Chương 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1. Châm biếm - Cơ sở lý thuyết tổng quan Trong phạm vi luận án, trước hết chúng tôi giới thuyết sơ lược về khái niệm và đặc điểm nghệ thuật châm biếm làm cơ sở nền tảng lí thuyết để triển khai các luận điểm chính của đề tài. Châm biếm là một khái niệm rất quen thuộc trong đời sống của con người và trong văn học nghệ thuật. Từ “châm biếm” gợi cho ta liên tưởng tới hệ thống các khái niệm thẩm mỹ: tiếng cười, cái hài, cái hài hước, đả kích, mỉa mai, giễu nhại… Cuộc sống có vô vàn tiếng cười khác nhau, tuy nhiên không phải mọi tiếng cười đều có tính chất châm biếm.
Đối tượng của châm biếm được xem là cái xấu về mặt xã hội, tha hóa về đạo đức, nhân cách, xấu về lối sống như: thói xu nịnh, háo danh, giả dối, độc ác, phản bội… Những cái xấu, cái đáng cười đó tồn tại phổ biến trong những cái đã cũ, lạc hậu, lỗi thời. Vì vậy, tiếng cười trong châm biếm phải là một loại vũ khí, phương tiện để phê phán mặt trái của cuộc sống, phủ định tất cả những gì xấu xa, giả dối. Là hình thức phê phán đặc biệt, nó mang ý nghĩa xã hội sâu sắc, khẳng định cái mới và cái tốt đẹp. Nhận thấy vai trò và tầm quan trọng ấy, từ lâu con người đã đưa châm biếm vào ngôn ngữ và các loại hình nghệ thuật, nâng tầm trở thành môt phương tiện nghệ thuật đắc dụng.
Châm biếm cũng như các dạng thức khác của cái hài đã xuất hiện từ rất lâu, trong văn học cổ La Mã dưới dạng trữ tình tố cáo. Sự phát triển của các quốc gia cổ đại làm nảy sinh tính chuẩn mực của tư duy và đánh giá, nảy sinh sự phân biệt thiện – ác. Điểm xuất phát của sự phân tích châm biếm là những ý niệm chuẩn mực về trật tự hợp lý của thế giới (ví dụ sáng tác châm biếm của Juvenal, nhà trào phúng cổ La Mã). Các phong cách châm biếm của hai nhà thơ Roman, Horace và Juvenal, đã trở thành hình mẫu cho các nhà văn thời đại sau này.
Qua đó, châm biếm được phân ra hai loại như sau: Châm biếm Horatian: là sự khoan dung, vui nhộn, tinh tế dí dỏm, khôn ngoan. Khi sử dụng tính hài hước nhẹ nhàng, nó hướng tới mục đích tự xóa bỏ và sửa chữa các thói hư tật xấu trong cá nhân và xã hội. Nó định hướng sự hóm hỉnh, phóng đại, sự hài hước về bản thân đối với cái gọi là là sự điên rồ, chứ không phải là cái ác. Âm điệu cảm thông của Horatian phổ biến trong xã hội hiện đại.
Châm biếm Juvenial là sự châm biếm quyết liệt, dữ dội, cay đắng và tạo cảm 9 z giác nghiêm trọng. Được đặt theo tên của nghệ sĩ trào phúng Juvenal, La Mã thời Augustus, kiểu châm biếm này gây nên tiếng cười đậm nét hơn. Nó giải quyết các tệ nạn xã hội và những điểm đáng lên án, sự tham nhũng của con người và các thể chế qua cách thể hiện khinh miệt, xúc phạm và chế nhạo. Hình thức này thường bi quan, đặc trưng của nó là sự mỉa mai, châm chọc, phẫn nộ về sự thoái hóa đạo đức và tật xấu cá nhân chứ không chú trọng đến tính hài hước.
Đến thời Phục hưng, nguyên tắc xuất phát của châm biếm là bản tính người, là ý niệm coi con người như thước đo của trạng thái nhân thế, vạn vật (Trong Ca tụng ngu si của E. Kế tiếp là thời chủ nghĩa cổ điển, châm biếm thể hiện từ những quy phạm đạo đức và thẩm mỹ trừu tượng, khách thể châm biếm là những nhân vật tập trung những đặc điểm tiêu cực. Ở thời Khai sáng, sự phê phán gay gắt, châm biếm nhằm vào trạng thái thiếu hoàn thiện của nhân thế và bản tính con người. Nhiệm vụ thẩm mỹ tối cao của châm biếm là kích thích và làm sống dậy cái trí nhớ về những giá trị chân, thiện, mỹ, sỉ nhục sự ngu dốt, thấp hèn.
Người sáng tạo ra tiếng cười phủ định càng mang tính lý tưởng phổ quát, toàn dân thì châm biếm càng khỏe khoắn, năng lực phục sinh càng mạnh. Từ những truyện châm ngôn hay thơ Chaucer đến những sự mở rộng của John Skelton, Shakespeare, Ben Jonson, Erasmus và Cervantes, truyền thống châm biếm phát triển rực rỡ suốt thời Trung Cổ và Phục hưng, đỉnh điểm thời hoàng kim của sự châm biếm là vào cuối thế kỷ XVII và đầu thế kỷ XVIII. Những cái tên quen thuộc như Swift, Samuel Butler, John Dryden, Alexander Pope, Richard Steele, Henry Fielding, và William Hogarth ở Anh và Nicolas Boileau-Despreaux, La Fontaine, Moliere, và Voltaire ở Pháp đã gợi nhớ đến ngọn nguồn kế thừa và phát triển của nghệ thuật châm biếm. Thế kỷ XIX, châm biếm đã nhường chỗ cho một hình thức phê bình nhẹ nhàng hơn.
Cách cư xử và đạo đức vẫn còn có tính chế nhạo nhưng thường là trong khuôn khổ của một tác phẩm dài hơn, chẳng hạn như một cuốn tiểu thuyết. Tuy nhiên, châm biếm có thể được tìm thấy trong các bài thơ của Lord Byron, của William S. Gilbert, trong kịch của Oscar Wilde và G.Bernard Shaw, và trong tiểu thuyết của W.Thackeray, Charles Dickens, và nhiều người khác. Những nghệ sĩ châm biếm người Mỹ thời đó bao gồm Washington Irving, James Russell Lowell, Oliver Wendell Holmes và Mark Twain.
Truyện châm biếm thế kỷ XX vẫn tiếp tục ghi nhận và phát huy những phản ứng của Horatian hay Juvenial đối với những con người trong thời đại bị chi phối bởi 10 z sự sợ hãi của bom nguyên tử và bị ô nhiễm, nạn phân biệt chủng tộc, ma túy, kế hoạch lỗi thời và sự lạm dụng quyền lực, các nhà phê bình đã nhận thấy một số thay đổi. Trong một số trường hợp, nghệ sĩ châm biếm là khán giả chứ không phải là nghệ sĩ. Cái gọi là thay đổi, dù là một vở kịch (như Thở của Samuel Beckett, trong đó có tiếng thở được nghe trên sân khấu không chiếu đèn), một câu chuyện đùa (của Lenny Bruce), hoặc một tạo hình (của John Chamberlain), tìm cách gây nhầm lẫn cho khán giả bằng cách trình bày sự giả dối như một tác phẩm nghệ thuật thực sự, do đó làm cho hoài nghi về toàn bộ khái niệm “nghệ thuật”. Các nghệ sĩ châm biếm đương đại được chú ý là Sinclair Lewis, James Thurber, Aldous Huxley, Evelyn Waugh, W.
Auden, Phillip Roth và Joseph Heller. Nói đến nghệ thuật châm biếm tức là chúng ta nói tới cách thức lựa chọn đối tượng, tổ chức văn bản nghệ thuật để vạch trần mâu thuẫn giữa bản chất và hiện tượng, phơi bày những đặc tính xấu xa của đủ mọi hạng người trong xã hội, từ đó làm bật lên tiếng cười châm biếm, đả kích. Bằng cách tống tiễn mọi cái lỗi thời, tiêu diệt đối tượng không khoan nhượng, nó đã tô vẽ, nói quá thậm chí bóp méo đối tượng bằng các biện pháp: cường điệu, ngoa dụ, phóng đại, nghịch dị. Châm biếm còn có thể sử dụng các thủ thuật: so sánh, ẩn dụ, ví von.
để tạo nên tiếng cười sảng khoái, sâu sắc và mang lại hiệu quả lớn. Nghệ sĩ thường sử dụng chất hài, mỉa mai, trào phúng, đả kích. để tăng cường sức mạnh châm biếm của mình, hài hước để vui vẻ, mỉa mai, trào phúng để tỉnh táo nhận diện đối tượng và đả kích có tác dụng rõ rệt là đánh gục đối phương về mặt tinh thần. Tính đả kích được thể hiện bằng cái cười nghiêm khắc đối với cái xấu xa bị bóc trần khỏi vỏ bọc ngoài đẹp đẽ, tạo cho người đọc có thái độ đúng đắn với tiêu cực, cái xấu và dễ dàng nhận diện được nó trong những cái tưởng như rất thường trong cuộc sống.
Quả thực vấn đề hài hước, châm biếm đến nay vẫn là một khái niệm hấp dẫn trong các câu chuyện, sinh hoạt đời sống, trong các lĩnh vực văn hóa nghệ thuật và đời sống học thuật của giới nghiên cứu. Trên tinh thần nghiên cứu của luận án, chúng tôi cho rằng trong chất châm biếm cũng góp phần thể hiện rõ các đặc trưng tinh thần hiểu biết và khám phá, tính hoài nghi, hài hước và biểu hiện tự do sáng tạo của tiểu thuyết. Châm biếm thuộc phạm trù mỹ học là cái hài, sự phê phán mang tính cảm xúc sáng tạo tích cực và có sức công phá mạnh mẽ đối với cái tiêu cực luôn tồn tại trong xã hội. Trong văn học nghệ thuật chúng ta có thể bắt gặp nhiều khái niệm: Hài hước, mỉa mai, châm biếm, trào phúng, đả kích, giễu nhại.
Các phạm trù liên quan đến cái hài 11 z có những đặc điểm chung và riêng. Đòi hỏi sự phân biệt rành rọt sẽ rất khó khăn vì chúng luôn hỗ trợ, đồng hành cùng nhau. Tuy nhiên có một số đặc điểm nhận dạng khái niệm, chúng tôi giới thuyết ra đây cũng nhằm làm rõ thêm nghệ thuật châm biếm là đối tượng nghiên cứu của luận án và hiệu quả, sức mạnh của châm biếm khi huy động nhiều màu sắc hài đa dạng. Nhìn ở các góc độ của nhiều lĩnh vực nghệ thuật khác nhau, châm biếm cũng được nhìn nhận là một nghệ thuật rất phổ biến và hiệu quả.
Trong các sách và giáo trình Mỹ học đại cương của các tác giả Lê Văn Dương, Lê Đình Lục, Lê Hồng Vân, Nxb Giáo dục năm 2003, Mỹ học đại cương của tác giả Đỗ Văn Khang, 2002 (tái bản), Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, khi viết về cái hài trong cuộc sống và trong nghệ thuật, các tác giả đều đề cập tới khái niệm châm biếm. Châm biếm là một trong các cấp độ từ thấp đến cao của cái hài, tính theo mức độ gay gắt và tính chất triệt để của sự phê phán. Thứ nhất là Hài hước – bông đùa, bông lơn. Ở đây cái cười xuất phát từ mâu thuẫn bề ngoài và mang tính chất nhẹ nhàng, thoả mái, nhằm xây dựng cho đối tượng, loại bỏ những yếu điểm để đối tượng ngày một hoàn thiện hơn.
Thứ hai là Dí dỏm – chỉ bảo, gợi mở. Cái cười ở đây có tính chất trí tuệ hơn, những sự đối lập gây cười nằm sâu bên trong bản chất sự vật, hiện tượng hơn. Tiếng cười trong trường hợp này thường có ý nghĩa nhận thức. Thứ ba là Châm biếm, mỉa mai.
Tiếng cười ở đây bắt đầu mang mầu sắc phê phán có tính phủ định đối tượng nhưng mức độ còn nhẹ nhàng chưa hẳn nhất thiết phải mang tính thù địch, nó dành cho những hiện tượng buồn cười, thậm chí mù quáng nhưng có thể sửa chữa được. Cuối cùng là Đả kích, loại cười này thể hiện khuynh hướng xã hội mạnh mẽ nhất. Sự phê phán ở đây hoàn toàn mang tính chất phủ định.