Nghiên Cứu Nghệ Thuật Trong Sáng Tác Của Tô Hoài Thời Kỳ Trước Cách Mạng Tháng Tám

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu ngữ văn thế giới nghệ thuật trong sáng tác của tô hoài thời kì trước cách mạng tháng tám, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất biện pháp hoàn

Trường đại học

Đại học Thái Nguyên

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2013

131
0
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Giới thiệu về Tô Hoài và sự nghiệp sáng tác

Tô Hoài, một trong những nhà văn tiêu biểu của văn học Việt Nam, đã có một sự nghiệp sáng tác kéo dài hơn 70 năm. Ông để lại dấu ấn sâu sắc với hơn 160 tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau, từ truyện ngắn đến tiểu thuyết. Tô Hoài được biết đến như một cây bút sắc sảo, thể hiện tài năng và phong cách nghệ thuật độc đáo. Ông đã gắn bó chặt chẽ với từng bước đi của lịch sử dân tộc, đặc biệt là trong giai đoạn trước Cách mạng tháng Tám. Các tác phẩm của ông không chỉ phản ánh cuộc sống của người dân mà còn thể hiện tình yêu quê hương, đất nước. Tô Hoài được xem là một trong những tác giả lớn được giảng dạy trong các trường học, với những tác phẩm nổi bật như 'Dế mèn phiêu lưu ký' và 'Vợ chồng A Phủ'.

II. Thế giới nhân vật trong sáng tác của Tô Hoài

Thế giới nhân vật trong sáng tác của Tô Hoài rất đa dạng và phong phú, bao gồm cả nhân và vật. Ông thường khắc họa những nhân vật bình dị, gần gũi với cuộc sống hàng ngày của người dân quê. Những nhân vật này không chỉ phản ánh cuộc sống thực tế mà còn mang trong mình những tâm tư, tình cảm sâu sắc. Tô Hoài đã sử dụng nghệ thuật miêu tả tinh tế để thể hiện tính cách và số phận của nhân vật. Đặc biệt, ông có khả năng hóa thân vào thế giới loài vật, như trong tác phẩm 'O Chuột', nơi mà những con vật cũng mang trong mình những nỗi niềm của con người. Điều này cho thấy sự kết nối giữa con người và thiên nhiên trong sáng tác của ông.

2.1. Nhân vật người dân quê

Nhân vật người dân quê trong tác phẩm của Tô Hoài thường là những người cần cù, nhẫn nại, sống gắn bó với quê hương. Họ là những người lao động chân chất, chịu nhiều khổ cực nhưng vẫn giữ được lòng yêu quê hương sâu sắc. Tô Hoài đã khắc họa hình ảnh của những người mẹ lam lũ, những người nông dân nghèo khổ nhưng đầy tình thương và trách nhiệm. Những nhân vật này không chỉ là hình ảnh của một thời kỳ lịch sử mà còn là biểu tượng cho sức sống mãnh liệt của con người Việt Nam.

2.2. Nhân vật loài vật

Trong sáng tác của Tô Hoài, loài vật không chỉ đơn thuần là những sinh vật sống mà còn mang trong mình những tâm tư, tình cảm của con người. Ông đã khéo léo sử dụng hình ảnh loài vật để phản ánh cuộc sống và số phận của con người. Những con vật như Dế Mèn không chỉ là nhân vật chính mà còn là cầu nối giữa thế giới con người và thế giới tự nhiên. Qua đó, Tô Hoài đã thể hiện một cách sâu sắc những nỗi đau, khát vọng và ước mơ của con người trong xã hội.

III. Không gian nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài

Không gian nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài được thể hiện qua bối cảnh thiên nhiên và xã hội. Ông đã khéo léo kết hợp giữa thiên nhiên và cuộc sống con người, tạo nên những bức tranh sinh động về quê hương. Thiên nhiên trong tác phẩm của Tô Hoài không chỉ là bối cảnh mà còn là một nhân vật sống động, có tâm hồn. Ông đã miêu tả thiên nhiên với nhiều sắc thái, từ vẻ đẹp thơ mộng đến những khắc nghiệt của cuộc sống. Điều này cho thấy tình yêu quê hương đất nước của Tô Hoài, cũng như sự gắn bó giữa con người và thiên nhiên.

3.1. Không gian bối cảnh thiên nhiên

Bối cảnh thiên nhiên trong tác phẩm của Tô Hoài thường mang vẻ đẹp bình dị, gần gũi với cuộc sống của con người. Ông đã khắc họa những cảnh sắc thiên nhiên tươi đẹp, từ những cánh đồng xanh mướt đến dòng sông êm đềm. Những hình ảnh này không chỉ tạo nên không gian sống động mà còn thể hiện tâm trạng của nhân vật. Tô Hoài đã thành công trong việc kết hợp giữa thiên nhiên và con người, tạo nên một bức tranh hài hòa về cuộc sống.

3.2. Không gian bối cảnh xã hội

Không gian xã hội trong sáng tác của Tô Hoài thường phản ánh đời sống của người dân ở những vùng quê nghèo. Ông đã miêu tả chân thực những phong tục tập quán, những sinh hoạt hàng ngày của người dân. Qua đó, Tô Hoài không chỉ thể hiện tình yêu quê hương mà còn bày tỏ sự đồng cảm với những số phận nghèo khổ. Những trang viết của ông mang đậm tính hiện thực, phản ánh những khó khăn, vất vả của người dân trước Cách mạng tháng Tám.

09/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 THẾ GIỚI NHÂN VẬT TRONG SÁNG TÁC CỦA TÔ HOÀI THỜI KÌ TRƯỚC CÁCH MẠNG THÁNG TÁM 1. Khái niệm thế giới nghệ thuật Thế giới nghệ thuật là thiên nhiên thứ hai do người nghệ sĩ sáng tạo ra. Một mặt nó phản ánh hiện thực, mặt khác nó biểu hiện những khát vọng chân, thiện, mĩ của chủ thể sáng tạo. Ở “Liên Xô cũ” vào những năm 70 đã có một số công trình nghiên cứu theo hướng này như công trình: Thế giới nghệ thuật của M.Gorki, Thế giới nghệ thuật của Sôlôkhốp…Ở Việt Nam, khái niệm này được nhắc đến vào những năm 80 nhưng cách hiểu của các tác giả chưa hoàn toàn cụ thể về nội hàm khái niệm của nó.

Năm 1985, trong luận án Tiến sĩ khoa học: Sự hình thành và những vấn đề của chủ nghĩa hiện thực xã hội trong VHVN hiện đại, tác giả Nguyễn Nghĩa Trọng đã xác định hàm nghĩa khái niệm thế giới nghệ thuật như sau:“Thế giới nghệ thuật là một phạm trù mĩ học bao gồm tất cả các yếu tố của quá trình sáng tạo nghệ thuật và tất cả kết quả của quá trình hoạt động nghệ thuật của nhà văn. Nó là một chỉnh thể nghệ thuật và một giá trị thẩm mĩ. Thế giới nghệ thuật bao gồm hiện thực - đối tượng khách quan của nhận thức nghệ thuật, cá tính sáng tạo của nhà văn hay chủ thể nhận thức nghệ thuật, ngôn ngữ hay chất liệu nghệ thuật. Trong thế giới nghệ thuật chứa đựng sự phản ánh hiện thực,tư tưởng, tình cảm của nhà văn.

Thế giới nghệ thuật không chỉ tương đương đối với tác phẩm nghệ thuật mà còn rộng hơn bản thân nó. Nó có thể bao gồm tất cả các tác phẩm nghệ thuật của một nhà văn, một trào lưu nghệ thuật, một thời kỳ nhất định của văn học, một nền văn học của dân tộc hay nhiều dân tộc nhưng đồng thời cũng có thể liên quan đến nhiều yêu tố khác của sáng tạo nghệ thuật nhỏ hơn khái niệm hình tượng nghệ thuật. Thế giới nghệ thuật là thiên nhiên thứ hai được người nghệ sĩ tạo dựng trong đó chứa đựng hiện thực và quan niệm về hiện thực, tự nhiên và con người…là thế giới sinh động và đa dạng vô cùng, mỗi nhà văn, mỗi trào lưu văn học, mỗi dân tộc, mỗi thời kì Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 14 lịch sử đều có thế giới nghệ thuật riêng của mình”[48,86]. Đây là một khái niệm rộng, được triển khai với nhiều cấp độ.

Tuy còn dừng ở mức khái quát song quan niệm này sẽ là những gợi ý hết sức quý báu cho chúng tôi trong quá trình triển khai luận văn. Năm 1992, nhóm tác giả Lê Bá Hán - Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi đã định nghĩa:“Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ tính chỉnh thể của sáng tạo nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, một tác giả, một trào lưu).Thế giớ nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng được tạo ra theo các nguyên tắc riêng tư tưởng, nghệ thuật.Thế giới nghệ thuật có thời gian, không gian riêng, có quy luật tâm lý riêng, có quan hệ xã hội riêng, quan niệm đạo đức, thang bậc giá trị…”[5,303]. Mỗi thế giới nghệ thuật ứng với một quan niệm về thế giới, một cách cắt nghĩa về thế giới, nó giúp cho người đọc hình dung ra tính độc đáo về tư duy nghệ thuật có cội nguồn trong thế giới quan và cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ. Như vậy, thế giới nghệ thuật là một mô hình nghệ thuật thể hiện quan điểm, lập trường, cách nhận thức thế giới.

của người nghệ sĩ. Dựa vào các khái niệm thế giới nghệ thuật nêu trên chúng tôi sẽ đi sâu nghiên cứu thế giới nghệ thuật trong sáng tác của Tô Hoài thời kì trước Cách mạng tháng Tám ở các phương diện sau: Thế giới nhân vật (thế giới nhân vật và thế giới loài vật), không gian nghệ thuật và thời gian nghệ thuật. Tô Hoài và hành trình 70 năm viết 1. Vài nét về tiểu sử và con người nhà văn Tô Hoài * Về tiểu sử Tô Hoài tên thật là Nguyễn Sen, sinh ngày 27/9/1920 (tức 16/8 âm lịch năm Canh Thân) tại một làng quê nghèo bên dòng sông Tô Lịch: Làng Nghĩa Đô, Phủ Hoài Đức (tỉnh Hà Đông cũ) nay là phường Nghĩa Đô, quận Cầu Giấy, Hà Nội.

Bút danh Tô Hoài gắn với hai địa danh: sông Tô Lịch và phủ Hoài Đức. Ngoài ra, ông còn có một số bút danh như: Mắt Biển, Mai Trang, Duy Phương, Hồng Hoa. Xuất thân trong một gia đình nghèo với nghề dệt lĩnh truyền thống, từ nhỏ Tô Hoài đã cùng mẹ và chị gái rong ruổi khắp các chợ để bán lụa. Cha ông, do hoàn Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 15 cảnh nghèo túng đã bỏ nhà vào Sài Gòn hi vọng lập nghiệp rồi ở luôn trong đó không về nữa.

Gánh nặng gia đình đè lên vai người mẹ…Nhà nghèo, học hết bậc tiểu học, Tô Hoài đã sớm bươn trải trên đường đời và làm rất nhiều nghề khác nhau để kiếm sống như: thợ thủ công, dạy học tư, bán hàng, kế toán hiệu buôn…Vậy là Tô Hoài lớn lên trong cái đói khổ, thiếu thốn cả về vật chất và tinh thần. Chính hoàn cảnh xuất thân và những trải nghiệm cuộc sống đã giúp cho nhà văn có vốn kiến thức thực tế sâu sắc để đưa vào những trang viết của mình một cách chân thực và thấm đượm tình yêu thương. Lớn lên trong hoàn cảnh đất nước oằn mình dưới gót giầy của chế độ phong kiến thực dân, Tô Hoài được tận mắt chứng kiến nỗi khổ của người dân nơi thôn quê. Cầm bút viết văn, ông đã bày tỏ thái độ cảm thông, chia sẻ với quê nghèo bằng một tấm lòng gắn bó thiết tha, sâu nặng.

Hiểu được nỗi thống khổ của người nông dân dưới sự kìm kẹp của chế độ xã hội bất công, Tô Hoài đã sớm có ý thức về thời cuộc và quyết định đi theo lý tưởng cách mạng. Năm 1936, chịu ảnh hưởng của phong trào Mặt trận Bình dân, Tô Hoài tham gia hoạt động trong các tổ chức Ái hữu thợ dệt và Thanh niên Dân chủ ở Hà Nội, dạy học truyền bá chữ quốc ngữ. Những sáng tác đầu tiên của ông được đăng trên Hà Nội tân văn và Tiểu thuyết thứ Bảy vào cuối những năm 30. Năm 1943, Tô Hoài tham gia hoạt động trong Hội văn hoá Cứu quốc và Phong trào Việt Minh, viết bài cho báo bí mật.

Sau Cách mạng tháng Tám và trong kháng chiến chống Pháp, ông lên Việt Bắc làm báo Cứu quốc, sau đó về công tác ở Hội Nhà văn Việt Nam. Từ 1957 đến 1980, ông liên tục tham gia công tác lãnh đạo Hội Văn nghệ Việt Nam. Từ 1966 đến 1996, ông đảm nhiệm nhiều chức trách xã hội khác.Với sự cống hiến của mình, ông đã vinh dự được Nhà nước tặng thưởng nhiều huân chương trong hoạt động Cách mạng và giải thưởng Hồ Chí Minh đợt 1 năm 1996 về văn học nghệ thuật. * Về con người Các nhà văn cùng thời và bạn đọc trẻ khi tiếp xúc với Tô Hoài đều nhận thấy: ông là một con người điềm đạm, cởi mở luôn xuất hiện với nụ cười “tủm tỉm” trên môi, rất có “duyên”.

Đặc biệt, ở ông, luôn toát lên sự thông minh, hóm hỉnh, rất Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 16 đỗi trẻ trung và gần gũi. Ông là người có khả năng quan sát nhạy bén và tinh tế như nhà nghiên cứu Vương Trí Nhàn nhận xét:“Tô Hoài lõi đời, sành sỏi, con ruồi bay qua không lọt khỏi mắt”[19,203]. Trong một cuộc phỏng vấn, Tô Hoài đã khẳng định:“Tôi là người chịu khó học hỏi”[18,196]. Những kiến thức mà nhà văn có được là học từ trong sách và học ngay trong chính bản thân cuộc sống.

Cho đến nay, ông đã sáng tác được hơn 160 đầu sách, viết khoảng 1000 bài báo. Tô Hoài là một tấm gương sáng về ý thức lao động nghiêm túc, cần mẫn và rất đáng kính nể, “hiếm có ai trong các nhà văn Việt Nam hiện đại so sánh được”[19,21]. Hành trình sáng tạo nghệ thuật của Tô Hoài * Tô Hoài trước Cách mạng tháng Tám Tô Hoài đến với nghề văn khá sớm. Mười bảy, mười tám tuổi ông đã có một số sáng tác thơ đăng trên Tiểu thuyết thứ Bảy.

Những bài thơ non nớt về nghệ thuật như thế đã giúp ông hiểu mình và nhanh chóng chuyển hướng. Từ giã vườn thơ, ông đến với cánh đồng văn xuôi, từ chân trời lãng mạn, ông đến với chủ nghĩa hiện thực nhưng chất trữ tình vẫn là một phần không thể thiếu trong những trang viết của Tô Hoài. Tô Hoài lớn lên trong cuộc sống nghèo nàn vất vả. Cảnh sống thiếu thốn của bản thân và gia đình đã chi phối cách viết của ông, khiến ông khó có thể thả hồn phiêu diêu vào thế giới thơ mộng của “chàng” và “nàng” như Nhất Linh, Khái Hưng, Hoàng Đạo…Sống trong môi trường Nghĩa Đô, những người dân quê cần lao chất phác và những cảnh đời điêu đứng, cùng quẫn của họ đã trở thành đối tượng phản ánh của Tô Hoài.

Nước lên, truyện ngắn đầu tiên của Tô Hoài được đăng trên Hà Nội tân văn đã miêu tả những cảnh nhà văn được chứng kiến tận mắt trong chuyến đi hộ đê ở Tứ Tổng: cảnh canh đê, các gia đình ven sông Hồng điêu đứng trong mùa nước “người lớn và trẻ con rúc ráy trên vệ cỏ”. Là “bà đỡ” cho những sáng tác đầu tiên của Tô Hoài, Vũ Ngọc Phan - ông chủ tờ báo Hà Nội Tân Văn đã xếp Tô Hoài vào nhóm “các tác gia tả chân”. Và chưa đầy bốn năm, ở tuổi đời ngoài hai mươi, ông “viết như chạy thi” được tám đầu sách. Tiêu biểu là các tập truyện ngắn: Nhà nghèo (1941), O chuột (1942); các tiểu Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.vn 17 thuyết: Dế mèn phiêu lưu ký (1941), Giăng thề (1941), Quê người (1942), Xóm giếng ngày xưa (1944), Cỏ dại (1944).

Sáng tác của ông thời kỳ này tập trung vào hai đề tài chính: truyện loài vật và truyện kể về làng quê tác giả. Trong những truyện ngắn về loài vật, Tô Hoài miêu tả những con vật bé nhỏ gắn bó với sinh hoạt con người: những gã chuột bạch “bằng quả nhót và cũng mũm mĩm như thế” (Truyện gã chuột bạch), những con mèo mướp “lừ đừ và nghiêm nghị tựa một ông thầy giáo nhà dòng”, những con chó “lèm bèm, ủng oẳng, sinh sự nhỏ nhen”(O chuột)…Dưới ngòi bút của Tô Hoài, những con vật ấy cũng có tình cảm, cá tính và cả tâm trạng, số phận nữa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Bài viết "Nghệ Thuật Trong Sáng Tác Của Tô Hoài Trước Cách Mạng Tháng Tám" khám phá những đặc điểm nghệ thuật độc đáo trong sáng tác của nhà văn Tô Hoài, một trong những cây bút tiêu biểu của văn học Việt Nam. Tác giả phân tích cách mà Tô Hoài sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh và cảm xúc để phản ánh cuộc sống và con người trong bối cảnh lịch sử đặc biệt của đất nước. Bài viết không chỉ giúp độc giả hiểu rõ hơn về phong cách sáng tác của Tô Hoài mà còn mở ra những góc nhìn mới về văn học thời kỳ này.

Để mở rộng thêm kiến thức về nghệ thuật trong văn học, bạn có thể tham khảo bài viết "Luận án tiến sĩ nghệ thuật châm biếm trong tiểu thuyết của William Thackeray", nơi phân tích nghệ thuật châm biếm trong văn học phương Tây. Ngoài ra, bài viết "Luận văn đặc điểm nghệ thuật của ca dao về Bác Hồ" sẽ giúp bạn hiểu thêm về cách nghệ thuật dân gian phản ánh tư tưởng và tình cảm của nhân dân. Cuối cùng, bài viết "Luận văn thạc sĩ đặc trưng nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Khải" sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về một tác giả khác trong văn học hiện đại Việt Nam. Những tài liệu này sẽ giúp bạn mở rộng hiểu biết và khám phá thêm nhiều khía cạnh thú vị của nghệ thuật văn học.