mở đầu cho mục du kí trên báo Nam phong, tạo ra một khuynh hướng mới, cô vũ và khích lệ các cây bút khác đi và viết, chia sẻ kinh nghiệm, làm giàu kiến văn cũng như rèn luyện ngòi bút của mình. Viết về điều này, Phạm Thế Ngũ ghi nhận: “Phạm Quỳnh còn mở đường cho một loại văn sau này thành mốt thời ấy, là loại du kí. 156] Trong cuộc đời cam bút, ông đã dé lại bảy tác pham du kí với dung lượng không đồng đều: Mười ngày ở Huế (Nam phong số 10, tháng 4/1918), Một tháng ở Nam kì (Nam phong sô 17, tháng 11/1918, số 19-20, tháng 1-2/1919), Tray chùa Hương (Nam phong số 23, tháng 5/1919), Pháp du hành trình nhật kí (Nam phong, từ số 58, tháng 4/1922 đến số 100, tháng 10-11/1925, đăng không đều kì), Thuật chuyện du lịch ở Paris (Nam phong, số 64, tháng 10/1922), Chơi Lạng Sơn, Cao Bang (Nam phong, số 96, thang 6/1926), Du lịch xứ Lào (Nam phong, số 158-159, tháng 1-2/1931). Ngoài ra, ông cũng có một số bài viết: Cùng các phái viên Nam ki (1920), Tổng thuật về phái bộ Bắc kì đi quan sát đường xe lửa Vinh - Đông Hà (1922), Ngự giá Au du tổng thuật (1922), Ngự giá Bắc hành (1932), Ngự giá Nam tuân (1933) được viết sau các chuyến đi.
Tuy nhiên, theo chúng tdi, các bài viết này thực chất là báo cáo mang tính quan phương hành chính, do đó khó có thể coi đây là du kí. Thông qua bảy tác phẩm du kí, Phạm Quỳnh đã thể hiện con người cá nhân, những suy tư của kẻ sĩ, trình làng một lối văn rất duyên, nhiều giá trị, đánh dấu một bước tiến của ngôn ngữ tiếng Việt. Tất cả những điều này sẽ được chúng tôi làm sáng tỏ trong hai chương tiếp theo. Phác thảo toàn bộ cuộc đời và văn nghiệp của Phạm Quỳnh như trên, để thấy ông chủ bút Nam phong đã có những đóng góp nhiều mặt, cả về văn chương lẫn tư tưởng, văn hóa trong giai đoạn bước chuyên, tiên tới xác lập hệ hình văn hóa mới cho dân tộc.
Thực tế, bằng các công việc cụ thé: điều hành Nam phong tạp chi, tờ báo dành dung lượng lớn để bá, giới thiệu tư tưởng, triết học, khoa học, văn chương phương Tây; ủng hộ và luôn có ý thức trau dồi chữ quốc ngữ; dịch thuật, giới thuyết các thé văn mới lấy tiêu thức Tây Au làm chuẩn mực dé làm tiền đề cho hoạt động sáng tác về sau, Phạm Quỳnh mang dáng dấp của một nhà kiến thiết nền văn học mới. Ở lĩnh vực trước thuật nào, ông cũng có những đóng góp lớn cho đương thời, tạo nên những ảnh hưởng ở bề sâu nhận thức của công chúng, nhất là tầng lớp thanh niên mới, những người chịu ảnh hưởng của hệ thống giáo dục Pháp - Việt, sẽ là lực lượng nòng cốt đưa nền văn chương Việt Nam tiến vào kỉ nguyên hiện đại trong thập niên 1930. Phác thảo văn nghiệp Phạm Quỳnh, cũng để thấy du kí chiếm số lượng không nhiều trong tổng gia tài của ông, nhưng những thiên du kí lại là nơi thể hiện nhiều và trực tiếp nhất những tâm sự, cảm xúc cá nhân của tác giả, điều rất ít thấy trong các bộ phận khác, sẽ được chúng tôi làm sáng tỏ trong các chương sau của luận văn. Du kí trong bối cảnh văn chương quốc ngữ Việt Nam đầu thế ki XX 1.
Tiền đề lí thuyết về du kí 1. Du kí ở giữa những giao thoa Du kí là một nhánh nhỏ của thé kí - một thé văn rất đa dạng, bao gồm các tiểu loại nhỏ hơn: phóng sự, kí sự, du kí, bút kí, nhật kí,. Du kí do đó mang đặc điểm chung của thể kí: giàu thông tin, dữ liệu về cuộc sống, rất gần gũi với báo chí nhưng lại thé hiện cái nhìn nghệ thuật của chủ thé về đối tượng ghi chép. Trần Đình Sử trong cuốn Tir điển thuật ngữ văn học cho rang cơ sở của du kí là “sự ghi chép của bản thân người đi du lịch, ngoạn cảnh về những điều mắt thấy tai nghe của chính minh tại những xứ sở xa lạ hay những noi ít người có dip đi đến.
108] Du kí bao giờ cũng được hình thành từ chính những trải nghiệm của người du lịch, thể hiện kiến văn, cái nhìn của người viết về thế giới. Nhận định trên cũng đã chỉ ra một đặc tính quan trọng hàng đầu của du kí là tính phi hư cấu. Điều này đã được chính Phạm Quỳnh nhận thức khi ông chỉ ra mục đích tối hậu của “[v]ăn kỉ sự là cứ sự thực mà thuật lại” như đã dẫn ở phần trên. Cách nói ấy cho thấy du kí không phải sản phẩm của trí tưởng tượng, du kí không thể hình thành nếu không dựa trên hành trình: đi - quan sát - viết, cuối cùng tạo nên tác pham mà chính người kế chuyện - tác giả của nó phải là người trực tiếp trải qua hành trình.
Đây cũng là điểm khác biệt của du kí đối với tiêu thuyết phiêu lưu mà lịch sử văn học thế giới chứng kiến sức hút khô.ng vơi cạn của nó: Robinson trên đảo hoang, (1719, Daniel Defoe), Giuliver kí (1726, Jonathan Swith), Hai vạn dặm đưới biển (1870, Jules Verne),. Cũng dé cap đến cuộc du hành đến vùng đất xa lạ, nhưng cốt lõi của tiểu thuyết là hư cấu, tưởng tượng trong khi du kí lại là những ghi chép hoàn toàn có thật, thé hiện trực cảm, suy tư, chiêm nghiệm của người du lịch về hành trình của mình. Đặc tính này khiến du kí gần với báo chí, loại hình thượng tôn sự thực, cốt nói lên người thật việc thật. Khác biệt với các thé loại văn xuôi như tiểu thuyết, truyện ngắn ở tinh phi hư cầu nhưng mặt khác, du kí cũng lại rất gần gũi với chính các thể loại tự sự đó bởi du kí là một nhánh của truyện kề với nhân vật, người kế chuyện và phương thức tự sự.
Du kí thé hiện trình độ dụng ngôn và nghệ thuật tự sự của người cầm bút; nhìn vào du kí, có thé thấy đặc trưng nghệ thuật của thời đại ấy. Day là đặc điểm khiến du kí không đồng nhất với báo chi mặc dù rất gần gũi với nó. Trong khi ké chuyện, nhà văn vẫn có thê “ngoài sự thực có thé điểm chút cảm tưởng riêng” như chính Phạm Quỳnh nói, sự linh động trong kê chuyện chính là điểm khác biệt căn bản của du kí với báo chí. Tóm lại, giao thoa với báo chí nhưng du kí không chỉ đơn thuần là trang viết đưa tin, bình luận sự kiện; gần gũi với các tiêu loại văn tự sự khác nhưng du kí lại không thuần túy văn chương như truyện ngắn, tiêu thuyết ở chỗ du kí đề cao tính xác thực.
Về thể thức, theo Trần Đình Sử, du kí được thé hiện dưới nhiều dạng, “có thé là ghi chép, kí sự, nhật kí, thư tín, hồi tưởng,. miễn là mang lại những thông tin, tri thức và cảm xúc mới lạ về phong cảnh, phong tục, dân tình của xứ sở ít người biết đến. 108] Còn theo nhà nghiên cứu Phạm Xuân Nguyên thì, “[n]ếu duy danh mà nói thì du kí là tất cả những ghi chép khi đi đến một nơi nào đó. Và như thế thì hầu như ở mọi thời và mọi nền văn hóa đều có du kí.
43] Nghĩa là, du kí không bị khuôn trong một dạng thức (form) thé hiện nao. Người viết có thé tùy vào dụng ý, khả năng và sở trường dé có thé chọn cho mình hình thức thích hợp. Chính vi thế, lâu nay khi tìm hiểu du kí, người ta ít chú ý đến những đặc thù thé loại mà quan tâm nhiều hơn đến phương diện cảm hứng, chủ đề, vậy nên hình thành cách duy danh thé tài du kí. Theo chúng tôi, tâm lí đề cao cảm hứng, chủ dé và không chú ý đến phương thức tự sự của du kí là biểu hiện của cách nghĩ coi nhẹ hình thức của tác phẩm từng rất phổ biến một thời.
Tâm lí này cũng xuất phát từ một đặc trưng của thể kí, là tính xác thực về thông tin, sự việc, sự vật, theo đó, người viết du kí không nhất thiết tạo nên những hình tượng hư cấu, những an dụ nghệ thuật như truyện ngắn, tiểu thuyết hay tô chức ngôn từ một cách “quái đản”, lạ thường như thơ ca. Du kí thường phát triển mạnh mẽ ở những thời điểm đặc biệt quan trọng của lịch sử, khi những giới hạn không gian được nới rộng, con người có nhiều điều kiện giao lưu, tiếp xúc với nhau. Thế giới phương Tây đã chứng kiến kỉ nguyên của du kí từ các cuộc phát kiến địa lí, thăm dò, thám hiểm từ thé ki XVI cho đến thé ki XX và sẽ không ngừng về sau này. Theo cách đó, du kí gắn với nhận thức và quan niệm về thế giới của con người.
Nhưng bên cạnh đó, ở một số nền văn học, du kí bùng nổ tại những thời điểm bước chuyền của hệ hình tư duy nghệ thuật, khi hệ thống các tiêu thức kiến tạo nên nền văn học chưa định hình. Ở những giai đoạn như thế, du kí nhờ đặc tính là những ghi chép trực quan, không đòi hỏi phải kiến tạo những hình tượng nghệ thuật phức tạp, thường là tiểu loại phát triển mạnh mẽ và năng động nhất, vượt xa tiểu thuyết, truyện ngắn hay thơ ca và kịch nghệ. Theo đó, một mặt du kí thé hiện sự chưa trưởng thành của bút pháp nghệ thuật, mặt khác, nó là nơi xuất lộ thể những nhân tố mới, mang tính báo hiệu của nền văn học sắp định hình. Bởi vậy, tìm hiểu du kí trong trường hợp đó sẽ giúp người nghiên cứu tìm ra sự vận động của nền văn học.
Trong luận văn này, đặc biệt ở chương 3, khi tìm hiểu về nghệ thuật du kí Phạm Quỳnh, chúng tôi nhìn nhận đối tượng theo tinh thần ấy. Du kí, diễn ngôn về không gian Như trên chúng tôi đã trình bày, du kí thường nở rộ ở những thời điểm đặc biệt của lịch sử, khi những giới hạn của không gian bị phá vỡ, hay nói đúng hơn, khi nhận thức về giới hạn bị đả phá bởi chính những phát hiện hay nhận thức mới của con người về không gian. Nghĩa là, không gian, cái ta tưởng là tồn tại khách quan lại luôn bi/dugc nhận thức một cách chủ quan, phụ thuộc vào tầm nhìn, thái độ và ý thức của người quan sát. Vì thế, khi ta xem xét một không gian trong hình dung của con người, thì đó không còn là không gian thuần túy, trong suốt nữa mà luôn gan với một thời đại, một bối cảnh, một trình độ phát triển và bao trùm tất cả là hệ ý thức mà không gian vừa dung chứa nó lại vừa được nó cấu thành.