không rõ tác giả, phổ biến qua con đƣờng truyền miệng, chủ yếu đƣợc ngƣời dân bản tộc lƣu giữ lại bằng cách chép tay (dùng chữ Nôm Tày). Nội dung chính truyện thơ Nôm Tày - nhƣ truyện thơ Nôm nói chung, đi sâu phản ánh hiện thực cuộc sống, tâm tƣ tình cảm, ƣớc mơ khát vọng của ngƣời dân Tày. Văn hoá và giá trị văn hóa truyền thống “Văn hóa” là khái niệm gắn liền với số lƣợng những khái niệm cơ bản và có nhiều sắc thái ngữ nghĩa.
Hiện nay, có hơn 500 định nghĩa về văn hóa. Văn hoá có thể đƣợc hiểu là toàn bộ những hoạt động sáng tạo và những giá trị của nhân dân một nƣớc, một dân tộc về mặt sản xuất vật chất và tinh thần trong sự nghiệp dựng nƣớc và giữ nƣớc. Theo UNESCO thì văn hóa là tổng thể các hoạt động và sáng tạo của nhân dân trong quá khứ và trong hiện tại, từ đó hình thành nên một hệ thống các giá trị, các truyền thống và thị hiếu, góp phần làm nên những yếu tố xác định đặc tính riêng của mỗi dân tộc. Hồ Chí Minh thì cho rằng văn hoá chính là những sáng tạo và phát minh của loài ngƣời nhƣ ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phƣơng thức sử dụng.
Mọi hoạt động của con ngƣời vì lẽ sinh tồn cũng nhƣ mục đích của cuộc sống, trải qua thực tiễn và thời gian, đƣợc lặp đi lặp lại thành những thói quen, tập quán, chắt lọc thành những chuẩn mực, những giá trị vật chất và tinh thần và đƣợc tích lũy, lƣu truyền từ đời này qua đời khác. Văn hoá cũng đƣợc xem là một hệ thống các giá trị vật chất và tinh thần do con ngƣời sáng tạo, tích lũy trong hoạt động thực tiễn qua quá trình tƣơng tác giữa con ngƣời với tự nhiên, xã hội và bản thân. Văn hóa là của con ngƣời, do con ngƣời sáng tạo và vì lợi ích của con ngƣời. Văn hóa đƣợc con ngƣời giữ gìn, sử dụng để phục vụ đời sống con ngƣời và truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác.
Nhƣ vậy văn hoá là hoạt động sáng tạo của các cộng đồng ngƣời gắn liền với tiến trình phát triển có tính lịch sử, trải qua một thời gian dài tạo nên những giá trị có tính nhân văn phổ quát, đồng thời có tính đặc thù của mỗi cộng đồng, thể hiện bản sắc riêng của từng dân tộc. Về khái niệm giá trị văn hoá truyền thống cũng có nhiều ý kiến. Trong cuốn Một số vấn đề về dân tộc học Việt Nam, tác giả Phan Hữu Dật định nghĩa truyền thống văn hoá là “những kinh nghiệm tích luỹ được của con người trong quá trình thích ứng với môi trường tự nhiên mà họ đã và đang sinh sống, đó là các chuẩn mực của ứng xử xã hội giữa cá nhân với cá nhân, giữa cá nhân và 13 cộng đồng, giữa cộng đồng này với cộng đồng khác. Đó là các thói quen trong nếp nghĩ, các tri thức đã tích luỹ được, niềm tin và biểu tượng của thế giới tinh thần và tâm linh… Tất cả những cái đó trải qua quá trình lịch sử lâu dài, từ thế hệ này sang thế hệ khác, đã tạo nên các hệ giá trị của di sản văn hoá, tạo nên bản sắc văn hoá” [14, 270].
Ông cũng khẳng định “Mỗi vùng văn hoá như vậy chứa đựng các truyền thống văn hoá và mang bản sắc văn hoá riêng” [14, 271].