Chương 1 KHÁI QUÁT VỀ THƠ DÂN TỘC THÁI VIỆT NAM THỜI KỲ HIỆN ĐẠI VÀ NHÀ THƠ LÒ CAO NHUM 1. Khái quát về thơ dân tộc Thái Việt Nam thời kỳ hiện đại Hòa chung sự phát triển của nền văn học dân tộc thiểu số Việt Nam thời kỳ hiện đại, văn học dân tộc Thái ngày một phát triển và có được nhiều thành công. Trong đó, thơ là một trong những thể loại kết tinh được nhiều thành tựu nhất, thể hiện ở sự phát triển của lực lượng sáng tác, chất lượng tác phẩm, nội dung phản ánh và hình thức nghệ thuật. Từ trước năm 1945, thơ ca dân tộc Thái chủ yếu là các tác phẩm văn học dân gian như truyện thơ Xống chụ xon xao, Khun lú - Nàng ủa, Tản chụ xiết sương… Tác phẩm được cho là đóng vai trò là bước chuyển tiếp giữa thơ ca dân gian và thơ dân tộc Thái hiện đại là Lời hát nền Văn Hoan của nghệ nhân Ngần Văn Hoan: “Lời hát nền Văn Hoan đã đóng vai trò là bước chuyển tiếp giữa thơ ca dân gian và thơ ca dân tộc Thái hiện đại, chuẩn bị những tiền đề quan trọng để hình thành và phát triển thơ ca dân tộc Thái hiện đại nói riêng và thơ ca dân tộc thiểu số hiện đại Việt Nam nói chung” [dẫn theo 32, tr.
Từ sau Cách mạng tháng Tám thành công, được Đảng và Nhà nước đặc biệt quan tâm, văn học dân tộc thiểu số không ngừng phát triển và nhanh chóng khẳng định vị thế của mình. Thơ ca dân tộc Thái hiện đại cũng giữ một vai trò quan trọng trong sự phát triển thơ ca dân tộc thiểu số hiện đại nói chung. Đội ngũ các nhà thơ dân tộc Thái phát triển nhanh, số lượng tác phẩm ngày một phong phú, nhiều cây bút đã đạt được những thành công đáng ghi nhận. Ban đầu, bạn đọc chỉ mới biết đến một số tên tuổi như Cầm Biêu, Lương Quy Nhân, Hoàng Nó.
Thế hệ các nhà thơ trưởng thành sau đó gồm có Vương Trung, Lò Văn Cậy, La Quán Miên… Sau năm 1975 có thêm nhiều tác giả trẻ sớm khẳng định Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 8 c được tên tuổi như Lò Vũ Vân, Lò Cao Nhum, Cầm Bá Lai, Cà Thị Hoàn, Lò Ngọc Duyên… Cho đến nay, đội ngũ các nhà thơ dân tộc Thái hiện đại ngày một trưởng thành; sáng tác ngày càng phong phú, đa dạng và hấp dẫn. Cầm Biêu, Lương Quy Nhân, Hoàng Nó… là lớp các nhà thơ dân tộc Thái thuộc thế hệ đầu tiên. Họ đều sinh vào những năm hai mươi của thế kỷ XX: Cầm Biêu (1920 - 1998), Lương Quy Nhân (1926 - 1996), Hoàng Nó (sinh năm 1925); đều bắt đầu sáng tác từ sau Cách mạng tháng Tám. Người cho ra mắt tập thơ đầu tay sớm nhất là Lương Quy Nhân với tập Cán bộ với dân mường (1947).
Người có số lượng sáng tác nhiều nhất là Cầm Biêu với 09 tác phẩm (Thơ ca Hạn Khuống (1957), Hạn Khuống (1992), Cầu văn bản (1982), Ánh hồng Điện Biên (1984), Thơ cưới xin và lên nhà mới (1992), Bản Mường nhớ ơn (1994), Ngọn lửa không tắt - Peo Phầy mì mọt (1995)…). Nhà thơ Hoàng Nó từ khi cầm bút cho đến năm 1993 đã xuất bản 05 tác phẩm (Diễn ca khu tự trị (1954), Lòng dân miền núi (1957), Chị công nhân cầu đường (1957), Tiếng hát mường hoa lan (1987), Vượt sông Đà (1993). Lớp nhà thơ này là những người đầu tiên vượt mọi khó khăn mở ra con đường đưa thơ dân tộc Thái đến với đến với thơ hiện đại Việt Nam. Lớp các nhà thơ trưởng thành sau cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp (1954) cũng đã đem đến cho thơ dân tộc Thái nhiều thành công.
Nhà thơ Vương Trung (1938 - 2012) ngoài viết tiểu thuyết, dịch thơ cổ, nghiên cứu sử thi, đã sáng tác các tập thơ: Ing-Éng (thơ tiếng dân tộc và dịch tiếng phổ thông, 1967); Sóng Nậm Rốm (thơ, 1979). Nhà thơ Lò Văn Cậy (sinh năm 1928) được bạn đọc biết đến với tác phẩm thơ Hạt muối hạt tình (1986). Thời gian này, các nhà thơ lớp trước vẫn tiếp tục sáng tác. Lương Quy Nhân (sinh năm 1926) đã xuất bản khá nhiều tác phẩm như Cán bộ với dân Mường (tập thơ chữ Thái, khu tự trị Thái - Mèo xuất bản 1947), Hoa đang nở (tập thơ chữ Thái cho thiếu nhi, khu tự trị Tây Bắc xuất bản 1961), Thơ Lương Qui Nhân (tuyển thơ, Khu tự trị Tây Bắc xuất bản 1960), Biên giới lòng người (Nhà xuất bản Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 9 c Văn hóa Dân tộc, Hà Nội), Hoa trời (Hội Văn nghệ Lai Châu xuất bản 1987), Độ dày của tình yêu (thơ song ngữ, Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc Hà Nội 1994).
Sự tiếp nối và kế tục giữa các lớp nhà thơ đã góp phần khẳng định sự trưởng thành của thơ dân tộc Thái. Đặc biệt, sau năm 1975 xuất hiện thêm nhiều nhà thơ trẻ, có nhiều tác phẩm xuất sắc. Tiêu biểu có Lò Vũ Vân (sinh năm 1943) với Lời cây sáo ôi (2001), Vòng xòe và sao xa; Cầm Bá Lai (1950 - 1988) có tập Hoa và nắng; Lò Cao Nhum với 7 tập thơ Giọt sao trở về (1995), Rượu núi (1996), Soi gương núi (1997), Sàn trăng (2000), Theo lời hát về nguồn (2001), Gốc trời (2009), Rượu núi - thơ chọn lọc (2010). Các nhà thơ dân tộc Thái dù có những điểm khác nhau về thời đại, vùng miền, nghề nghiệp, học vấn… nhưng cội nguồn và văn hóa dân tộc đã bồi đắp nên những hồn thơ dung dị, giàu lòng nhân ái, yêu thiên nhiên, quê hương làng bản, yêu văn hóa dân tộc mình.
Nguồn cảm hứng vô tận tạo nên hồn thơ Thái đặc sắc là thiên nhiên hùng vĩ, nên thơ; những phong tục, tập quán đậm đà bản sắc dân tộc; những con người chất phác hồn hậu giàu tình cảm, đặc biệt là người con gái Thái khỏe mạnh, đảm đang, xinh đẹp, khéo léo, dịu dàng. Một trong những đặc trưng dễ nhận thấy trong thơ của các nhà thơ dân tộc Thái là ở sự gắn bó, yêu mến đến đắm say thiên nhiên hùng vĩ, nên thơ của quê hương. Đến với thơ ca dân tộc Thái ta có thể bắt gặp những đỉnh núi cao hùng vĩ, những cánh đồng cỏ xanh mướt nối tiếp nhau đến tận chân trời, những con gió quen thuộc nhiều vẻ nhưng thân thương gần gũi trong thơ Lương Quy Nhân: “Gió về đây, gió ơi! Mong gió hãy về mát mẻ Gió giong đường thuyền, gió ruổi đường xe Gió lướt đường trời xanh cao, gió ơi!. Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 10 c …Đã làm gió, gió đừng giận dữ Gió giận dữ lửa sẽ cháy tàn Đã làm gió, gió đừng gắt gỏng Gió gắt gỏng tim người sẽ đau” (Gió - Nhà xuất bản Giáo dục 2005) Các nhà thơ dân tộc Thái luôn có nguồn cảm hứng đặc biệt trước vẻ đẹp nguyên sơ, hùng vĩ của núi rừng Tây Bắc.
Những hình ảnh ruộng bậc thang như bắc đến tận trời, những cánh đồng lúa chín vàng ẩn hiện trong sương sớm, những cao nguyên đồng cỏ xanh mướt tới tận chân trời hay màu trắng tinh khiết của hoa Ban rừng quyến rũ… đã để lại dấu ấn sâu đậm trong tâm hồn các nhà thơ; đồng thời, hiện thực cuộc sống, tình yêu, lao động sản xuất, phong tục tập quán, văn hóa… cũng đi vào thơ. Đọc thơ ca Thái thời kỳ hiện đại, “chúng ta có thể hình dung ra một cách cụ thể và sinh động cảnh sắc thiên nhiên, con người, cùng những nếp sinh hoạt cũng như những phong tục tập quán đậm đà bản sắc của người Thái, thấu hiểu được thế giới tâm hồn vốn rất phong phú của người Thái” [33, tr. Thơ dân tộc Thái vừa kết tinh, kế thừa những đặc trưng của thơ dân gian Thái, vừa có tính hiện đại. Trong quá trình phát triển, các nhà thơ Thái đã phát hiện và khẳng định “thần thái”, “hồn vía”, bản sắc và tầm vóc dân tộc mình.
Sự trưởng thành về đội ngũ và chất lượng sáng tác của thơ dân tộc Thái được tác giả Trần Thị Việt Trung khẳng định trong công trình nghiên cứu Bản sắc dân tộc trong thơ các dân tộc thiểu số Việt Nam hiện đại: “Có thể thấy, số lượng các tác phẩm thơ Thái ngày càng nhiều và chất lượng các tác phẩm ngày càng được nâng cao. Nhiều bài thơ của các tác giả dân tộc Thái được bạn đọc yêu mến, thừa nhận; nhiều tác phẩm, tập thơ được trao những giải thưởng có uy tín như: Ngọn lửa không tắt (Cầm Biêu) - đạt Giải A của Uỷ ban toàn quốc Liên hiệp các Hội VHNT Việt Nam 1995, Hoa và nắng (Cầm Bá Lai) được trao giải B của Hội Văn học nghệ thuật các dân tộc thiểu số Việt Nam năm 1997; Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – ĐHTN http://www.vn 11 c Rượu núi của Lò Cao Nhum đạt giải C cuộc thi thơ Tạp chí Văn nghệ quân đội, Giải A Giải thưởng văn học nghệ thuật Hoà Bình 50 năm, (1998). Đó không chỉ là sự thừa nhận về chất lượng nghệ thuật của thơ ca Thái mà còn là sự khẳng định vị trí cũng như những đóng góp của thơ Thái đối với nền thơ ca dân tộc Việt Nam hiện đại” [33, tr. Có thể nói, môi trường thơ ca với nhiều vẻ đẹp của đồng bào dân tộc Thái đã giúp tâm hồn Lò Cao Nhum ủ ấp, chưng cất và kết tinh được chất men say độc đáo trong thơ.
Giới thiệu về nhà thơ Lò Cao Nhum 1. Quê hương và gia đình nhà thơ Lò Cao Nhum người dân tộc Thái, quê ở Mai Châu, Hòa Bình; sinh ngày 09 tháng 06 năm 1955, tại một một bản nhỏ bên núi Khọ Pha, nơi ông bà ngoại nhà thơ sơ tán thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Người Thái ở Mai Châu có cội nguồn từ vùng đất Mường Hước Pước Khà tức là miền Bắc Hà thuộc tỉnh Lào Cai ngày nay, theo dọc sông Hồng rẽ sang sông Đà, rồi tới lập nghiệp ở vùng Mộc Châu, vùng Mường Khoòng, Thanh Hóa và vùng Mai Châu Hòa Bình tính đến nay được khoảng trên dưới 700 năm, tức vào khoảng đầu thế kỷ XIV. Mai Châu là con đường tơ lụa giao lưu buôn bán giữa người Kinh ở Thăng Long - Hà Nội, người Mường ở tỉnh Hòa Bình, người Thái ở các tỉnh Sơn La, Hòa Bình, Thanh Hóa với các tộc người Lào ở đất nước Triệu Voi.
Con đường đó từ kinh đô Thăng Long - Hà Nội theo thuyền buôn lên chợ Bờ tới chợ Suối Rút và đi đường bộ vào Mai Châu, sang Quan Hóa lên Mường Lát và sang Lào.