Tổng quan luận án

Tính cấp thiết và khoảng trống nghiên cứu

Trong tiến trình phát triển của văn học Việt Nam, hồi ký và tự truyện là hai thể loại văn xuôi nghệ thuật có vị trí đặc biệt. Mặc dù là hai thể loại phân biệt, giữa hồi ký và tự truyện tồn tại một đường biên động, khó phân định ranh giới một cách tuyệt đối. Cả hai đều thuộc loại hình tự sự mang tính hồi cố, hướng về việc tái hiện quá khứ; tuy nhiên, mô chuẩn nghệ thuật của từng thể loại lại có sự khác nhau: bản chất của tự truyện cho phép sự hư cấu nhằm kiến tạo hình tượng hoàn chỉnh, trong khi hồi ký đòi hỏi tính xác thực của sự kiện và sự khách quan của người viết.

Vào giai đoạn cuối thập niên 90 của thế kỷ XX đến đầu thế kỷ XXI, đời sống văn học Việt Nam chứng kiến sự xuất hiện phong phú của các tác phẩm hồi ký, tự truyện từ giới văn nghệ sĩ, nhà phê bình, nhà báo đến các tướng lĩnh cách mạng. Các tác phẩm này đã hé lộ nhiều sự kiện văn học, số phận văn chương và các vấn đề lịch sử phức tạp dưới một cái nhìn đa chiều, khoan dung và thấu tình đạt lý hơn.

Trước đây, việc tiếp cận hai thể loại này chủ yếu dựa trên lý thuyết phản ánh truyền thống. Sự phát triển của các ngành khoa học xã hội và nhân văn hiện đại đã mở ra mô hình nghiên cứu mới: định vị hiện tượng văn học trong mạng lưới diễn ngôn, xem ngôn ngữ không chỉ là công cụ phản ánh hiện thực mà chính là phương thức kiến tạo nội dung, quy định bởi các quy tắc tư tưởng và định chế xã hội chìm sâu. Khoảng trống nghiên cứu mà luận án xác định là việc thiếu vắng một công trình mang tính hệ thống, chuyên sâu tiếp cận hồi ký và tự truyện Việt Nam hiện đại từ góc độ diễn ngôn thể loại, đặc biệt là khảo sát sự tác động của mã tư tưởng và mã nghệ thuật thể loại.

Mục tiêu nghiên cứu

Mục đích chính của luận án là làm rõ sự chi phối của mã thể loại đối với diễn ngôn hồi ký, tự truyện trong văn học Việt Nam hiện đại thông qua cơ chế tác động kép: mã thể loại vừa quy định nhà văn tuân thủ các đặc trưng nòng cốt, vừa cho phép mở rộng phạm vi phản ánh nhằm tạo hiệu quả nghệ thuật mới. Từ đó:

  1. Xác định nội dung, tư tưởng và nghệ thuật của tác phẩm qua mã tư tưởng thể loại và mã nghệ thuật thể loại.
  2. Chỉ ra các khuynh hướng, sắc thái chủ đạo trong diễn ngôn hồi ký, tự truyện hiện đại Việt Nam.
  3. Đánh giá đóng góp của hai thể loại này đối với nền văn học dân tộc và cung cấp tư liệu phục vụ nghiên cứu, giảng dạy.

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

  • Đối tượng nghiên cứu: Diễn ngôn hồi ký, tự truyện trong văn học Việt Nam hiện đại nhìn từ góc độ thể loại.
  • Phạm vi nghiên cứu: Luận án không khảo sát toàn bộ tác phẩm hồi ký, tự truyện hiện đại mà chọn mẫu khảo sát dựa trên 4 tiêu chí cụ thể:
Tiêu chí Nội dung chi tiết
1. Về thể loại Khảo sát các tác phẩm có giá trị nghệ thuật, phản ánh tư duy nghệ thuật chuẩn mực. Hồi ký tập trung vào việc tái hiện quá khứ người thật, việc thật mang tính xác thực cao. Tự truyện tập trung vào tự thuật cuộc đời với sự đồng nhất giữa tác giả - người kể chuyện - nhân vật chính, trọng tâm là lịch sử phát triển nhân cách với tính xác thực tương đối.
2. Về tác giả Tập trung vào hồi ký, tự truyện của các nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận, phê bình văn học chuyên nghiệp (thuộc địa hạt văn học) như: Tô Hoài, Nguyên Hồng, Lan Khai, Hồ Dzếnh, Vũ Bằng, Ma Văn Kháng, Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Khải, Tố Hữu, Lưu Trọng Lư, Huy Cận, Anh Thơ, Quách Tấn, Hoàng Minh Châu, Phùng Quán, Nguyễn Công Hoan, Đào Xuân Quý, Đặng Thai Mai, Vũ Ngọc Phan, Nguyễn Hiến Lê,... Loại trừ tác phẩm của chính trị gia, tướng lĩnh, người làm giải trí, cá nhân vô danh hoặc tác phẩm do chấp bút, đặt hàng.
3. Về tác phẩm Chọn các tác phẩm có giá trị thẩm mỹ, gây được tiếng vang trong dư luận và được giới chuyên môn đánh giá cao, được xuất bản chính thức trong nước. Không khảo sát các tác phẩm công bố trên internet hoặc xuất bản tại hải ngoại.
4. Về bối cảnh Khảo sát các tác phẩm tiêu biểu qua ba chặng đường lịch sử văn học: giai đoạn 1900 - 1945, giai đoạn 1945 - 1975 và giai đoạn sau năm 1975.

Tổng quan tài liệu và vị trí của luận án

Tình hình nghiên cứu lý thuyết diễn ngôn và sự vận dụng tại Việt Nam

Nghiên cứu diễn ngôn bắt nguồn từ thuật hùng biện cổ đại và trở thành một ngành khoa học độc lập từ giữa những năm 1960. Trên thế giới, các học giả tiêu biểu đã phát triển hệ thống lý thuyết diễn ngôn theo nhiều hướng:

  • M. Bakhtin khởi xướng hướng nghiên cứu "siêu ngôn ngữ học", phân tích các thể loại lời nói, tính đối thoại và tính tương tác tư tưởng hệ.
  • M. Foucault nghiên cứu diễn ngôn gắn với quyền lực, tri thức và hệ hình tri thức qua các công trình Từ ngữ và các vật, Khảo cổ học tri thức, Trật tự diễn ngôn.
  • R. Barthes (Độ không của lối viết, Những huyền thoại), Tz. Todorov (Thi pháp văn xuôi), G. Genette (Diễn ngôn tự sự), David Nunan, Gillian Brown, George Yule, Mark Halliday mở rộng phân tích cấu trúc diễn ngôn tự sự và chức năng ngôn ngữ.
  • O. Rusakov trong Các lý thuyết diễn ngôn hiện đại: kinh nghiệm phân loại đã tổng thuật các hướng phân loại của T. Phillips.

Tại Việt Nam, nghiên cứu diễn ngôn được giới thiệu qua hai nhánh chính:

  1. Ngôn ngữ học: Các công trình của Diệp Quang Ban (Văn bản và liên kết trong tiếng Việt, Giao tiếp diễn ngôn và cấu tạo văn bản), Đỗ Hữu Châu (Đại cương ngôn ngữ học), Nguyễn Hòa (Phân tích diễn ngôn – một số vấn đề lý luận và phương pháp, Bàn về mạch lạc của diễn ngôn).
  2. Lý luận và nghiên cứu văn học: Phương Lựu (Những bậc tiên phong của tư duy hậu hiện đại), Trần Đình Sử (Bản chất xã hội thẩm mỹ của diễn ngôn văn học, Khái niệm diễn ngôn trong nghiên cứu văn học hôm nay), Nguyễn Mạnh Quỳnh (Một số luận điểm cơ bản trong diễn ngôn tự sự của G. Genette), Nguyễn Thị Ngọc Minh (Ba cách tiếp cận khái niệm diễn ngôn).
  3. Vận dụng vào văn học Việt Nam: Trần Văn Toàn (nghiên cứu diễn ngôn tính dục, diễn ngôn giới tính, diễn ngôn về Hà Nội), Nguyễn Thị Thu Hằng (diễn ngôn đối thoại và độc thoại trong truyện ngắn Nam Cao), Nguyễn Đăng Vy (diễn ngôn trần thuật Nhất Linh, Khái Hưng), Hoàng Tố Mai (diễn ngôn gián tiếp tự do), Thái Thị Thu Thắm (diễn ngôn người kể chuyện của Đoàn Minh Phượng), Trần Thiện Khanh, Nguyễn Thành Trung, Nguyễn Văn Hùng, Hoàng Thị Hường.
  4. Các luận văn, luận án tiêu biểu:
    • Nguyễn Thị Hải Phương (2012), Tiểu thuyết Việt Nam đương đại – nhìn từ góc độ diễn ngôn.
    • Nguyễn Thị Ngọc Minh (2013), Ký như một loại hình diễn ngôn.
    • Hoàng Thị Thu Giang (2014), Truyện ngắn Việt Nam 1945 - 1975 như một trường diễn ngôn.
    • Nguyễn Thị Thu Thủy (2014), Tự truyện, Hồi ký - Tự truyện của Nguyên Hồng, Hồ Dzếnh, Tô Hoài từ góc nhìn diễn ngôn nghệ thuật.
    • Ngô Thanh Hải (2018), Ba mô hình truyện lịch sử trong văn xuôi hiện đại Việt Nam.

Tình hình nghiên cứu hồi ký, tự truyện hiện đại Việt Nam

  • Nghiên cứu tổng quan: Nguyễn Văn Long, Hà Minh Đức (Ký viết về chiến tranh cách mạng và xây dựng chủ nghĩa xã hội), Lý Hoài Thu (Đồng cảm và sáng tạo), Bích Thu, Nguyễn Phượng, Triệu Xuân (Tự truyện không hẳn là văn học), Lê Tú Anh (Tự truyện như một thể loại văn học), Đỗ Hải Ninh (Mối quan hệ giữa tự truyện - tiểu thuyết và một số dạng tự thuật trong văn học Việt Nam đương đại), Huỳnh Như Phương.
  • Các luận án, luận văn chuyên sâu về thể loại:
    • Phạm Ngọc Lan (2006), Tự truyện trong Văn học Việt Nam hiện đại.
    • Ngô Thị Ngọc Diệp (2013), Hồi ký trong văn học Việt Nam từ sau cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay.
    • Nguyễn Quang Hưng (2016), Đặc điểm hồi ký văn học Việt Nam từ 1975 đến 2010.
    • Trần Thị Mai Phương (2017), Tư duy nghệ thuật trong hồi ký văn học Việt Nam từ 1986 đến nay.
    • Nguyễn Văn Tổng (2019), Đặc điểm tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học Việt Nam thế kỷ XX.
    • Lê Thị Nhiên (2019), Những đặc điểm cơ bản của hồi ký cách mạng Việt Nam.
  • Nghiên cứu tác giả, tác phẩm cụ thể:
    • Tô Hoài (Cát bụi chân ai, Chiều chiều): Được phân tích bởi Đặng Thị Hạnh, Phong Lê, Vương Trí Nhàn, Nguyễn Đăng Điệp, Nguyễn Văn Thọ, Lê Minh Hiền, Đoàn Thị Thúy Hạnh, Nguyễn Thúy Nga, Dương Thị Thu Hiền, Nguyễn Thị Ái Vân.
    • Vũ Bằng (Thương nhớ mười hai, Bốn mươi năm nói láo): Hoàng Như Mai, Đặng Anh Đào, Vũ Xuân Triệu, Văn Giá.
    • Nguyên Hồng (Những ngày thơ ấu): Nguyễn Đăng Điệp, Hà Minh Đức, Vũ Ngọc Phan, Lê Thị Lan.
    • Nguyễn Khải (Thượng đế thì cười): Nguyễn Đăng Mạnh, Vương Trí Nhàn, Đặng Anh Đào.
    • Ma Văn Kháng (Năm tháng nhọc nhằn, năm tháng nhớ thương): Hồ Anh Thái, Nguyễn Ngọc Thiện, Lê Thị Kim Liên.
    • Anh Thơ (Từ bến sông Thương, Tiếng chim tu hú, Bên dòng chia cắt): Lê Thị Nguyên, Bùi Thị Luyến.

Vị trí và khoảng trống luận án giải quyết

Phần lớn các công trình trước đây chỉ tiếp cận hồi ký, tự truyện theo phương pháp thi pháp học truyền thống, hoặc vận dụng lý thuyết diễn ngôn ở quy mô hẹp (cấp độ trần thuật vi mô, diễn ngôn nhân vật). Chưa có công trình nào triển khai một cách tổng thể, hệ thống đối với hồi ký và tự truyện Việt Nam hiện đại dưới khung phân tích diễn ngôn thể loại, kết hợp giữa mã tư tưởng (quan niệm về sự thật, cái tôi) và mã nghệ thuật (cấu trúc, điểm nhìn, giọng điệu, sự dung hợp hư cấu - phi hư cấu).


Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết và khái niệm công cụ

  1. Lý thuyết diễn ngôn: Luận án dựa trên 3 hướng tiếp cận chính:
    • Diễn ngôn như cấu trúc ngôn từ: Tiếp thu từ F. de Saussure, R. Barthes, Tz. Todorov, Iu. Lotman và đặc biệt là G. Genette (Diễn ngôn tự sự) với các phạm trù Thời (trình tự, tốc độ, tần suất), Thức (khoảng cách, tiêu điểm trần thuật), Giọng (ngôi kể, cấp độ trần thuật).
    • Diễn ngôn như lời nói phong cách hóa mang tư tưởng hệ: Tiếp thu lý thuyết siêu ngôn ngữ học của M. Bakhtin về bản chất đối thoại, tính chỉnh thể sống động của lời nói gắn với môi trường văn hóa xã hội.
    • Diễn ngôn như sản phẩm kiến tạo từ định chế xã hội: Tiếp thu quan điểm của M. Foucault về mối quan hệ giữa quyền lực, tri thức và hệ hình tri thức.
  2. Khái niệm mã (Code) và mã thể loại: Vận dụng khái niệm mã từ lý thuyết thông tin để xác lập hai phương diện:
    • Mã tư tưởng thể loại: Các quy ước về sự thật, lập trường tư tưởng, nhận thức về hiện thực và sự tự nhận thức của chủ thể.
    • Mã nghệ thuật thể loại: Hệ thống phương thức tổ chức văn bản, điểm nhìn, kết cấu, giọng điệu và mức độ hư cấu.
  3. Lý thuyết loại hình và sự tương tác thể loại:
    • Kế thừa quan điểm phân loại văn học của Aristote, Hegel, Bielinski, mỹ học Marx, quan niệm phương Đông (Tào Phi, Lưu Hiệp) và trường phái G. Pospelov - V. Khalizep (phân loại theo thể tài: sử thi, thế sự, đời tư).
    • Xác định sự phân hóa và tương tác giữa hồi ký (nội dung lịch sử - dân tộc, thế sự; tự sự phi hư cấu hướng ngoại) và tự truyện (nội dung đời tư; tự sự phi hư cấu hướng nội, cho phép hư cấu nghệ thuật).

Bảng đối sánh đặc trưng hồi ký và tự truyện theo khung lý thuyết của luận án

Phương diện so sánh Thể loại Hồi ký Thể loại Tự truyện
Bản chất thể loại Thuộc loại hình ký (phi hư cấu). Thuộc loại hình truyện (cho phép hư cấu nghệ thuật).
Tâm điểm phản ánh Thế giới bên ngoài, sự kiện lịch sử, bức tranh xã hội, các biến động thời đại. Thế giới bên trong, hành trình hình thành và phát triển nhân cách của cá nhân.
Vị trí của cái "tôi" Cái "tôi" nhân chứng, quan sát thực tại, trạng thái tương đối tĩnh. Cái "tôi" chủ thể trung tâm, tự soi rọi nội tâm, trạng thái động và không hoàn kết.
Tính chất tư duy Tư duy "hướng ngoại". Tư duy "hướng nội".
Yêu cầu về sự thật Đòi hỏi tính chính xác của sự kiện, tính xác thực lịch sử cao. Tính xác thực tương đối của cốt truyện, sự thật khúc xạ qua tâm tưởng.
Thể tài chủ đạo Thể tài lịch sử - dân tộc, đạo đức thế sự. Thể tài đời tư.

Phương pháp nghiên cứu

  • Phương pháp loại hình: Xác định đặc trưng nghệ thuật và quy ước loại hình văn xuôi tự sự chi phối quá trình kiến tạo diễn ngôn.
  • Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Đặt tác phẩm vào bối cảnh văn hóa, lịch sử, cơ chế xã hội và các mối quan hệ quyền lực chi phối chiến lược tạo tác diễn ngôn.
  • Phương pháp hệ thống: Xem xét sự vận động của hồi ký, tự truyện trong tiến trình lịch sử văn học Việt Nam qua các giai đoạn để lý giải sự biến đổi của mã thể loại.
  • Phương pháp so sánh: Đối chiếu tác phẩm của các tác giả trên cùng trục chủ đề hoặc thời điểm sáng tác, đối chiếu khung thể loại hồi ký và tự truyện.
  • Phương pháp chọn mẫu và phân tích văn bản: Phân tích các dẫn liệu văn bản thực tế từ danh mục tác phẩm khảo sát.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu

Chương 1 hệ thống hóa toàn diện hai mảng tư liệu nghiên cứu lớn:

  • Tình hình nghiên cứu lý thuyết diễn ngôn trên thế giới và tại Việt Nam, phân định rõ các hướng tiếp cận ngôn ngữ học thuần túy và hướng tiếp cận thi pháp học - xã hội học trong văn học.
  • Tình hình nghiên cứu thể loại hồi ký, tự truyện tại Việt Nam qua các công trình văn học sử, các chuyên luận lý luận thể loại, các luận án tiến sĩ/thạc sĩ và các bài viết về những tác giả tiêu biểu (Tô Hoài, Vũ Bằng, Nguyên Hồng, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Anh Thơ). Chương này chỉ ra hạn chế của các nghiên cứu trước đó và khẳng định tính tất yếu của hướng tiếp cận diễn ngôn thể loại.

Chương 2: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc nghiên cứu hồi ký, tự truyện từ góc nhìn diễn ngôn thể loại

Chương 2 thiết lập nền tảng lý thuyết và thực tiễn cho toàn bộ luận án:

  • Trình bày hệ thống quan niệm về thể loại văn học, đặc trưng bản chất của hồi ký và tự truyện, phân tích ranh giới và hiện tượng giao thoa thể loại (hồi ký - tự truyện, tiểu thuyết tự truyện).
  • Phân tích các quan điểm phân loại loại hình từ truyền thống phương Tây (Aristote, Hegel, Bielinski), mỹ học Marx đến phương Đông và trường phái Pospelov.
  • Khái quát hành trình lịch sử của hồi ký, tự truyện Việt Nam qua ba giai đoạn: 1900 - 1945, 1945 - 1975 và sau 1975.
  • Xác lập mô hình nghiên cứu diễn ngôn thể loại dựa trên 3 hướng tiếp cận chính của F. de Saussure/G. Genette, M. Bakhtin, M. Foucault, đồng thời xác định nội hàm khái niệm mã thể loại (mã tư tưởng và mã nghệ thuật).

Chương 3: Hồi ký, tự truyện hiện đại Việt Nam nhìn từ mã tư tưởng của thể loại

Chương 3 đi sâu khảo sát sự chi phối của mã tư tưởng – trọng tâm là phạm trù "sự thật" – trong việc kiến tạo diễn ngôn:

  • Khảo sát hình tượng cái "tôi" tác giả – người kể chuyện trong việc thiết lập khế ước sự thật với người đọc.
  • Phân tích cái nhìn hồi quang về quá khứ qua bức tranh hiện thực xã hội và hệ thống chân dung con người (đồng nghiệp, bạn văn, nhân vật lịch sử).
  • Làm rõ sự khác biệt về mã tư tưởng "sự thật" giữa hồi ký và tự truyện dựa trên sự phân hóa thể tài: hồi ký hướng đến sự thật lịch sử - thế sự khách quan, tự truyện hướng đến sự thật nội tâm, sự thẩm định nhân cách và số phận cá nhân.

Chương 4: Hồi ký, tự truyện hiện đại Việt Nam nhìn từ mã nghệ thuật của thể loại

Chương 4 phân tích các phương thức cấu tạo nghệ thuật của diễn ngôn:

  • Điểm nhìn trần thuật: Tính linh hoạt trong các tầng bậc cấu trúc diễn ngôn, sự luân chuyển giữa điểm nhìn của cái "tôi" trong quá khứ (người trải nghiệm) và cái "tôi" trong hiện tại (người kể chuyện/suy ngẫm).
  • Kết cấu diễn ngôn: Tính đa dạng trong cách tổ chức trần thuật (kết cấu theo dòng thời gian biên niên, kết cấu tâm trạng, kết cấu lắp ghép mảnh vỡ hồi ức).
  • Giọng điệu: Sự phong phú của các sắc thái giọng điệu (trữ tình, tự vấn, tranh biện, chiêm nghiệm, hài hước, giải thiêng).
  • Sự giao thoa hư cấu và phi hư cấu: Xu hướng thẩm thấu các thủ pháp tiểu thuyết vào hồi ký, tự truyện hiện đại, tạo nên các hiện tượng thể loại giáp ranh.

Kết quả và những đóng góp mới

Đóng góp về mặt lý luận

  1. Luận án là công trình chuyên sâu đầu tiên tại Việt Nam đặt vấn đề và giải quyết một cách có hệ thống đối tượng hồi ký, tự truyện văn học hiện đại từ góc độ diễn ngôn thể loại.
  2. Bổ sung và hoàn thiện khung lý thuyết nghiên cứu thể loại văn học bằng việc tích hợp lý thuyết diễn ngôn (với ba trụ cột: cấu trúc tự sự, phong cách hóa tư tưởng hệ và định chế quyền lực - tri thức) kết hợp lý thuyết mã thể loại (mã tư tưởng và mã nghệ thuật).
  3. Làm sáng rõ cơ chế giao thoa thể loại giữa hồi ký, tự truyện và tiểu thuyết tự thuật trong thực tiễn văn học Việt Nam hiện đại.

Đóng góp về mặt thực tiễn

  1. Cung cấp một cái nhìn toàn diện, khách quan và khoa học về diện mạo, phong cách thể loại của hồi ký, tự truyện Việt Nam qua các giai đoạn 1900 - 1945, 1945 - 1975 và sau 1975.
  2. Phân tích cụ thể các mẫu tác phẩm tiêu biểu của các nhà văn lớn (Tô Hoài, Vũ Bằng, Nguyên Hồng, Nguyễn Khải, Ma Văn Kháng, Anh Thơ,...), chỉ ra quy luật kiến tạo diễn ngôn của từng tác giả.
  3. Cung cấp nguồn tài liệu tham khảo có giá trị học thuật cho công tác nghiên cứu lý luận, phê bình văn học và giảng dạy văn học Việt Nam trong các trường đại học, cao đẳng và phổ thông.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Hạn chế của đề tài

  • Luận án không tiến hành khảo sát toàn bộ mọi tác phẩm hồi ký, tự truyện xuất hiện trong lịch sử mà giới hạn trong phạm vi các tác phẩm có giá trị văn chương của các nhà văn, nhà thơ, nhà phê bình chuyên nghiệp.
  • Không bao quát các tác phẩm hồi ký, tự truyện thuộc các lĩnh vực ngoài văn học (chính trị, quân sự, giải trí) hoặc các tác phẩm xuất bản trên internet, tác phẩm xuất bản tại hải ngoại.

Hướng nghiên cứu tiếp

  • Mở rộng mô hình nghiên cứu diễn ngôn thể loại sang các thể tài tự thuật phi văn học hoặc hồi ký của các nhân vật lịch sử, chính trị, văn hóa khác.
  • Khảo sát mảng hồi ký, tự truyện của các tác giả Việt Nam ở hải ngoại hoặc các tác phẩm tự truyện xuất bản trên nền tảng kỹ thuật số đương đại.

Giá trị tham khảo

Nội dung và kết quả nghiên cứu của luận án có giá trị ứng dụng cụ thể:

  • Đối với nghiên cứu sinh, học viên cao học, sinh viên ngành Ngữ văn: Cung cấp khung phương pháp luận tiếp cận tác phẩm văn xuôi tự sự từ lý thuyết diễn ngôn và mã thể loại; gợi mở các hướng nghiên cứu liên ngành trong khoa học xã hội nhân văn.
  • Đối với giảng viên, giáo viên dạy văn: Cung cấp tư liệu và phương pháp phân tích văn bản hồi ký, tự truyện phục vụ bài giảng văn học Việt Nam hiện đại, chuyên đề lý luận văn học và thi pháp học thể loại.
  • Đối với giới phê bình văn học: Đưa ra góc nhìn lý thuyết cập nhật để thẩm định, đánh giá các hiện tượng tự truyện, hồi ký đang phát triển phong phú trong đời sống văn học đương đại.

Câu hỏi thường gặp

1. Luận án phân biệt bản chất giữa hồi ký và tự truyện dựa trên những tiêu chí cốt lõi nào?

Hồi ký và tự truyện đều là thể loại tự sự hồi cố hướng về quá khứ nhưng khác biệt ở hai tiêu chí chính:

  • Về bản chất nghệ thuật: Tự truyện thuộc loại hình truyện, cho phép hư cấu nghệ thuật để xây dựng hình tượng hoàn chỉnh và tập trung vào thế giới nội tâm, lịch sử hình thành nhân cách của cái "tôi" tác giả (tư duy hướng nội). Hồi ký thuộc loại hình ký, đòi hỏi tính chính xác của sự kiện, sự khách quan của người viết ký, tập trung vào hiện thực lịch sử, xã hội bên ngoài mà tác giả là người chứng kiến hoặc tham gia (tư duy hướng ngoại).
  • Về thể tài: Hồi ký nghiêng về thể tài lịch sử - dân tộc và đạo đức thế sự; tự truyện nghiêng về thể tài đời tư.

2. Luận án dựa trên những nhánh tiếp cận diễn ngôn nào để xây dựng khung lý thuyết?

Luận án tiếp thu và tích hợp 3 hướng tiếp cận diễn ngôn chính:

  1. Tiếp cận diễn ngôn như cấu trúc ngôn từ (F. de Saussure, R. Barthes, Tz. Todorov, G. Genette).
  2. Tiếp cận diễn ngôn như lời nói phong cách hóa mang tư tưởng hệ theo hướng siêu ngôn ngữ học (M. Bakhtin).
  3. Tiếp cận diễn ngôn như một sản phẩm kiến tạo từ các định chế xã hội gắn liền với quyền lực và tri thức (M. Foucault).

3. Tiêu chí chọn mẫu tác phẩm khảo sát của luận án được quy định như thế nào?

Luận án áp dụng 4 tiêu chí chọn mẫu nghiêm ngặt:

  • Tiêu chí thể loại: Tác phẩm đáp ứng đặc trưng văn chương của hồi ký (xác thực sự kiện) hoặc tự truyện (tác giả - người kể - nhân vật trùng làm một).
  • Tiêu chí tác giả: Chỉ chọn tác phẩm của các nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận, phê bình chuyên nghiệp (địa hạt văn học).
  • Tiêu chí tác phẩm: Có giá trị thẩm mỹ, gây tiếng vang, được xuất bản chính thức trong nước.
  • Tiêu chí bối cảnh: Đại diện cho 3 giai đoạn lịch sử (1900 - 1945, 1945 - 1975, sau 1975).

4. Khái niệm "Mã thể loại" trong luận án gồm những thành tố nào?

Khái niệm "Mã thể loại" (mượn từ lý thuyết thông tin) được phân chia thành:

  • Mã tư tưởng: Các quy tắc, ý thức hệ chế định cách nhìn nhận về "sự thật", cái tôi tác giả và hiện thực đời sống.
  • Mã nghệ thuật: Các quy ước về phương thức biểu hiện gồm điểm nhìn trần thuật, kết cấu diễn ngôn, hệ thống giọng điệu và sự dung hợp giữa yếu tố hư cấu và phi hư cấu.

Kết luận

Luận án Hồi Ký Tự Truyện Hiện Đại Việt Nam: Diễn Ngôn và Thể Loại đã thiết lập một hệ thống lý thuyết và phương pháp luận rõ ràng để tiếp cận hai thể loại văn xuôi tự sự quan trọng trong văn học Việt Nam hiện đại. Bằng việc kết hợp lý thuyết diễn ngôn của Saussure, Genette, Bakhtin, Foucault với quan điểm loại hình học thể loại, tác giả đã giải mã thành công cơ chế tác động của mã tư tưởng và mã nghệ thuật lên cấu trúc tác phẩm. Công trình không chỉ làm rõ sự vận động, ranh giới và tính chất tương tác giữa hồi ký và tự truyện mà còn cung cấp một nguồn ngữ liệu khoa học, có giá trị ứng dụng thiết thực cho hoạt động nghiên cứu, phê bình và giảng dạy văn học Việt Nam.