phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được trình bày theo 3 chương: 14 z Chƣơng 1: Khái lƣợc chung về thế giới nghệ thuật và thơ Lê Anh Xuân trong tiến trình thơ Việt Nam chống Mỹ cứu nƣớc Chƣơng 2: Cảm hứng chủ đạo và thế giới hình tƣợng trong thơ Lê Anh Xuân Chƣơng 3: Đặc điểm thi pháp thơ Lê Anh Xuân Tuy vậy, do một số nội dung giữa các chương có sự liên quan với nhau nên đôi chỗ dẫn chứng đã nói ở chương, mục này sẽ được nhắc lại ở chương, mục khác để khẳng định hoặc khai thác thêm ý nghĩa mới với mong muốn khám phá thơ Lê Anh Xuân từ nhiều góc độ và có cái nhìn đầy đủ hơn. 15 z NỘI DUNG CHƢƠNG 1: KHÁI LƢỢC CHUNG VỀ THẾ GIỚI NGHỆ THUẬT VÀ THƠ LÊ ANH XUÂN TRONG TIẾN TRÌNH THƠ VIỆT NAM CHỐNG MỸ CỨU NƢỚC 1. Khái lƣợc chung về thế giới nghệ thuật Thế giới nghệ thuật có thể được hình dung như “thiên nhiên thứ hai” do người nghệ sĩ sáng tạo ra. Một mặt nó phản ánh hiện thực, mặt khác nó biểu hiện những khát vọng chân – thiện – mĩ của chủ thể sáng tạo.
Với ý nghĩa này, vấn đề đặt ra là cần phải có một khái niệm về thế giới nghệ thuật bao quát, thật đầy đủ để làm cơ sở cho việc tiếp cận các hiện tượng và tác giả văn học. Đáp ứng yêu cầu đó, ở Liên Xô cũ vào những năm 70 đã có một số công trình nghiên cứu về khái niệm này như các công trình: “Thế giới nghệ thuật của M.Gorki”, “Thế giới nghệ thuật của Sôlôkhốp”… Ở Việt Nam, khái niệm được nhắc đến vào những năm 80 nhưng cách hiểu của các tác giả chưa hoàn toàn cụ thể về nội dung của nó. Năm 1985 trong luận án tiến sĩ khoa học “Sự hình thành và những vấn đề của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa trong văn học Việt Nam hiện đại”, Nguyễn Trọng Nghĩa đã xác định hàm nghĩa khái niệm thế giới nghệ thuật như sau: “Thế giới nghệ thuật là một phạm trù mĩ học bao gồm tất cả các yếu tố của quá trình sáng tạo nghệ thuật và tất cả kết quả của quá trình hoạt động nghệ thuật của nhà văn. Nó là một chỉnh thể nghệ thuật và một giá trị thẩm mỹ.
Thế giới nghệ thuật bao gồm hiện thực – đối tƣợng khách quan của nhận thức nghệ thuật, cá tính sáng tạo của nhà văn hay chủ thể nhận thức nghệ thuật, ngôn ngữ hay chất liệu nghệ thuật. Trong thế giới nghệ thuật, chứa đựng sự phản ánh hiện thực, tƣ tƣởng, tình cảm của nhà văn. Thế giới nghệ thuật không chỉ tƣơng đƣơng đối với tác phẩm nghệ thuật mà còn rộng hơn bản thân nó. Nó bao gồm tất cả các tác phẩm nghệ 16 z thuật của một nhà văn, một trào lƣu nghệ thuật, một thời kỳ nhất định của văn học, một nền văn học của dân tộc hay nhiều dân tộc nhƣng đồng thời cũng có liên quan đến nhiều yếu tố khác của sáng tạo nghệ thuật (nhỏ hơn khái niệm hình tƣợng nghệ thuật).
Thế giới nghệ thuật là thiên nhiên thứ hai đƣợc ngƣời nghệ sĩ tạo dựng trong đó chứa đựng hiện thực và quan niệm về hiện thực, tự nhiên và con ngƣời… , là thế giới sinh động và đa dạng vô cùng, mỗi nhà văn, mỗi trào lƣu văn học, mỗi dân tộc, mỗi thời kỳ lịch sử đều có thế giới nghệ thuật của riêng mình”. Đây là một khái niệm rộng, được triển khai với nhiều cấp độ. Tuy còn dừng ở mức khái quát song quan niệm sẽ là những gợi ý hết sức quý báu, phù hợp với nhiều luận điểm mà chúng tôi sẽ triển khai trong luận văn. Năm 1992, trong Từ điển thuật ngữ văn học, nhóm tác giả Lê Bá Hán – Trần Đình Sử - Nguyễn Khắc Phi đã định nghĩa: “Thế giới nghệ thuật là khái niệm chỉ mang tính chỉnh thể của sáng tạo nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm, một tác giả, một trào lƣu).
Sáng tác nghệ thuật là một thế giới riêng đƣợc tạo ra theo các nguyên tắc riêng của nghệ thuật. Thế giới nghệ thuật có thời gian riêng, không gian riêng, có quy luật tâm lý thang bậc giá trị riêng trong việc phản ánh thế giới. Mỗi thế giới ứng với một cách cắt nghĩa về thế giới” [20]. Khẳng định tính chỉnh thể của thế giới nghệ thuật, Nguyễn Đăng Mạnh trong Con đƣờng đi vào thế giới nghệ thuật của nhà văn cho rằng: “Thế giới nghệ thuật của nhà văn hiểu đúng nghĩa của nó là một chỉnh thể, đã là một chỉnh thể tất yếu phải có cấu trúc nội tại theo những nguyên tắc thống nhất, cũng có nghĩa là quan hệ nội tại giữa các yếu tố phải có tính quy luật” [50].
Nghiên cứu cụ thể ở thể loại thơ trữ tình, trong cuốn Thơ trữ tình Việt Nam 1975-1990 (1998), Lê Lưu Oanh đã chi tiết hóa khái niệm này qua hình tượng cái tôi trữ tình: “Gọi cái tôi trữ tình là một thế giới nghệ thuật bởi thế giới nội cảm này là một thể thống nhất có ngôn ngữ và quy luật riêng phụ thuộc vào lịch sử cá nhân, thời đại… Đi sâu vào thế giới nghệ thuật đƣợc coi là một kênh giao tiếp với những mã số, ký hiệu, giọng nói chƣơng trình riêng, cần có thao tác phù hợp… Thế giới nghệ thuật của cái tôi trữ tình là một thế giới mang giá trị thẩm mỹ” [62, tr 33-35]. 17 z Trần Đình Sử trong Những thế giới nghệ thuật thơ đã khẳng định thế giới nghệ thuật như một cõi sống riêng, mang dấu ấn cá nhân, cái nhìn chủ quan của người sáng tạo: “Văn bản thơ không chỉ gồm câu chữ, vần điệu, ngắt nhịp… mà bao gồm cả thế giới hiện tƣợng bên trong nhƣ một thế giới sống đặc thù. Phải miêu tả thế giới ấy, cho dù nó khác với thực tế nhƣ thế nào, có vẻ vô lý nhƣ thế nào. Đó chính là thế giới chủ quan nội tâm của tác phẩm” [69].
Xét đến cùng thế giới nghệ thuật của một nhà văn, nhà thơ chính là một thế giới hình tượng được xây cất bằng chất liệu ngôn từ, hiện ra như một chỉnh thể sống động, chứa đựng một quan niệm nhân sinh hoặc thẩm mỹ nào đó. Như vậy, thế giới nghệ thuật vừa là con đẻ, vừa là hiện thân của tư tưởng sáng tác. Đó không phải là một thế giới tĩnh mà là một thế giới động, vừa vận động vừa phụ thuộc vừa phản ánh những biến chuyển trong tư tưởng của người nghệ sĩ. Thơ Lê Anh Xuân trong tiến trình thơ Việt Nam chống Mỹ cứu nƣớc 1.
Bối cảnh thơ ca Việt Nam những năm chống Mỹ 1. Bối cảnh lịch sử - xã hội Sau khi thực dân Pháp thất bại thảm hại ở Điện Biên Phủ dẫn đến việc ký kết hiệp định Giơ-ne-vơ 1954, miền Bắc nước ta hoàn toàn được giải phóng. Ở miền Nam, đế quốc Mỹ hất cẳng thực dân Pháp, lập ra chính quyền bù nhìn tay sai Ngô Đình Diệm hòng biến nơi này thành thuộc địa kiểu mới, làm căn cứ tấn công miền Bắc với mục đích cướp đi quyền sống Độc lập, Tự do của dân tộc. Chính quyền Mỹ - Diệm đã gây ra những vụ tàn sát đẫm máu ở Hướng Điền – Ngân Sơn, Chí Thạnh, Chợ Được, Mỏ Cày, Củ Chi, Bình Thành… Chúng tập trung thực hiện biện pháp “Tố cộng”, “Diệt cộng” đàn áp, khủng bố phong trào yêu nước, trả thù những người kháng chiến cũ, tiêu diệt cơ sở cách mạng miền Nam, ban hành Luật phát xít 10/59 “đặt cộng sản ra ngoài vòng pháp luật”, biến cả miền Nam thành nơi tràn ngập nhà tù, trại giam, trại tập trung.
Cách mạng miền Nam bị dìm trong biển máu, đồng bào ta phải chịu bao đau thương, tang tóc. Không thể sống dưới gót giày tàn bạo của giặc Mỹ và tay sai, nhân dân miền Nam đã nhất loạt đứng dậy đồng khởi, phá tan ách kìm kẹp, làm tan rã chính quyền 18 z bù nhìn ở nhiều thôn, xã. Cả dân tộc đều ra trận với khát vọng “Không có gì quý hơn độc lập tự do”. Miền Bắc là hậu phương vững chắc, còn miền Nam trở thành tiền tuyến lớn.
Tháng 12/1960, Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam ra đời đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong lịch sử cuộc cách mạng. Dưới sự lãnh đạo của Mặt trận, nhân dân miền Nam liên tiếp thu được nhiều thành tựu to lớn, đánh dấu bước đi lên của cách mạng. Sự lớn mạnh của cách mạng, cộng với những chỉ đạo chiến lược tài tình của Đảng đã lãnh đạo nhân dân phá tan âm mưu cuộc Chiến tranh đặc biệt của chính quyền Mỹ - Ngụy. Để cứu vãn sự phá sản của Chiến tranh đặc biệt, nhằm đàn áp cách mạng miền Nam, ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc, từ tháng 3/1965, Mỹ đã chính thức thực hiện chiến lược Chiến tranh cục bộ và gây ra cuộc chiến tranh phá hoại bằng không quân và hải quân Mỹ đối với miền Bắc.
Quân viễn chinh Mỹ ồ ạt đổ vào miền Nam, trực tiếp đàn áp cuộc chiến tranh của nhân dân, biến cả nước thành một chiến trường. Trước tình hình đó, nhân dân hai miền Nam Bắc đã vùng lên đấu tranh chống ách kìm kẹp, trừng trị bọn ác ôn, phá từng mảng lớn ấp chiến lược, đã đem lại những chiến thắng lớn cho cách mạng miền Nam vào những năm 1965 – 1966 và 1966 – 1967; tạo đà cho thắng lợi của cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân 1968. Cuộc tiến công chiến lược 1972 và trận Điện Biên Phủ trên không tháng 12/1972 thắng lợi đưa tới Hiệp định Pari, tạo ra bước ngoặt căn bản cho cách mạng nước ta. Trước tình hình đó, tháng 7/1973, Hội nghị lần thứ 21 Ban Chấp hành Trung ương Đảng xác định phương hướng và biện pháp cơ bản đưa cách mạng miền Nam tiến lên, đánh đổ hoàn toàn chế độ thực dân mới của đế quốc Mỹ.
Hội nghị đã mở ra con đường đưa cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam tiến vào giai đoạn cuối cùng của cuộc chiến tranh cách mạng giải phóng hoàn toàn miền Nam. Đặc điểm thơ ca giai đoạn chống Mỹ cứu nƣớc Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đã khơi nguồn cảm hứng lớn cho thơ ca, lôi cuốn một lực lượng sáng tác đông đảo. Trải qua một quá trình phấn đấu, rèn luyện không mệt mỏi, đồng thời có sự định hướng chính trị rõ ràng cùng với sự chỉ 19 z đạo đúng đắn của Đảng, văn học giai đoạn chống Mỹ nói chung và thơ ca chống Mỹ nói riêng đã có bước trưởng thành nhanh chóng cả về số lượng và chất lượng, trở thành một mặt trận quan trọng trong công cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ.