Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI VÀ CON ĐƯỜNG THƠ CỦA PHẠM THỊ NGỌC LIÊN 1. Cơ sở lí luận của đề tài 1. Thơ với tư cách là một thể loại văn học Trong cuốn Thơ và mấy vấn đề trong thơ Việt Nam hiện đại, tác giả Hà Minh Đức có viết: “Khi con người bắt đầu cảm thấy những mối liên hệ giữa mình và thực tại, và sâu sắc hơn là khi có nhu cầu tự biểu hiện thì thơ ca đã xuất hiện” [8, tr. Như vậy, có thể nói thơ ra đời cùng với khát vọng chân chính của loài người trong quan hệ với thế giới.
Trải qua thăng trầm của lịch sử, thơ là một trong những thể loại có sức hấp dẫn diệu kì nhất. Đó là tiếng nói trong sâu thẳm trái tim mỗi con người, cứu rỗi những linh hồn cô đơn cần sự sẻ chia và chắp cánh cho những ước mơ. Trên thực tế, tồn tại rất nhiều quan niệm khác nhau về thơ. Theo Từ điển thuật ngữ văn học: “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những xúc cảm mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu".
Bàn về thơ, Sóng Hồng viết: “Thơ là một hình thái nghệ thuật cao quý, tinh vi. Người làm thơ phải có tình cảm mãnh liệt thể hiện sự nồng cháy trong lòng. Nhưng thơ là tình cảm và lí trí kết hợp một cách nhuần nhuyễn và có nghệ thuật. Tình cảm và lí trí ấy được diễn đạt bằng những hình tượng đẹp đẽ qua những lời thơ trong sáng vang lên nhạc điệu khác thường.” [13, tr 309, 310] Platon coi bản chất của thơ là tôn giáo.
Sáng tạo thơ là do thần nhập, Những thi phẩm xuất sắc là do thần thánh làm ra, không phải là tác phẩm của người và các nhà thơ chỉ có nghĩa vụ là người phát ngôn cho các vị thần linh. Theo đó, thơ gắn với những cảm giác huyền bí, bất khả tri, nhà thơ trở thành cầu nối biểu đạt cảm giác xuất thần vi diệu. Về quan niệm thơ thoát ly hiện thực, Bêlinxki phản biện: “Không có nhà thơ nào tự bản thân mình hay do bản thân mình mà thành vĩ đại, cũng không thể do những nỗi đau riêng tư hay hạnh phúc riêng tư của mình, nhà thơ vĩ đại chính là người đau khổ và hạnh phúc đều ăn sâu vào trong xã hội, trong lịch sử và do đó mà trở thành một bộ phận khăng khít thành đại biểu của xã hội của thời đại và của nhân loại. Chỉ có nhà thơ nhỏ bé mới vì mình và đau khổ cho riêng mình nhưng cũng lại chỉ anh ta nghe lấy 11 những lí nhí của anh, những tiếng mà xã hội và nhân loại không buồn nghe đến” [25, tr.528] Thơ phát huy tác dụng và sức sống bất diệt khi bén rễ từ cuộc đời.
Hiện thực dù tươi đẹp hay nghiệt ngã cũng đều là mảnh đất màu mỡ nảy sinh những tác phẩm bất diệt. Nhà thơ, hơn ai hết phải là đại biểu cho thời đại của anh ta với những suy nghĩ, cách nhìn cuộc sống. Nguyễn Đình Thi trong “Mấy ý nghĩ về thơ” cũng cho rằng những câu, những lời thơ có thể “Làm sống ngay lên một tình cảm, một nỗi niềm trong lòng người đọc”. “Thơ là tiếng nói của tâm hồn, của niềm mơ ước.
Thơ bộc lộ khát vọng vươn tới một lý tưởng cao đẹp và cao thượng” [8; tr. Cùng quan niệm thơ là tiếng nói của tâm hồn, của niềm mơ ước, Huy Cận đã khẳng định: “Cái chỗ đến cuối cùng của thơ là phải đem đến một cái gì nâng sự sống lên” [9; tr. Do đó, thơ đòi hỏi đến sự điển hình cao độ - điển hình của tâm trạng, hình ảnh, nhịp điệu. “Thơ là hình thức sáng tác văn học phản ánh cuộc sống, thể hiện những tâm trạng, những cảm xúc mạnh mẽ bằng ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu” [13; tr.
Quan niệm thơ trên được nhiều người đồng tình. Bởi lẽ, quan niệm này đã nêu rõ nội dung của thơ là phản ánh đời sống, thể hiện tâm trạng, cảm xúc mạnh mẽ và hình thức nghệ thuật là ngôn ngữ hàm súc, giàu hình ảnh và nhất là có nhịp điệu. Đáng chú ý, quan niệm đã nêu rõ được sự khác biệt của ngôn ngữ thơ với ngôn ngữ trong những thể loại văn học khác. Thơ ca là một công trình nghệ thuật sáng tạo bằng ngôn từ.
Ngôn ngữ thơ được các thi sĩ lựa chọn, gọt giũa và tổ chức thành một hệ thống vừa tinh tế, ngắn gọn, súc tích. Từ những quan niệm khác nhau về thơ, người viết cho rằng, ở bất cứ vị trí nào thơ ca phải đảm bảo đúng hình thức nghệ thuật của nó, vận dụng sáng tạo ngôn ngữ nghệ thuật để làm đúng chức năng mà nó vốn có. Thơ ca là sợi dây kết nối trái tim với trái tim, thơ ca hướng con người tới những giá trị nhân bản tốt đẹp- ấy là nó đã làm trọn vẹn thiên chức cao quý của nó. Đặc trưng cơ bản của thơ Là sản phẩm sáng tạo thuộc phương thức trữ tình, thơ lấy sự bộc lộ thế giới nội cảm của nhà thơ trước cuộc đời làm điểm tựa.
Thơ là tiếng nói của tình cảm, là những rung động và cảm xúc của con người trước cuộc sống được bộc lộ một cách chân tình, tự nhiên. Tình cảm trong thơ nảy sinh từ những rung động trực tiếp của nhà thơ, có rung 12 động mới có cảm xúc để sáng tạo, rung động là tiền đề, cơ sở để nảy sinh và phát triển những tình cảm trong thơ. Thiên về biểu hiện cảm xúc, hàm súc cô đọng, ngôn ngữ giàu nhịp điệu là những đặc trưng cơ bản của thơ. Lí tưởng và khát vọng của nhân dân, chủ nghĩa nhân đạo là tiền đề làm nên chất thơ.
Chất thơ là điều kiện cơ bản của thơ, không có chất thơ thì không thể có thơ hay. Có thể chia thơ theo những tiêu chí khác nhau. Dựa vào thể luật có thể chia ra thơ cách luật và thơ tự do. Dựa vào phương thức phản ánh, có thể chia ra thơ tự sự và thơ trữ tình.
Xét về mặt gieo vần, có thể chia ra thơ có vần và thơ không vần. Ngoài ra, người ta có thể phân loại thơ theo nội dung như thơ tình yêu, thơ triết lí, thơ chính trị, thơ đời thường. Nhưng, xét trên phương diện thể loại, thơ dù xuất hiện dưới dạng thức nào thì đều có chung những đặc điểm cơ bản sau: 1. Nhân vật trữ tình giàu cảm xúc Là thể loại văn học thuộc phương thức biểu hiện trữ tình, là tiếng nói của tình cảm con người, những rung động của trái tim trước cuộc đời, thơ tác động đến người đọc bằng sự nhận thức cuộc sống, những liên tưởng, tưởng tượng phong phú.
Nhưng tình cảm trong thơ không tự nhiên mà có. Nói về điều này, nhà văn M. Gorki cũng cho rằng: “Thơ trước hết phải mang tính chất tình cảm. Tình cảm trong thơ gắn trực tiếp với chủ thể sáng tạo nhưng không phải là một yếu tố đơn độc, tự nó nảy sinh và phát triển.
Thực ra đó chính là quá trình tích tụ những cảm xúc, những suy nghĩ của nhà thơ do cuộc sống tác động và tạo nên. Không có cuộc sống, không có thơ” [18, tr56]. Thơ tuy biểu hiện những cảm xúc, những tâm sự rất riêng tư của người sáng tạo, nhưng những tác phẩm thơ chân chính bao giờ cũng mang ý nghĩa khái quát về nhân loại, về cuộc đời và con người, đó là cầu nối dẫn đến sự sẻ chia, đồng cảm, giữa người với người trên khắp thế gian này. Tứ thơ dẫn mạch ý thơ Tứ thơ (thi tứ), một khái niệm hết sức hàm súc, phong phú.
Các nhà nghiên cứu đều nhận định những bài thơ hay thường có tứ thơ độc đáo. Tứ là linh hồn bài thơ, cái làm toát lên vẻ đẹp, sắc thái của bài thơ. Ý là nội dung, ý nghĩa bài thơ. Phan Ngọc cho rằng: “Thơ là cách tổ chức sắp xếp ngôn ngữ hết sức quái đản để bắt người tiếp nhận phải nhớ, phải cảm xúc và phải suy nghĩ do chính hình thức tổ chức ngôn ngữ này”.
13 Tứ thơ thường có mục đích quy tụ đến một tư tưởng nào đó cao hơn. Bàn về thi pháp thơ, Lê Quý Đôn phát biểu: “Mạch kị thẳng, ý kị lộ”. Tư tưởng này lại do chính người đọc tiếp nhận, phát hiện ra, thông qua tứ thơ, chứ không phải do tác giả áp đặt lên. Có nhiều cách định nghĩa, nhưng theo người viết, tứ thơ là cách cấu trúc các ý thơ, liên kết và sắp xếp mọi yếu tố cấu thành của bài thơ để tập trung thể hiện có hiệu quả nhất chủ đề trữ tình.
Tứ thơ có thể hình dung như một cái khung kết cấu để mạch thơ vận động như dòng chảy có khởi đầu, phát triển và kết thúc. Khởi đầu khơi nguồn cho lời thơ ngân vang bất tận theo cảm xúc của thi nhân. Ý thơ sẽ tản mạn đôi khi đánh mất cái mạch tình sâu thẳm vốn có của thơ ca nếu không có thi tứ dẫn dắt. Thi tứ góp phần nâng bài thơ lên một tầm cao mới cả về ý nghĩa khái quát cũng như hiệu quả thẩm mỹ.
Viết về đề tài mùa thu, Thu hứng của Đỗ Phủ mang đến cho người đọc cảm giác nặng trĩu nỗi u hoài qua bức tranh thu ảm đạm, hắt hiu nơi biên tái. Đó cũng là bức tranh tâm cảnh trĩu nặng u sầu của thi nhân khi nhớ về quê cũ nơi đất khách quê người trong cảnh loạn li, nghèo đói. Cấu tứ của bài thơ hết sức chặt chẽ khi câu nào cũng xiết chặt chủ đề, trong cảnh thu có tình thu, và tình thu lại làm đậm thêm ấn tượng về cảnh. Một chiều thu nào đó ở vùng đất Quỳ Châu qua lời thơ của thi nhân Đỗ Phủ lại cho ta thức nhận về giai đoạn suy vong của triều đình phong kiến đương thời.
Thơ, do vậy, có khả năng mở rộng mọi biên độ của cách cảm, cách nghĩ. Vẫn là đề tài mùa thu nhưng Thu điếu của Nguyễn Khuyến lại hiện lên thân thuộc nhờ tứ thơ đặc biệt. Lấy cảm hứng từ mùa thu dân dã nơi đồng bằng Bắc Bộ, cộng hưởng mọi giác quan tinh nhạy, Nguyễn Khuyến dẫn độc giả đắm chìm vào một thế giới phẳng với sắc thu trong trẻo, thanh sơ, yên bình và gần như tĩnh lặng tuyệt đối. Ở bài thơ này, ý thu trong trẻo dội lại trong tâm hồn con người những thanh thuần của sự sống, tình thu với những cảm xúc yên bình.