Hình tượng người phụ nữ mới trong Tự Lực văn đoàn và Hàn Quốc

Trường đại học

Đại học Sư phạm Hà Nội

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận án tiến sĩ

2020

241
0
0

Phí lưu trữ

55 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan hình tượng người phụ nữ mới trong hai nền văn học

Hình tượng người phụ nữ mới là một trong những thành tựu nổi bật của văn học hiện đại Việt Nam và Hàn Quốc đầu thế kỷ XX. Tự Lực văn đoàn, hoạt động từ thập niên 1930, đã xây dựng nhiều nhân vật nữ phá vỡ khuôn mẫu truyền thống. Những nhân vật này khao khát tự do trong tình yêu, dám đấu tranh cho quyền lợi cá nhân. Văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc (1910–1945) cũng ghi nhận sự xuất hiện của hình tượng phụ nữ mới dưới ảnh hưởng của phong trào khai sáng và tư tưởng phương Tây. Cả hai nền văn học đều chịu tác động mạnh mẽ từ quá trình hiện đại hóa và tiếp xúc với văn hóa phương Tây. Nghiên cứu so sánh hình tượng người phụ nữ mới trong hai nền văn học giúp làm sáng tỏ quá trình chuyển đổi nhận thức về giới. Đồng thời, nghiên cứu chỉ ra những giá trị nhân văn phổ quát vượt qua biên giới quốc gia. Đây là hướng tiếp cận mới mẻ trong lĩnh vực văn học so sánh Việt – Hàn.

1.1. Bối cảnh ra đời của hình tượng người phụ nữ mới

Xã hội Việt Nam và Hàn Quốc đầu thế kỷ XX đều trải qua những biến động sâu sắc. Ở Việt Nam, phong trào Đông Du, Đông Kinh nghĩa thục truyền bá tư tưởng canh tân. Phan Bội Châu, Phan Châu Trinh đề cập đến vấn đề nữ quyền. Ở Hàn Quốc, phong trào khai sáng (개화기) và sự xâm lược của Nhật Bản tạo ra môi trường biến đổi. Phụ nữ bắt đầu tiếp cận giáo dục hiện đại và tham gia xã hội. Các phong trào nữ quyền quốc tế từ phương Tây lan sang Á Đông. Báo chí trở thành diễn đàn thảo luận về nữ quyền. Bối cảnh lịch sử đó là nền tảng cho sự hình thành hình tượng phụ nữ mới trong văn học hai nước.

1.2. Vị trí của đề tài trong nghiên cứu văn học so sánh

Văn học so sánh là phương pháp nghiên cứu có giá trị lớn trong thời kỳ hội nhập. Nghiên cứu hình tượng người phụ nữ mới trong Tự Lực văn đoàn và văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc thuộc phạm vi văn học so sánh liên văn hóa. Trước đây, các công trình thường nghiên cứu riêng lẻ từng nền văn học. Việc đặt hai nền văn học song song giúp phát hiện những điểm giao thoa và khác biệt. Phương pháp này làm rõ quá trình hiện đại hóa nhận thức về phụ nữ ở hai quốc gia. Nghiên cứu cũng góp phần mở rộng biên độ hiểu biết về văn học Đông Á đầu thế kỷ XX. Đây là đóng góp mới cho ngành ngữ văn học.

II. Phân tích tương đồng hình tượng phụ nữ mới qua tác phẩm

Hình tượng người phụ nữ mới trong sáng tác của Tự Lực văn đoàn và văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc có nhiều điểm tương đồng đáng chú ý. Cả hai đều khắc họa phụ nữ là nạn nhân của nền luân lý cũ và chế độ gia trưởng. Nhân vật nữ bị từ chối quyền tự chủ trong tình yêu, bị ép hôn nhân theo sắp đặt. Họ chịu cảnh chồng và gia đình chồng đối xử bất công. Tuy nhiên, hình tượng phụ nữ mới cũng bộc lộ những phẩm chất tiến bộ. Họ mang nét đẹp truyền thống nhưng hòa nhập với tư tưởng thời đại. Nhân vật nữ dám nghĩ, dám sống theo lý tưởng cá nhân. Về nghệ thuật, cả hai nền văn học đều chú trọng miêu tả ngoại hình nhân vật nữ một cách trực quan. Độc thoại nội tâm được sử dụng để đi sâu vào tâm lý nhân vật. Đây là những đổi mới quan trọng trong kỹ thuật tiểu thuyết hiện đại.

2.1. Nạn nhân của luân lý cũ và khao khát tự do

Trong tiểu thuyết Tự Lực văn đoàn, nhiều nhân vật nữ phải đối mặt với hôn nhân ép buộc. Họ là công cụ trong tay gia đình, không được quyền lựa chọn hạnh phúc. Tương tự, văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc cũng khắc họa phụ nữ bị áp bức bởi lễ giáo Nho giáo. Nhân vật nữ chịu đựng sự bất công từ chồng và gia đình. Cả hai nền văn học đều lên án hệ thống gia trưởng phong kiến. Hình tượng người phụ nữ mới từ đó trở thành biểu tượng của sự phản kháng. Họ tìm cách thoát khỏi xiềng xích xã hội cũ. Khát vọng tự do và hạnh phúc cá nhân là động lực thúc đẩy hành động của nhân vật.

2.2. Nghệ thuật khắc họa nhân vật nữ hiện đại

Các nhà văn Tự Lực văn đoàn sử dụng kỹ thuật tả người theo lối hiện đại. Họ đặt nhân vật trong khung cảnh thiên nhiên phù hợp để tôn vinh vẻ đẹp. Miêu tả ngoại hình trở thành yếu tố nghệ thuật quan trọng. Tả đẹp thể chất gắn với giá trị cá nhân và bản sắc giới. Văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc cũng áp dụng phương pháp tương tự. Độc thoại nội tâm giúp nhà văn đi sâu vào đời sống tâm hồn nhân vật. Cả hai đều phá vỡ lối viết ước lệ truyền thống. Kỹ thuật hội họa hiện đại được vận dụng để tả cảnh, tả người một cách sinh động.

III. Phương pháp so sánh hình tượng phụ nữ mới trong nghiên cứu

Nghiên cứu hình tượng người phụ nữ mới trong hai nền văn học đòi hỏi phương pháp tiếp cận đa chiều. Phương pháp văn học so sánh là công cụ chính để đặt hai nền văn học trong mối quan hệ đối chiếu. Phương pháp lịch sử – văn hóa giúp xác định bối cảnh xã hội ảnh hưởng đến sáng tác văn học. Phân tích hình tượng nhân vật tập trung vào nội dung tư tưởng và nghệ thuật biểu hiện. Tiếp cận giới (gender studies) cung cấp góc nhìn về vai trò và vị trí phụ nữ trong xã hội. Nghiên cứu tiến hành trên một số tác phẩm tiêu biểu của mỗi nền văn học. Tác phẩm Tự Lực văn đoàn bao gồm tiểu thuyết của Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo. Tác phẩm Hàn Quốc thời Nhật thuộc bao gồm tiểu thuyết của các nhà văn thuộc phong trào hiện thực mới. Phương pháp định tính được ưu tiên để phân tích sâu nội dung và hình thức tác phẩm.

3.1. Cơ sở lý thuyết của văn học so sánh

Văn học so sánh nghiên cứu mối quan hệ giữa các nền văn học khác nhau. Phương pháp này xuất phát từ truyền thống nghiên cứu châu Âu đầu thế kỷ XIX. Trong bối cảnh Đông Á, văn học so sánh giúp phát hiện ảnh hưởng và giao thoa văn hóa. Nghiên cứu hình tượng nhân vật là một trong những hướng tiếp cận hiệu quả. Hình tượng người phụ nữ mới phản ánh quá trình hiện đại hóa tư duy xã hội. Cơ sở lý thuyết bao gồm học thuyết hình tượng, lý thuyết tiếp nhận và phân tích giới. Các lý thuyết này hỗ trợ việc so sánh trên cả bình diện nội dung và nghệ thuật.

3.2. Đối tượng và phạm vi tác phẩm nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu tập trung vào hình tượng người phụ nữ mới trong các tác phẩm tiêu biểu. Phía Tự Lực văn đoàn, nghiên cứu chọn tiểu thuyết của Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam. Các tác phẩm tiêu biểu bao gồm Đoạn tuyệt, Nửa chừng xuân, Hạnh phúc manh mún. Phía văn học Hàn Quốc, nghiên cứu chọn tác phẩm của các nhà văn thời kỳ thuộc địa. Phạm vi giới hạn trong giai đoạn 1930–1945 khi hai nền văn học phát triển mạnh. Việc lựa chọn tác phẩm dựa trên tiêu chí mức độ phổ biến và giá trị nghệ thuật. So sánh được tiến hành trên ba phương diện: nội dung tư tưởng, hình thức nghệ thuật, bối cảnh lịch sử.

IV. Kết luận và ứng dụng nghiên cứu hình tượng phụ nữ mới

Nghiên cứu đã làm rõ những tương đồng và khác biệt trong hình tượng người phụ nữ mới. Tự Lực văn đoàn và văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc đều phản ánh quá trình chuyển đổi nhận thức về phụ nữ. Điểm tương đồng nằm ở nội dung tư tưởng: phụ nữ là nạn nhân của xã hội cũ, khao khát tự do và bình đẳng. Điểm khác biệt thể hiện ở mức độ ảnh hưởng phương Tây và đặc thù lịch sử mỗi nước. Tự Lực văn đoàn chịu ảnh hưởng sâu sắc từ văn học Pháp. Văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc mang dấu ấn của phong trào độc lập dân tộc. Về nghệ thuật, cả hai đều có những đổi mới trong cách khắc họa nhân vật nữ. Kết quả nghiên cứu có giá trị cho việc giảng dạy văn học so sánh trong nhà trường. Nghiên cứu cũng góp phần hiểu sâu hơn về quá trình hiện đại hóa văn học Đông Á.

4.1. Giá trị lý luận và thực tiễn của nghiên cứu

Nghiên cứu đóng góp vào kho tàng lý luận về văn học so sánh Việt – Hàn. Kết quả chỉ ra rằng hình tượng người phụ nữ mới là sản phẩm của quá trình hiện đại hóa xã hội. Giá trị thực tiễn nằm ở khả năng ứng dụng trong giảng dạy đại học và sau đại học. Giáo viên văn học có thể sử dụng kết quả để thiết kế bài giảng so sánh văn học. Sinh viên ngữ văn được trang bị phương pháp tiếp cận liên văn hóa. Nghiên cứu cũng hỗ trợ công tác dịch thuật và giới thiệu văn học hai nước. Đây là cầu nối văn hóa trong thời kỳ hội nhập quốc tế.

4.2. Hướng phát triển và gợi mở cho nghiên cứu tiếp theo

Nghiên cứu mở ra nhiều hướng phát triển mới cho lĩnh vực văn học so sánh. Có thể mở rộng phạm vi sang hình tượng phụ nữ trong thơ và kịch. Nghiên cứu so sánh với văn học Nhật Bản, Trung Quốc cùng thời kỳ sẽ làm sáng tỏ bức tranh toàn cảnh. Phương pháp tiếp cận liên ngành với xã hội học, nhân học mang lại góc nhìn phong phú hơn. Ứng dụng công nghệ số trong phân tích văn bản giúp xử lý dữ liệu lớn. Các nghiên cứu tiếp theo có thể tập trung vào tác động của hình tượng phụ nữ mới đến xã hội đương đại. Hướng nghiên cứu này phù hợp với xu thế học thuật quốc tế.

21/04/2026

Trích đoạn nội dung tài liệu

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI BANG JEONG YUN H×NH T¦îNG NG¦êI PHô N÷ MíI TRONG MéT Sè T¸C PHÈM TI£U BIÓU CñA Tù LùC V¡N §OµN Vµ V¡N HäC HµN QUèC THêI NHËT THUéC LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN HÀ NỘI - 2020 BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM HÀ NỘI BANG JEONG YUN H×NH T¦îNG NG¦êI PHô N÷ MíI TRONG MéT Sè T¸C PHÈM TI£U BIÓU CñA Tù LùC V¡N §OµN Vµ V¡N HäC HµN QUèC THêI NHËT THUéC Chuyên ngành: Văn học Việt Nam Mã số: 9.21 LUẬN ÁN TIẾN SĨ NGỮ VĂN Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS TRẦN VĂN TOÀN PGS.TS LÊ HẢI ANH HÀ NỘI - 2020 i LỜI CAM ĐOAN Tôi xin cam đoan bản luận án này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi. Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận án là trung thực. Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó. Tôi chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình. Hà Nội, tháng 12 năm 2019 Tác giả luận án BANG JEONG YUN ii MỤC LỤC MỞ ĐẦU . Lý do chọn đề tài . Mục đích nghiên cứu . Đối tượng và phạm vi nghiên cứu . Nhiệm vụ nghiên cứu . Phương pháp nghiên cứu . Đóng góp mới của luận án . Cấu trúc của luận án . TỔNG QUAN T NH H NH NGHI N CỨU VẤN ĐỀ . Văn học so sánh và sự vận dụng đối với nền văn học Việt Nam và Hàn Quốc đầu thế kỷ XX . Lịch sử nghiên cứu hình tƣợng ngƣời phụ nữ trong sáng tác của Tự Lực văn đoàn . 15 121 nội ung t t ởng . 15 122 ngh thu t i u hi n . Lịch sử nghiên cứu hình tƣợng ngƣời phụ nữ trong văn học Hàn Quốc thời Nhật thuộc . 25 131 nội ung t t ởng . 25 132 ngh thu t i u hi n . Tiểu kết và định hƣớng của luận án . BỐI CẢNH Xà HỘI – VĂN HOÁ CHO SỰ XUẤT HIỆN H NH TƢỢNG NGƢỜI PHỤ NỮ MỚI TRONG CÁC SÁNG TÁC CỦA TỰ LỰC VĂN ĐOÀN VÀ VĂN HỌC HÀN QUỐC THỜI NHẬT THUỘC . Quan niệm truyền thống về ngƣời phụ nữ thời phong kiến . 35 2 1 1 Ng ời phụ nữ trong xã hội Vi t Nam thời phong kiến . 35 2 1 2 Ng ời phụ nữ trong xã hội n u thời phong kiến . Phƣơng Tây và sự hình thành quan niệm mới về ngƣời phụ nữ mới . 38 iii 2 2 1 C ng uộ hi n ih x hội i t N m . 39 2 2 2 C ng uộ hi n ih x hội n u . Nền văn học đƣợc hiện đ i h và vấn đề phụ nữ . Hi n i h văn h v qu n ni m của Tự Lự văn o n v vấn phụ nữ . 54 232 i n ih văn h v uộ ấu tr nh gi i ph ng phụ nữ ủ á nh văn n u thời Nh t thuộ . Một số điểm tƣơng đồng và khác biệt trong xã hội Việt Nam và Hàn Quốc đầu thế kỷ XX . H NH TƢỢNG NGƢỜI PHỤ NỮ MỚI TRONG SÁNG TÁC CỦA TỰ LỰC VĂN ĐOÀN VÀ VĂN HỌC HÀN QUỐC THỜI NHẬT THUỘC - NHỮNG TƢƠNG ĐỒNG. Ngƣời phụ nữ – n n nhân của nền luân lý cũ và chế độ gi trƣởng . 70 3 1 1 Kh ng ợc quy n tự chủ trong tình yêu và bị ỡng ép hôn nhân . Bị chồng v gi ình hồng i xử t b c . V đ p củ hình tƣợng ngƣời phụ nữ mới. 83 321 N t p truy n th ng ở ng ời phụ nữ m i. 85 3 2 2 Ng ời phụ nữ m i v i những t t ởng tiến bộ của thời i . Một vài điểm tƣơng đồng trên phƣơng diện nghệ thuật . 103 3 3 1 Mi u t trự qu n ngo i hình nh n v t . 103 3 3 2 Độ tho i nội t m v sự i s u mi u t tâm lý nhân v t . H NH TƢỢNG NGƢỜI PHỤ NỮ MỚI TRONG SÁNG TÁC CỦA TỰ LỰC VĂN ĐOÀN VÀ VĂN HỌC HÀN QUỐC THỜI NHẬT THUỘC - NHỮNG KHÁC BIỆT . Bi kịch bị áp bức củ ngƣời phụ nữ và những vấn đề củ hội Việt Nam, Hàn Quốc đầu thế kỷ XX . Các ung đột và tƣ tƣởng nghệ thuật đƣợc biểu hiện qua hình tƣợng ngƣời phụ nữ . 115 iv 4 2 1 Cá xung ột v vi x y ựng h th ng nhân v t . Quan h xung ột giữa các h th ng nhân v t v t t ởng ngh thu t củ nh văn . Gi i quyết xung ột v sự lự h n h nh ộng ủ á nh n v t nữ . Một số khác biệt trên phƣơng diện nghệ thuật . 139 4 3 1 Ngh thu t t o ựng á tình hu ng kị h t nh . 139 4 3 2 Lự h n i m nhìn v ngh thu t ph n t h t m l nh n v t . Ngh thu t x y ựng tình hu ng g y hấn. 148 CÁC ẤN PHẨM Đà CÔNG BỐ CỦA TÁC GIẢ TRONG THỜI GIAN HOÀN THÀNH LUẬN ÁN . 151 TÀI LIỆU THAM KHẢO . 1PL 1 MỞ ĐẦU 1. ý do chọn đề tài 1. Cuối thế k XIX, Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp. Chế độ thuộc địa, với tất cả những tác động tiêu cực của nó, vẫn góp phần đem đến một cửa sổ mới để nhìn ra thế giới. Cùng với sự hình thành của những đô thị mới, sự ra đời của hệ thống trường học Pháp – Việt, sự hình thành của báo chí… xã hội Việt Nam từng bước được hiện đại hóa theo mô hình phương Tây. Tất cả những điều đó làm thay đổi cái nhìn, sự k vọng của xã hội về người phụ nữ cũng như đem đến cho người phụ nữ những cơ hội mới để tham dự vào đời sống xã hội. Đây là tiền đề để làm xuất hiện hình tượng người phụ nữ mới trong nền v n học Việt Nam nửa đầu thế k XX mà ở đó các sáng tác của Tự Lực v n đoàn là một thành tựu nổi bật. Tình hình tương tự cũng xảy ra ở Hàn Quốc thời Nhật thuộc (1910 – 1945). Sự cai trị của Nhật rất tàn bạo và nhiều người Hàn Quốc đã tìm cách kháng cự, dẫn đến phong trào đòi độc lập. Phong trào này đã bị Nhật đàn áp dã man và hàng ngàn người đã bị Nhật giết hại. Trong thế chiến thứ hai, nhiều người Hàn Quốc đã bị cưỡng bức trong các nỗ lực chiến tranh của Nhật. Hàng vạn người đàn ông đã bị bắt đi lính trong quân đội Nhật trong khi đến 200.000 phụ nữ đã bị cưỡng bức lao động hay làm nô lệ tình dục được gọi là "úy an phụ" (慰安婦, 위안부). Những người phụ nữ trở thành nạn nhân của hành vi cưỡng hiếp và lạm dụng hàng ngày. Cụ Lee Ok Seon là một trong số 200.000 phụ nữ, chủ yếu đến từ bán đảo Hàn Quốc phải mua vui cho lính Nhật trong các nhà thổ từ n m 1932 đến 1945 cho biết: “Tôi bị ép làm gái nhà thổ n m 15 tuổi. Nhiều em 14 tuổi cũng phải phục vụ 40 đến 50 người mỗi ngày”. Cuộc sống đau đớn và tủi nhục đến nỗi nhiều phụ nữ đã tự tử bằng cách nhảy xuống nước hoặc treo cổ trên n i. Tình trạng này vì thế đã có tác động không nh đến số phận và vị thế của người phụ nữ Hàn Quốc suốt thời k Nhật thuộc. Và cho đến nay nó vẫn là một ám ảnh day dứt trở đi trở lại trong các luận bàn của cả giới nghiên cứu sử học lẫn v n học ở Hàn Quốc. Tuy nhiên, Nhật Bản khi chiếm đóng Hàn Quốc đã áp dụng một loạt biện pháp để bước đầu cải cách bán đảo Hàn truyền thống về cả kinh tế và xã hội. Người Hàn 2 Quốc bắt đầu được tiếp xúc với v n hóa phương Tây thông qua Nhật Bản. Người Hàn Quốc mà đặc biệt là người phụ nữ, mặc dù bị hạn chế học hành nhưng đã có sự trưởng thành nhiều hơn xưa. Chịu ảnh hưởng của v n hóa hiện đại hơn người phụ nữ đã có ý thức hơn về bản thân, có khát khao muốn bình đẳng, tự lập, khát vọng muốn được giải phóng bản thân và khẳng định mình, cống hiến cho xã hội. Tất cả những biến đổi trên đã khiến người phụ nữ trở thành một trong những hình tượng nghệ thuật trung tâm trong các sáng tác v n học của những tác giả tiêu biểu như: Choi Jung Hee Sim Hun Kang Kyung Ae Baek Shin Ae Yeam Sang Sub… Đây là lý do để chúng tôi thực hiện một nghiên cứu so sánh về hình tượng người phụ nữ trong sáng tác của Tự Lực v n đoàn và người phụ nữ trong v n học Hàn Quốc thời Nhật thuộc. Việc tìm hiểu những sự tương đồng và khác biệt về hình tượng người phụ nữ trong v n học Việt Nam và Hàn Quốc không ch gi p xác định những thuộc tính của nền v n học khu vực từng một thời k chia s rất nhiều đặc điểm chung và vì thế góp phần tổng quát một vài khía cạnh trên phương diện lý thuyết vượt ra ngoài phạm vi quốc gia mà còn gi p ch ng ta hiểu sâu sắc hơn những đặc trưng cả thành tựu lẫn hạn chế trong v n học và v n hoá của hai quốc gia. Đây cũng là một xu thế nghiên cứu v n học ở thời điểm hiện tại cũng như trong tương lai khi mà sự tìm tòi trong phạm vi mỗi quốc gia dường như là không đủ để cắt ngh a những trường hợp có tính chất phổ biến ở một khu vực rộng lớn thậm chí vươn tầm thế giới. Đồng thời sự giao lưu và hội nhập giữa các quốc gia cho ph p người ta tiếp cận nhận diện nhiều nền v n học khác nhau một cách d dàng thuận tiện hơn làm nảy sinh nhu cầu cắt ngh a những hiện tượng tương đồng trong đó sự gặp gỡ về hình tượng người phụ nữ mới của Tự lực v n đoàn ở Việt Nam và của các nhà v n Hàn Quốc thời Nhật thuộc đang gợi ra rất nhiều hướng đi th vị. Hiện nay, tại Hàn Quốc có một t lệ không nh các cô dâu Việt Nam và ở chiều ngược lại không ít người Hàn Quốc sang Việt Nam để làm việc lao động trong đó có các phụ nữ theo chồng sang sinh sống.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ