ĐẶT VẤN ĐỀ Viêm nha chu (VNC) là một bệnh nhiễm trùng mạn tính đa yếu tố do phức hợp các loài vi khuẩn tương tác với mô và tế bào của vật chủ gây giải phóng các chất trung gian gây viêm, dẫn đến sự phá hủy cấu trúc mô nha chu gồm nướu, xương ổ và dây chằng nha chu. VNC là nguyên nhân hàng đầu gây mất răng, ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống ở người trưởng thành 6. VNC là một bệnh lý rất phổ biến, trên thế giới tỷ lệ VNC ở người lớn thay đổi từ 10-60% tuỳ thuộc vào tiêu chuẩn chẩn đoán 40. Ở Việt Nam, 96,8% người trưởng thành mắc bệnh viêm nướu và viêm nha chu, tỷ lệ người có cao răng và túi nha chu từ trung bình đến sâu lần lượt là 63,7% và 31,8% 5.
Hơn nữa, VNC cũng đã được xác định có liên quan đến một số bệnh toàn thân; do đó việc kiểm soát hay điều trị VNC không chỉ giúp giữ răng mà còn dự phòng bệnh toàn thân và những biến chứng của chúng 50. Điều trị VNC gồm điều trị không phẫu thuật và điều trị phẫu thuật tuỳ thuộc vào tính chất, mức độ của bệnh, các yếu tố tại chỗ và toàn thân cũng như yêu cầu của bệnh nhân. Điều trị nha chu không phẫu thuật như lấy cao răng và xử lý mặt chân răng có hiệu quả trong sửa chữa những khiếm khuyết liên quan đến bệnh và ngăn sự viêm nha chu tiến triển [102]. Tuy nhiên, sự lành thương sau phương pháp điều trị này thường xảy ra biểu mô bám dính kéo dài, có thể dễ tái phát túi nha chu và chỉ tái tạo phần nhỏ mô nha chu.
Tái tạo mô có hướng dẫn (GTR), GTR kết hợp với ghép xương với mức độ điều trị cao hơn; phương pháp này sử dụng màng chắn ngăn tế bào biểu mô tăng sinh bám dính vào bề mặt chân răng trong giai đoạn lành thương, cho phép tế bào dây chằng nha chu và xương ổ răng hình thành xê măng mới và bám dính mô liên kết mới; đây là phương pháp điều trị hứa hẹn vì tạo được khoảng trống cho sự di cư của tế bào dây chằng nha chu (DCNC) và ngăn hình thành biểu mô bám dính kéo dài, nhưng vẫn thiếu tính dẫn tạo tế bào và yếu tố gây biệt hóa tế bào [143]. Để một điều trị có được đặc tính dẫn tạo xương và yếu tố giúp biệt hóa tế bào DCNC cần ứng dụng yếu tố tăng trưởng kích thích các tế bào chịu trách nhiệm trong tái tạo mô nha chu trong đó có sử dụng fibrin giàu tiểu cầu [59]. 2 Fibrin giàu tiểu cầu (PRF) là vật liệu sinh học thuộc thế hệ thứ hai của tiểu cầu cô đặc chứa những yếu tố tăng trưởng tự thân như PDGF, VEGF, TGF-β có tiềm năng thúc đẩy sự tăng sinh, biệt hóa và di cư của nguyên bào sợi nướu, tế bào DCNC và nguyên bào xương [31]. Những nghiên cứu in vitro cũng cho thấy sử dụng PRF riêng lẻ thúc đẩy sự tăng sinh, di cư và biệt hóa tế bào gốc DCNC thành mô xương [133].
Tuy nhiên tác động của PRF khi kết hợp với vật liệu thay thế xương dị loại lên tế bào gốc DCNC cho đến nay vẫn chưa được sáng tỏ; đây là nguồn tế bào quan trọng trong tái tạo mô nha chu. Vật liệu ghép thay thế xương nhằm để tăng tái tạo xương quanh khiếm khuyết nha chu với kết quả có thể dự đoán được; trong đó vật liệu ghép thay thế xương dị loại có nguồn gốc từ bò (XBSM) được sử dụng phổ biến bởi tính tương hợp sinh học của vật liệu thường được chọn trong điều trị VNC, hầu hết những nghiên cứu cho thấy sử dụng XBSM cho kết quả thành công về mô học và lâm sàng [105]. Tuy nhiên, XBSM thiếu tính kích tạo xương và có thời gian tiêu kéo dài dẫn đến chậm quá trình hình thành xương mới, do vậy cần kết hợp tác nhân sinh học chứa những yếu tố tăng trưởng rút ngắn thời gian lành thương và tăng tính dẫn tạo xương và kích thích sự trưởng thành của vật liệu ghép [21]. Nghiên cứu lâm sàng sử dụng PRF riêng lẻ hay kết hợp với vật liệu sinh học khác như xương tự thân, đồng loại, dị loại và vật liệu tổng hợp cho kết quả khả quan so với không sử dụng PRF trong điều trị VNC có tiêu xương [27], [98], [113].
Sự kết hợp giữa GTR với XBSM và PRF có khả năng thúc đẩy quá trình lành thương và tái tạo mô nha chu còn chưa được nghiên cứu trên lâm sàng. Vì vậy nghiên cứu này được thực hiện với những mục tiêu sau: 1. Đánh giá hiệu quả phóng thích yếu tố tăng trưởng PDGF và VEGF trong dịch chiết A-PRF kết hợp với vật liệu thay thế xương dị loại in vitro. Xác định mức độ an toàn và tác động của A-PRF kết hợp vật liệu thay thế xương dị loại qua đánh giá độc tính, mức độ tăng sinh và di cư của tế bào gốc dây chằng nha chu người in vitro.
Đánh giá hiệu quả lâm sàng và X quang của A-PRF kết hợp vật liệu thay thế xương dị loại sau 3 và 6 tháng điều trị viêm nha chu có tiêu xương theo chiều dọc. Đánh giá mức độ hiện diện những yếu tố tăng trưởng PDGF, VEGF và TGF-β1 trong dịch khe nướu của người bệnh sau phẫu thuật tái tạo mô nha chu khi có và không có sử dụng A-PRF kết hợp vật liệu thay thế xương dị loại. 4 CHƢƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 1. Tế bào gốc dây chằng nha chu Tế bào gốc dây chằng nha chu người (hPDLSCs) lần đầu tiên được phân lập từ tế bào dây chằng nha chu bởi Seo và cs (2004) [127], tế bào này biểu hiện các dấu ấn của tế bào gốc trung mô và biệt hóa in vitro thành mỡ, xương và sụn.
Chúng còn có khả năng biệt hóa thành các tế bào nguyên bào xê măng và nguyên bào sợi qua đó cho thấy tiềm năng lớn của loại tế bào gốc này trong tái tạo mô nha chu. Tại Việt Nam, năm 2014 Trần Lê Bảo Hà và cs [140] Bộ môn sinh lý học và công nghệ sinh học động vật thuộc trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã nuôi cấy thành công hPDLSCs từ mô DCNC người. hPDLSCs biểu hiện những dấu ấn sinh học phân tử của tế bào gốc trung mô như CD44, CD73, CD90 và cũng sở hữu những đặc tính đa tiềm năng có thể biệt hóa thành những loại tế bào khác nhau như nguyên bào xương và tế bào mỡ in vitro. Ngoài ra, hPDLSCs có khả năng điều hòa miễn dịch tương đương với tế bào gốc trung mô tủy xương, khả năng sinh miễn dịch yếu do thiếu HLAII DR hoặc phân tử đồng vận tế bào T (CD80 và CD86).
hPDLSCs ngăn cản sự phát triển của tế bào T ngoại lai thông qua việc điều hòa COX-2 và PGE2 [35]. Đáng chú ý, sau quá trình cảm ứng tạo xương, khả năng ngăn cản của hPDLSCs đối với sự phát triển của tế bào T vẫn không thay đổi [135]. hPDLSCs ngăn sự phát triển, biệt hóa và di cư của tế bào B, điều này được kiểm soát bởi protein-1 gây chết tế bào theo lập trình [87]. hPDLSCs cho thấy có đặc tính tự đổi mới, biệt hóa đa dòng, điều hòa miễn dịch và có khả năng đặc biệt để tạo ra các mô xê măng và dây chằng nha chu.
Với những đặc tính trên; hPDLSCs là nguồn tế bào giàu tiềm năng trong trong điều trị và tái tạo mô nha chu. Fibrin giàu tiểu cầu 1. Lịch sử phát triển Fibrin giàu tiểu cầu (PRF) Quá trình lành thương của mô da hay niêm mạc sau tổn thương thường diễn ra qua 4 giai đoạn: hình thành cục máu đông, viêm, tăng sinh và tái cấu trúc. Việc đảm bảo nguồn cung cấp máu được xem là yếu tố tiên quyết trong tái tạo mô thành công do trong máu có chứa những tế bào phóng thích các GFs kích thích quá trình lành thương [96].
Tiểu cầu đóng vai trò chính ở giai đoạn đầu của quá trình lành thương và tái tạo mô qua cơ chế hình thành sợi huyết đông máu. Tiểu cầu tiết ra các GFs quan trọng bao gồm yếu tố tăng trưởng có nguồn gốc tiểu cầu (PDGF), yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu (VEGF), các yếu tố đông máu, các phân tử bám dính, cytokine và các yếu tố tăng sinh mạch có vai trò kích thích sự tăng sinh và hoạt hóa các tế bào trong quá trình lành thương như nguyên bào sợi, bạch cầu trung tính, đại thực bào và tế bào gốc trung mô [106].1 Sự hiện diện GFs từ PRF ở các giai đoạn của quá trình lành thƣơng “Nguồn: Miron R.J, 2017” 96 Từ cuối thập niên 90 của thế kỷ XX, việc tận dụng vai trò của tiểu cầu cô đặc để thúc đẩy sự lành thương và tái tạo mô ở người đã được thực hiện dưới những phương pháp khác nhau. Đầu tiên yếu tố tăng trưởng có nguồn gốc tiểu cầu (PDGF) 6 nhân tạo đã được đưa vào thị trường với tác dụng giống GFs tự nhiên do tiểu cầu tiết ra, tuy nhiên có nhược điểm là quy trình chế tạo phức tạp và giá thành cao. Cùng thời điểm đó, dựa trên ý tưởng có thể thu liều tiểu cầu vượt mức sinh lý bằng cách ly tâm máu toàn phần ở người, Marx và cs (1998) [93] lần đầu tiên giới thiệu thuật ngữ ―huyết tương giàu tiểu cầu‖ (PRP).
PRP là một sản phẩm tiểu cầu cô đặc thế hệ đầu tiên được tạo ra nhằm mục đích thu được lượng tối đa tiểu cầu cùng các GFs sau khi quay ly tâm máu toàn phần khoảng 30 phút kết hợp chất chống đông nhằm sử dụng chúng trong quá trình phẫu thuật. PRP chứa hơn 95% tiểu cầu, các tế bào chịu trách nhiệm tiết các GFs liên quan đến quá trình lành thương xương, biểu mô, mô liên kết và 50% tế bào bạch cầu có vai trò kháng viêm và điều hòa miễn dịch. Tuy nhiên PRP có một số hạn chế như thời gian chuẩn bị kéo dài, có sự hiện diện của các chất chống đông là tác nhân ngăn cản quá trình lành thương [93]. Nhược điểm khác của PRP là phóng thích GFs nhanh và kết thúc sớm trong khi quá trình lành thương vẫn tiếp tục diễn tiến sau nhiều ngày [73].
Những hạn chế trên cho thấy cần phải tạo ra một sản phẩm tiểu cầu cô đặc khác để tối ưu hóa quá trình lành thương và tái tạo mô ứng dụng trên lâm sàng.