đặt vấn đề nghiên cứu ký như một hình thức diễn ngôn, một sự kiến tạo văn bản và kiến tạo sự thật dựa trên mã thể loại và mã tư tưởng hệ. Bên cạnh đó, tác giả phân tích văn học ký Việt Nam giai đoạn 1945 - 1975 như một lát cắt lịch sử để làm sáng tỏ các vấn đề lý thuyết. Luận án Truyện ngắn Việt Nam 1945 - 1975 như một trường diễn ngôn (2014) của Hoàng Thị Thu Giang đã tìm hiểu trường diễn ngôn truyện ngắn 1945 - 1975 với các bộ phận tâm và biên của nó, từ đó xác lập quan niệm và nhận thức về diễn ngôn, trường diễn ngôn văn học, trường diễn ngôn thể loại gắn với lịch sử xã hội. Đóng góp của luận án đó chính là từ thực tế nghiên cứu truyện ngắn Việt Nam 1945 - 1975 như một trường diễn ngôn, luận án xác lập và làm rõ khái niệm trường diễn ngôn văn học, cụ thể ở đây là một trường diễn ngôn thể loại.
Bên cạnh đó, luận án 16 chỉ ra tính chất phức tạp trong cấu trúc chỉnh thể của hiện thực truyện ngắn giai đoạn 1945 - 1975, những tác động của trường tri thức và quyền lực tới sự hình thành các thành phần tạo nên cấu trúc đó cũng như tác động trở lại của các thành phần đó tới đời sống văn hóa, xã hội, chính trị giai đoạn này. Cuối cùng, luận án phân tích tổng thể các thẩm quyền, chiến lược thực thi các thẩm quyền của diễn ngôn khu vực trung tâm và khu vực ngoại biên trong trường diễn ngôn truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975, từ đó có cái nhìn toàn diện về truyện ngắn Việt Nam 1945 – 1975. Luận văn Tự truyện, Hồi ký - Tự truyện của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài từ góc nhìn diễn ngôn nghệ thuật (2014) của Nguyễn Thị Thu Thủy đã vận dụng lý thuyết diễn ngôn trong việc tìm hiểu mã nội dung và mã nghệ thuật của diễn ngôn trong tự truyện, hồi ký - tự truyện Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài. Mục đích của tác giả luận văn là cắt nghĩa, lý giải vai trò của yếu tố “sự thật” được xem là cốt lõi, hạt nhân của thể loại tự truyện, hồi ký - tự truyện của các tác giả Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài.
Qua đó, tác giả luận văn hướng đến việc nghiên cứu các yếu tố quyền lực, những động cơ, mục đích, yếu tố bên ngoài thể loại chi phối cách cảm, cách xây dựng, kể về “sự thật” của mỗi tác giả. Trong luận án Ba mô hình truyện lịch sử trong văn xuôi hiện đại Việt Nam (2018) của tác giả Ngô Thanh Hải đã sử dụng lý thuyết diễn ngôn, chủ yếu của V. Chiupa làm cơ sở. Từ cơ sở lý thuyết này, tác giả quan niệm truyện lịch sử như một loại hình diễn ngôn đặc thù để thực hiện một chiến lược giao tiếp với sự tham gia, thống nhất của ba yếu tố: chủ thể phát ngôn, đối tượng hướng tới/ tiếp nhận và cái tham chiếu (nội dung được thể hiện).
Ba yếu tố đó sẽ kết hợp, tạo ra các mô hình cấu trúc, những bức tranh thế giới riêng cho các xu hướng viết truyện lịch sử dựa theo các cấu trúc nền móng trong văn học cổ. Nhìn chung, các tác giả đã vận dụng có hiệu quả các lý thuyết cũng như hướng tiếp cận diễn ngôn trong các công trình cũng như bài viết của mình. Kết quả nghiên cứu về vận dụng lý thuyết diễn ngôn đã cho thấy được ý nghĩa quan trọng của việc tìm hiểu lý thuyết này ở mức độ tiếp cận mới so với hướng truyền thống trước đây. Tuy nhiên, hầu hết các công trình chỉ mới ứng dụng một phần hay một 17 vài hướng tiếp cận diễn ngôn như cách tiếp cận theo hướng phong cách học, thi pháp học của M.
Chiupa, hướng tiếp cận xã hội học của M. Foucault hoặc khai thác diễn ngôn theo khía cạnh trần thuật quy mô nhỏ như diễn ngôn người kể chuyện, diễn ngôn đối thoại, diễn ngôn độc thoại,. Công trình được xem là công phu nhất trong việc ứng dụng lý thuyết diễn ngôn trong nghiên cứu văn học ký là công trình Ký như một loại hình diễn ngôn của Nguyễn Thị Ngọc Minh. Những công trình trên là hướng gợi mở rất quan trọng để chúng tôi tiếp cận đề tài.
Tình hình nghiên cứu hồi ký, tự truyện hiện đại Việt Nam 1. Nghiên cứu mang tính tổng quan Có khá nhiều công trình nghiên cứu về hồi ký, tự truyện trong Văn học Việt Nam hiện đại nói chung. Các nhà nghiên cứu chú ý giải thích sự phát triển có tính lịch sử của hai thể loại trên qua các chặng đường. Đặc biệt là sự bùng nổ và ưu thế của thể hồi ký, tự truyện vào những thập niên cuối thế kỉ XX.
Nhiều nhà nghiên cứu có cái nhìn tổng kết, khái quát quá trình phát triển của thể loại hồi ký, tự truyện trong các công trình văn học sử. Một số tác giả như Nguyễn Văn Long, Hà Minh Đức, Bích Thu, Lý Hoài Thu, Đỗ Hải Ninh, Lê Tú Anh…đã đưa ra nhiều ý kiến, nhận định sắc sảo liên quan đến những thành tựu của hồi ký, tự truyện, những đóng góp cũng như thách thức của thể loại trong đời sống văn học đương đại. Trong Giáo trình văn học Việt Nam hiện đại, tác giả Nguyễn Văn Long đưa ra nhận định: Trong văn xuôi những năm 90 và vài năm gần đây, thấy nổi lên hai mảng đáng chú ý: hồi ký - tự truyện và tiểu thuyết lịch sử. Một loạt hồi ký của các nhà văn, nhà thơ, cả những nhà hoạt động xã hội đã đem lại cho người đọc những hiểu biết cụ thể, sinh động và xác thực về xã hội, lịch sử, về đời sống văn học và gương mặt một số nhà văn ở những thời kì đã qua (Nguyễn Văn Long, 2007, tr.
Hà Minh Đức trong công trình Ký viết về chiến tranh cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội đã đề cao vai trò của hồi ký trong sự nghiệp cách mạng của dân tộc. Theo ông, giá trị của hồi ký không chỉ xác định ở phạm vi văn học mà còn được khẳng định trên nhiều lĩnh vực khác như: chính trị, quân sự, sử học, xã hội 18 học. Trong đó, sự thật của đời sống được tôn trọng ở mức cao nhất. Trong công trình này, tác giả cũng tìm hiểu sự khác biệt giữa cái tôi trong ký với cái tôi trong hồi ký cũng như tiểu thuyết - tự truyện.
Theo tác giả: “Người viết tiểu thuyết - tự truyện nói về mình, cuộc sống của mình, nhưng không giới hạn trong khuôn khổ đó. Họ luôn có xu hướng mở rộng để nói về cuộc đời chung. Dòng tự truyện trực tiếp xoay quanh cái tôi luôn được mở rộng ra hết cảnh ngộ này đến cảnh ngộ khác, của cuộc đời trực tiếp và gián tiếp có liên hệ đến cái tôi” (Hà Minh Đức, 1980, tr. Còn dòng kể của hồi ký lại là: “một mạch trôi trực tuyến hơn xoay quanh cái tôi.
Những sự kiện ít móc nối vào nhau để mở ra những khung cảnh và liên hệ mới. Kết cấu của tác phẩm hồi ký cũng dựa chủ yếu vào kết cấu vốn có của cuộc đời thực và ít đổi thay tái tạo lại khung sự kiện” (Hà Minh Đức, 1980, tr. Lý Hoài Thu trong công trình Đồng cảm và sáng tạo lý giải sự phát triển và ghi nhận những đóng góp của hồi ký cho đời sống văn học: Những năm cuối cùng khép lại thế kỉ XX, sự ra đời của các tác phẩm hồi ký nhằm đáp ứng lại nhu cầu nhìn nhận và suy ngẫm về quá khứ. Những vấn đề của văn chương một thuở, những số phận đã thành dĩ vãng giờ được tái dựng theo một tinh thần mới, giả thiết mới đã gây không ít những cuộc tranh cãi mà nhờ đó, đời sống văn học trở nên có khí sắc hơn (Lý Hoài Thu, 2006, tr.
Bà tỏ ra tin tưởng vào sự phát triển của thể loại này và tin rằng đây là thể loại có thể tạo ra nhiều thành công trong thời kỳ đổi mới. Bà nhấn mạnh những nỗ lực của các tác giả hồi ký trong việc tìm tòi, khám phá, cách tân về nội dung ý nghĩa, nghệ thuật biểu hiện, đặc biệt là phong cách cá nhân của từng tác giả. Khi tìm hiểu sự vận động của thể hồi ký, nhiều tác giả thống nhất với quan điểm của nhà nghiên cứu Bích Thu trong việc ghi nhận vị trí của thể loại này trong quá trình phát triển của thể loại. Theo đó, sự xuất hiện của những hồi ký “mang đậm dấu ấn của cái tôi nhà văn, thuật lại lai lịch, đời tư, đời viết, quan hệ chủ thể sáng tạo với đồng nghiệp, bạn văn, người thân và bạn đọc…thu hút sự chú ý của người đọc đã chứng tỏ cái thế mạnh riêng của tác phẩm ký” (Phan Cự Đệ - chủ biên, 2004, tr.
19 Ngoài ra, trong một số công trình khác có đưa ra các ý kiến khẳng định hồi cố, hồi thuật là khuynh hướng nổi trội trong văn xuôi giai đoạn hiện nay. Nguyễn Phượng trong bài viết Văn học và nền kinh tế thị trường trong mười năm cuối thế kỷ khẳng định sự phát triển nổi trội của thể hồi ký, tự truyện trong bối cảnh nền kinh tế thị trường: “Không ngẫu nhiên, thể loại hồi ký, tự truyện và tiểu thuyết tự truyện lại gần như chiếm thế thượng phong trong giai đoạn này. Công chúng dành sự quan tâm khá đặc biệt với một số tiểu thuyết tự truyện và hồi ký như Cát bụi chân ai (1992) và Chiều chiều (1999) của Tô Hoài, Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn…”. Sự quan tâm đó theo ông là do “xu hướng giải thiêng, giải ảo”, “sự thay đổi nhận thức và quan niệm về các hệ giá trị” và “cái nhìn tỉnh táo, duy thực đầy can đảm” của nhà văn trong việc “diễn đạt những sự thật từng bị che khuất bởi những chi phối của lịch sử và thời cuộc” (Nguyễn Phượng, 2008).
Trong mục Các thể ký văn học in trong cuốn Lý luận văn học, Hà Minh Đức cũng dự đoán: “Trong tương lai sẽ có rất nhiều hồi ký, nhật ký xuất hiện khi người ta quan tâm đến cuộc đời riêng của nhiều loại người vốn có đóng góp hoặc nổi danh ở một lĩnh vực nào đó” (Hà Minh Đức, 1996, tr. Liên quan đến vấn đề thể loại tự truyện, có nhiều câu hỏi đặt ra rằng liệu Việt Nam có thể loại tự truyện hay không? Việc phân định thể loại, đặc biệt là tự truyện và tiểu thuyết tự thuật cũng có nhiều luồng ý kiến khác nhau.