CHƯƠNG 1: THƠ KHUYNH HƯỚNG ĐIÈN VIÊN - SƠN THỦY VIỆT NAM: MOT SO VAN DE VE THUAT NGỮ VA TIEN TRINH PHAT TRIEN 1.1 Thơ điền viên và Thơ sơn thủy: Một số van đề về thuật ngữ Trong lịch sử nghiên cứu về thơ điền viên và thơ sơn thủy Việt Nam cũng như Trung Quốc, đa phần các nhà nghiên cứu vẫn chưa có được sự thống nhất trong việc phân biệt hai tiêu loại thơ này. Hầu hết các nhà nghiên cứu vẫn đồng nhất hai khái niệm bằng việc duy trì cách nói “Thơ sơn thủy điền viên”, “Thơ tự nhiên”, hoặc sử dụng “Thơ sơn thủy” và “Thơ điền viên” luân phiên như hai khái niệm cùng nghĩa để nói về một dòng thơ lay việc ngâm vịnh cảnh vật tự nhiên lam chu đạo. Cách gọi theo hướng đồng nhất khái niệm này xuất hiện từ những công trình nghiên cứu mang tính tổng quát đến các công trình chuyên sâu ở cả Việt Nam và Trung Quốc. Tại Trung Quốc, trong một số công trình mang tính tổng hợp và khái quát chung về nền văn hóa và văn học truyền thống Trung Hoa, các tác giả hầu như không chú ý phân định tên gọi hai dòng thơ này.
Các tác giả có thể gộp cả hai để gọi chung là thi phái sơn thủy điền viên, có thé gọi là “thơ điền viên” hoặc “thơ sơn thủy”. Chính vì sự không rõ ràng trong cách khu biệt khái niệm nên các tác giả sáng tác dòng thơ này cũng được gọi lẫn lộn là điền viên thi nhân, sơn thủy thi nhân, tự nhiên thi nhân hoặc sơn thủy điền viên thi nhân. Cũng giống như quan niệm của một số tác giả Trung Quốc, các nhà nghiên cứu Việt Nam đa số đều xếp sơn thuỷ và điền viên vào chung một nhóm. Họ không đặt nặng vấn đề khu biệt khái niệm cũng như không có sự thống nhất trong cách gọi tên.
Da số tác giả đều sử dụng cách nói “Thơ sơn thủy điền viên” để gọi chung một nhóm thơ lấy tự nhiên làm đối tượng thâm mỹ chính như trong một số công trình sau: Giáo trinh lịch sử văn học Trung Quốc của các tác giả Trương Chính, Trần Xuân Đề, Nguyễn Khắc Phi; Đại cương văn hoá 14 phương Đông cua Luong Duy Thứ; Giới thiệu van hóa phương Đông do Mai Ngọc Chữ chủ biên. Nói đến nguyên nhân của sự nhập nhằng về khái niệm cũng như sự không thống nhất trong cách gọi tên, có lẽ phải xét đến mối quan hệ tương cận giữa thơ điền viên và thơ sơn thủy. Mặc dù, về hình thức, hai tiểu loại thơ vẫn được khu biệt bằng hai cách gọi khác nhau nhưng xét về bản chất đây là hai tiểu loại luôn có sự giao thoa và đan xen trên tất cả các phương diện. Đôi khi, trong thơ điền viên có thể ngầm chứa tinh thú sơn thủy và ngược lại.
Nếu xét đến cùng, không khó dé nhận ra rằng, cho du là sơn thủy hay điền viên thì cái đích cuối cùng mà cả hai dòng thơ đều hướng đến chính là cái thanh đạm, nhàn nhã, vô ưu, cái thung dung, tự đắc của chủ thê nơi điền viên thôn dã hoặc chốn thâm sơn cùng cốc. Trong những năm gần đây, một số nhà nghiên cứu Việt Nam đã có khuynh hướng phân biệt sự khác nhau của thơ điền viên và thơ sơn thủy như tác giả Lê Nguyễn Lưu trong Đường thi tuyển dịch, Trần Trung Hy trong Tho sơn thủy cổ trung đại Trung Quốc. Trần Trung Hy đã khu biệt hai khái niệm này khi ông cho rằng thơ điền viên là “loại thơ lay cảnh nông thôn, loại cảnh quan nhân vi (tức cảnh vật do bàn tay con người tái tạo sắp xếp) làm đối tượng thắm mỹ chính, về tâm lí tỏ ra an nhiên, tự tại, ôn định”!?, trong khi đó thơ sơn thủy là “một thé tài độc lập của thơ ca, lấy thiên nhiên làm đối tượng thấm mỹ chủ yếu, thông qua cách miêu tả cảnh vật dé miêu tả tâm tình”. Điều đó cho thấy, trong quan niệm của Trần Trung Hy, ông đã có sự phân biệt sự khác nhau giữa thơ điền viên và thơ sơn thủy dựa trên góc nhìn từ đối tượng thẩm mỹ.
Trong đó, ông cho răng tho sơn thủy hướng đến tự nhiên cảnh và thơ điền viên lại hướng đến nhân vi cảnh. Ông nêu ra ví dụ trong sách Sơn thủy thi ca giám thưởng từ điển dé phân tích tương đối sâu về khái niệm sơn thủy thi trên cả ba phương diện (đối tượng thâm mỹ, mối quan hệ giữa chủ thé thâm mỹ và khách thể thâm mỹ, và van dé thé tài): “Gọi là thơ sơn !* Trần Trung Hy (2007), Tho Sơn Thủy cổ trung đại Trung Quốc, Nxb Giáo dục, Hà Nội. 11 15 thủy, tức là loại thơ lay cảnh sơn thủy tự nhiên làm đề tài. Nó viết về núi sông, về trời đất bao la, không chỉ đơn thuần miêu tả một cành hoa, một phiến đá, một cánh chim., tức chỉ là cảnh tự nhiên một cách khách quan mà là cảnh tự nhiên đã được thi nhân chủ quan hóa”.
Bên cạnh Tran Trung Hy, còn có Lê Nguyễn Lưu cũng là một tác giả có ý thức khu biệt hai tiểu loại thơ này. Trong lời giới thiệu công trình Duong thi tuyén dich, Lé Nguyễn Lưu đặc biệt lưu tâm đến việc phân loại sự khác biệt giữa sơn thuỷ với điền viên dựa theo những tiêu chí nhất định. Theo tác giả, thơ điền viên hướng đến việc miêu tả “sinh hoạt nông thôn hay cảnh ngộ nông dân", còn thơ sơn thuỷ có thé gọi là “thơ thiên nhiên” và thường hướng đến việc “miéu tả cảnh núi sông cây cỏ". Như vậy, Lê Nguyễn Luu đã đặt ra van dé so sánh hai thể loại dựa trên sự khác biệt trong cách lựa chọn đối tượng thầm mỹ.
Trong mục viết về Mạnh Hạo Nhiên, Lê Nguyễn Lưu bình luận: “Ông dùng hình thức có quy luật nghiêm khắc (ngũ luật, bài luật) để làm thơ sơn thủy. Ông miêu tả cảnh núi sông hùng tráng, kỳ vĩ, bao quát một không gian rộng lớn, đôi bài có khí thế bàng bạc, cách điệu hùng hồn (Lâm Động Đình, Tư Tầm Dương phiếm chỉ chỉ Minh hải tác). Ông sở trường tả cuộc sống u cư của người ân dật trong chốn núi rừng, ngôn ngữ bình thường mà cảm nghĩ sâu sắc, hàm súc, tình và cảnh xen lẫn nhau, sinh động và ý vị”. Bên cạnh đó, Lê Nguyễn Lưu còn nhận xét về Mạnh Hạo Nhiên như sau: “Ngoài ra, ông cũng làm một số thơ điền viên lời lẽ giản di, chân that, sinh động, nói lên tình cảm thân thiết giữa nhà tho và nông dân, tạo một không khí trong sáng, vui tươi”'”.
Tuy nhiên, trong suốt cuốn sách, không phải lúc nào tác giả cũng giữ nguyên hai cách gọi độc lập này. Khi bàn đến tác giả Vương Duy, tác giả đã xem xét và đặt vị trí của Vương Duy trong dòng chảy c ua lịch sử văn học như sau: “Đặc biệt, trong thời ky sau, thơ son !3 Trần Trung Hy (2007), Thơ Sơn Thủy cổ trung đại Trung Quốc, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.8 '* Xem thêm: Lê Nguyễn Lưu, Đường thi tuyển dich, tập 2, tr.1593-1594 'S Xem thêm:Lê Nguyễn Lưu, Đường thi tuyển dich, tập 2, tr.1954 ló thủy điền viên chiếm đa số, chất lượng nghệ thuật cũng cao, tạo nên một phong cách độc đáo, và là nét chủ yếu trong diện mạo của ông “Phật thơ”. Dù vậy, khi nhìn trên tổng thể, Lê Nguyễn Lưu vẫn là một nhà nghiên cứu có quan điểm tương đối rõ ràng trong việc phân loại hai khuynh hướng thơ này. Theo chủ kiến của chúng tôi, có thể phân biệt thơ sơn thủy và thơ điền viên dựa trên một số tiêu chí nhất định.
Tiêu chí thứ nhất, có thể phân loại dựa vào đặc điểm riêng biệt của hai kiểu khách thể thâm mỹ- thế giới tự nhiên được phản ánh. Thế giới khách thé trong thơ sơn thủy hướng phan nhiều đến yếu tố thiên tạo, còn khách thê trong thơ điền viên lại hướng đến yếu tố nhân tạo. Cảnh trong thơ điền viên thường là sân nhỏ, ao bé, ruộng vuông, nha cỏ, ngõ trúc, gà gáy,.; cảnh trong thơ sơn thủy thường là núi cao, vực thăm, sông dài, trời rộng. Thiên nhiên trong thơ sơn thủy nằm ngoài khả năng chế ngự và gọt déo của con người.
Ngược lại, thiên nhiên trong thơ điền viên lại mang đậm sắc màu nhân vi thôn dã. Thơ điền viên vẽ ra bức tranh về đời sống và sinh hoạt nơi xóm làng thanh đạm, tĩnh tịch từ đó làm tôn lên phong thái nhàn nhã, ung dung của những nhàn nhân an giả. Cảnh sắc tự nhiên và không gian sinh hoạt trong thơ điền viên mang sắc thái u tinh, đạm tịch, có nét gi đó cộng hưởng và hòa điệu với tâm thế và xúc cảm của nguoi ấn si thanh nhàn, tu tại, trong sạch, thoát tục, không hề vướng bận bụi bặm trần gian. Còn trong thơ sơn thủy, thế giới tự nhiên lại được hiện lên với một diện mạo khác.
Trong công trình Thi cách, Vương Xương Linh đã từng viết rằng: “Dục vi sơn thủy thi, tắc tương truyền thạch vân phong chỉ cảnh cực diễm lệ tú giả, thần chỉ vu tâm, thiên hậu dụng tư liễu nhiên cảnh tượng” (Gọi là thơ sơn thủy tức là biểu dương cái đẹp diễm lệ của suối đá mây gió, nắm bắt cái thần của cảnh và xúc động tâm tình, sau đó suy tư dé hiểu được ban chất của cảnh tượng) '”. Trong tho sơn thủy, "© Xem thêm:Lê Nguyễn Lưu, Đường thi tuyển dich, tập 2, tr.1622 !” Trần Trung Hy (2007), Tho Sơn Thủy cổ trung đại Trung Quốc, Nxb Giáo dục, Hà Nội, tr.8 17 chủ thé sáng tạo thường hóa thân vào một vị khách phong lưu và phiêu lãng. Tâm thé “đăng cao viễn vọng” của chủ thé sáng tạo đồng vọng tuyệt đối với núi mây không lồ. Ở giữa chốn nước non trùng điệp, nước chảy ngàn năm, cỏ cây hoang đại, con người và vũ trụ như đồng vọng và hợp nhất.
Tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở tiêu chí này mà đã vội quy kết thì chưa thực sự thuyết phục. Mặc dù có những điểm không tương đồng, nhưng việc phân biệt thơ điền viên và thơ sơn thủy không hoàn toàn dựa vào sự lựa chọn khách thê thâm mỹ. Bởi lẽ, khách thể tham mỹ trong cả hai dong thơ này đôi khi hòa lẫn và lồng quyện vào nhau. Thơ điền viên không chỉ có mỗi ruộng đồng, go bãi, vườn rau; cũng như thơ sơn thủy không chỉ có mỗi trời rộng, vực sâu, sông dài.
Trong hai dòng thơ này, cảnh tự nhiên đôi khi được điểm tô cùng cảnh nhân vi, cái nhân tạo nhỏ bé đôi khi lại sống động trong cái thiên tạo ngàn trùng. Vậy nên, mọi sự phân biệt suy cho cùng chỉ mang tính tương đối.