Chương 1 GIỚI THIỆU CHUNG 1. Thời đại Tây Sơn 1. Bối cảnh xã hội thế kỉ XVIII Đầu thế kỉ XVI, nhà Lê bắt đầu có những biểu hiện khủng hoảng. Vua chỉ mải hoang dâm hưởng lạc, xao nhãng việc triều chính.
Quan lại gây bè kết cánh, thao túng quyền hành, nhũng nhiễu dân lành. Đời sống nhân dân lâm vào cảnh khốn cùng. Mâu thuẫn giữa nông dân và địa chủ, giữa nhân dân và nhà nước phong kiến trở nên gay gắt. Các cuộc khởi nghĩa bùng nổ khắp nơi đã góp phần làm nghiêng đổ Lê triều.
Bên cạnh đó, nội chiến giữa các thế lực phong kiến đã tạo điều kiện để Mạc Đăng Dung lên chấp chiếm quyền hành. Thế nhưng, chỉ sau một thời gian, nhà Mạc bị lật đổ bởi một số cựu thần nhà Lê với danh nghĩa “phù Lê diệt Mạc”. Năm 1627, cuộc chiến tranh giữa Trịnh (Trịnh Kiểm - con rể của Nguyễn Kim) và Nguyễn (Nguyễn Hoàng - con trai thứ của Nguyễn Kim) bùng nổ. Gần nửa thế kỉ, hai bên đánh nhau bảy lần bất phân thắng bại.
Sau đó, hai bên giảng hòa, lấy giới tuyến Sông Gianh (Quảng Bình) để chia cắt đất nước thành Đàng Ngoài (chúa Trịnh) và Đàng Trong (chúa Nguyễn). Ngoài ra, Đàng Ngoài lại hình thành chế độ vua Lê – chúa Trịnh dù quyền hành của vua Lê chỉ là “hữu danh vô thực”. Đất nước chia cắt đã gây nên những hậu quả nặng nề, ảnh hưởng đến sự phát triển và còn tạo điều kiện để nhà Thanh dòm ngó, lăm le xâm chiếm đất nước. Giữa thế kỉ XVIII, chính quyền phong kiến Đàng Ngoài dần suy thoái.
Vua Lê thực chất đã mất uy quyền trong cung cấm. Nhà nước Lê – Trịnh bất lực vô năng trong việc quản lí, điều hành, mặc cho thế lực quan lại tác oai tác quái với nhân dân. Đời sống nhân dân lầm than, điêu linh. Từ cuối thế kỉ XVII đến đầu thế kỉ XVIII, các cuộc khởi nghĩa nông dân nổi dậy khắp nơi ở Đàng Ngoài.
Đồng thời, Đàng Trong cũng rơi dần vào thế khủng hoảng bởi những mâu thuẫn giai cấp gay gắt. Nông dân Đàng Trong cũng dấy cờ khởi nghĩa. Những cuộc vùng dậy của nông dân hai Đàng đã gióng hồi chuông dài báo hiệu một cuộc khởi nghĩa nông dân Tây Sơn với quy mô sẽ làm rung chuyển cả đất nước. Phong trào Tây Sơn với sự nghiệp bảo vệ và thống nhất đất nước 1.
Khởi nghĩa Tây Sơn bùng nổ Năm 1771, ba anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ và Nguyễn Lữ dựng cờ khởi nghĩa ở Tây Sơn chống lại chính quyền nhà Nguyễn. Nghĩa quân truyền rao lời hịch: “Giận Quốc phó ra lòng bội bạn nên Tây Sơn xướng nghĩa cần vương” (Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh, 2007). Đồng thời, họ cũng giương cao khẩu hiệu: “Đánh đổ quyền thần Trương Phúc Loan, ủng hộ hoàng tôn Phúc Dương 1 ” (Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh, 2007). Nhờ chiến lược khéo léo đó, nghĩa quân đã chiêu mộ được rất nhiều bạn đồng chí hướng, từ thổ hào vùng Huyền Khê, Nguyễn Thung, thủ lĩnh các dân tộc thiểu số đến các thương nhân Hoa kiều.
Tất cả cùng nhau luyện tập võ nghệ, hội bàn để chuẩn bị cuộc khởi nghĩa với khẩu hiệu “lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo”. Tây Sơn lật đổ chính quyền họ Nguyễn Mùa thu năm 1773, nghĩa quân Tây Sơn chiếm lĩnh phần lớn Quy Nhơn. Chỉ trong vòng một năm, nghĩa quân làm chủ một vùng rộng lớn từ Quảng Nam ở phía Bắc đến Bình Thuận ở phía Nam. Biết tin Tây Sơn khởi nghĩa, chúa Trịnh ở Đàng Ngoài đem quân tiến đánh chúa Nguyễn và dẹp loạn Tây Sơn.
Chúa Nguyễn không địch nổi, vượt biển vào Gia Định. Quân Trịnh đã chiếm được Phú Xuân. Tháng 3 năm 1775, một trận đánh lớn diễn ra giữa nghĩa quân Tây Sơn và lực lượng chúa Trịnh. Nghĩa quân lâm vào thế bất lợi, vừa đối kháng với quân Trịnh ở phía Bắc, vừa phòng thủ với quân Nguyễn ở phía Nam.
Nguyễn Nhạc đành dụng kế hòa hoãn với chúa Trịnh để dồn lực chống kháng với chúa Nguyễn. Trong những năm 1776, 1777, 1782 và 1783, quân Tây Sơn bốn lượt tấn công Gia Định. Chính quyền của chúa Nguyễn bị đánh đổ. Nguyễn Ánh trốn chạy khỏi Gia Định, nương náu nước Xiêm.
Tây Sơn đánh tan quân Xiêm xâm lược 1 Phúc Dương là cháu đích tôn của Nguyễn Phúc Khoát, bị Phúc Loan phế truất. 10 Nguyễn Ánh vẫn không từ bỏ mưu định khôi phục chính quyền nên cầu viện vua Xiêm đánh Tây Sơn. Cuối tháng 7 năm 1784, vua Xiêm cất hai vạn thủy binh, ba vạn bộ binh kéo vào Gia Định. Cuối năm đó, quân Xiêm đã chiếm đóng gần nửa vùng đất Gia Định.
Sau thắng lợi, quân Xiêm quấy nhiễu, cướp của, đốt nhà và tàn sát dân lành. Nhân dân Gia Định khắc sâu nỗi căm hờn quân Xiêm xâm lược. Đầu tháng 1 năm 1785, Nguyễn Huệ tiến vào Gia Định, chọn trận địa quyết chiến ở khúc sông Mĩ Tho, từ Rạch Gầm đến Xoài Mút. Sáng ngày 19 tháng 1 năm 1785, Nguyễn Huệ nhử quân Xiêm vào trận địa mai phục.
Thủy binh Tây Sơn từ Rạch Gầm – Xoài Mút và cù lao Thới Sơn đồng loạt tấn công quân địch một cách bất ngờ và quyết liệt. Chiến thuyền của quân Xiêm tan tác. Quân địch chỉ còn sống sót vài nghìn tên, theo đường bộ tháo chạy về nước. Riêng Nguyễn Ánh lưu vong ở Xiêm.
Trận Rạch Gầm – Xoài Mút đã đập tan âm mưu xâm lược của quân Xiêm. Chiến thắng ấy đã thể hiện tinh thần quật cường của nghĩa quân Tây Sơn, đã khẳng định tài năng quân sự kiệt xuất của Nguyễn Huệ. Tây Sơn lật đổ chính quyền Lê – Trịnh Sau khi đánh tan năm vạn quân Xiêm xâm lược, với khí thế bách chiến bách thắng, Nguyễn Huệ cùng tướng sĩ tiến ra Bắc Hà theo hai hướng thủy, bộ. Quân Tây Sơn giương cao khẩu hiệu “phù Lê diệt Trịnh”, kêu gọi sự ủng hộ của nhân dân Bắc Hà và tấn công ồ ạt vào Thăng Long.
Tháng 7 năm 1786, chính quyền họ Trịnh bị lật đổ. Ranh giới sông Gianh, Lũy Thầy được phá bỏ. Đất nước được thống nhất đã đáp ứng nguyện vọng của nhân dân. Nguyễn Huệ giao hòa cùng vua Lê Hiển Tông.
Sau đó, nghĩa quân rút quân về Nam. Khi Tây Sơn lui quân, Bắc Hà rối loạn. Vua Lê bất lực trước thế lực tàn dư của họ Trịnh. Nạn đói hoành hành.
Đời sống nhân dân lầm than. Với sự giúp đỡ của Nguyễn Hữu Chỉnh, Lê Chiêu Thống đánh bại quân Trịnh. Nhưng sau đó, Chỉnh lại lộng quyền, mưu định chống lại Tây Sơn. Cuối 1787, Nguyễn Huệ phái Vũ Văn Nhậm tiến quân ra Bắc diệt Chỉnh.
Chỉnh chạy lên phía Bắc nhưng cuối cùng bị bắt giết. Sau đó, đến lượt Vũ Văn Nhậm lại có mưu đồ riêng. Nguyễn Huệ tiến quân ra Bắc tiêu diệt Nhậm, đồng thời kêu gọi và thu nhận các sĩ phu Bắc Hà như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Vũ Huy Tấn cùng nhau xây dựng chính quyền ở Bắc Hà. 11 Sau hơn mười lăm năm, quân Tây Sơn đã đánh đổ ba tập đoàn phong kiến Lê, Trịnh, Nguyễn và hoàn thành sự nghiệp thống nhất đất nước.
Tây Sơn đánh tan quân Thanh xâm lược Lê Chiêu Thống cầu viện nhà Thanh. Vua Thanh nhân cơ hội này mưu đồ xâm lược nước ta và mở rộng lãnh thổ xuống phía Nam. Tháng 11 năm 1788, vua Càn Long huy động hai mươi chín vạn quân, do Tôn Sĩ Nghị làm tổng chỉ huy, chia thành bốn đạo quân men theo đường Lạng Sơn, Cao Bằng, Tuyên Quang và Quảng Ninh ồ ạt tiến vào nước ta. Ngoài ra, Càn Long còn cử đạo thủy quân vượt biển vào Thanh Hóa, phối hợp với quân bộ binh đánh từ phía Bắc xuống.
Với sự nội ứng của Lê Chiêu Thống, tháng 12 năm 1788, quân chủ lực Tôn Sĩ Nghị chiếm được Thăng Long. Nhận tin cấp báo, ngày 25 tháng chạp năm Mậu Thân, Nguyễn Huệ lập đàn, tế cáo trời đất, lên ngôi Hoàng Đế, lấy hiệu là Quang Trung và ra lệnh tức tốc tiến quân. Đến Nghệ An, Thanh Hóa, vua chiêu mộ thêm binh lính. Đại quân Tây Sơn lập phòng tuyến Tam Điệp với quân bộ và phòng tuyến Biện Sơn với quân thủy.
Cuộc tổng tấn công được chuẩn bị quy mô với năm đạo quân. Sách lược đã sẵn sàng, vua Quang Trung quyết định ăn Tết sớm. Quân lính hồ hởi lên đường. Không một tên giặc nào ở các đồn Gián Khẩu, Thanh Quyết và Nhật Tảo chạy thoát.
Nửa đêm mồng ba Tết, quân Quang Trung bao vây và hạ diệt đồn Hà Hồi. Mờ sáng mồng năm Tết, đoàn tượng binh của vua Quang Trung bất ngờ tấn công đồn Ngọc Hồi. Hàng vạn quân ồ ạt xông lên với đại bác, hỏa hổ. Quân giặc không chống đỡ nổi, tháo chạy tán loạn về phía Thăng Long và bị tiêu diệt ở khu Đầm Mực, Quỳnh Đô.
Rạng sáng mùng năm Tết, tiếng súng nổ, khói lửa rực cháy và tiếng hò reo của đại quân ngày càng gần đồn Ngọc Hồi, Tôn Sĩ Nghị “ngựa không kịp đóng yên, người không kịp mặc áo giáp” (Trương Hữu Quýnh, Phan Đại Doãn, Nguyễn Cảnh Minh, 2007) chạy lên mạn Bắc. Trưa mồng năm Tết Kỉ Dậu, vua Quang Trung ngồi trên lưng voi, áo bào xạm đen, tiến vào Thăng Long trong muôn vàn tiếng hò reo của nhân dân. Chưa đầy năm ngày đêm, quân Tây Sơn đã đánh tan mưu đồ của bè lũ bán nước hại dân. Chiến thắng Đống Đa – Ngọc Hồi đã sáng ngời tên tuổi vị anh hùng áo vải Quang Trung Nguyễn Huệ trong công cuộc vệ quốc của dân tộc.
Vua Quang Trung xây dựng đất nước 1. Tổ chức chính quyền và chính sách quân sự, quốc phòng Sau chiến thắng ngoại xâm, vua Quang Trung bắt đầu xây dựng chính quyền mới. Vua thực hiện chính sách phân phong các con trấn trị các khu vực quan trọng. Hàng ngũ quan lại là những người thân tín của vua như Bùi Đắc Tuyên, các võ tướng Tây Sơn và cựu thần nhà Lê tự nguyện hợp tác cùng triều Tây Sơn như Ngô Thì Nhậm, Phan Huy Ích, Nguyễn Bá Lân, Nguyễn Thiếp.
Vua Quang Trung cố gắng củng cố an ninh đất nước, ban hành chính sách quân sự, quốc phòng vững mạnh. Lực lượng bao gồm thủy binh, bộ binh, tượng binh, kị binh và pháo binh. Chiến thuyền có nhiều hạng loại, có thể chuyên chở được binh lính, voi chiến hoặc đại bác. Vũ khí có giáo mác, cung tên, súng trường, đại bác và hỏa hổ.
Vua thi hành chế độ quân dịch, cứ ba suất đinh lấy một suất binh. Phục hồi và phát triển kinh tế Năm 1789, vua Quang Trung ban hành Chiếu khuyến nông nhằm kêu gọi dân lưu li quy hồi cố hương và cung cấp ruộng đất để họ cày cấy.