Khóa Luận Tốt Nghiệp: Phân Tích Giọng Điệu Thơ Nguyễn Bính Trước Cách Mạng Tháng Tám 1945

Khóa luận phân tích giọng điệu thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng Tháng Tám 1945, khám phá nét đặc sắc trong sáng tác và tư tưởng của ông.

Chuyên ngành

Văn học Việt Nam

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Khóa luận tốt nghiệp đại học

2018

64
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

MỞ ĐẦU

0.1. Lý do chọn đề tài

0.2. Lịch sử nghiên cứu

0.3. Mục đích nghiên cứu

0.4. Đối tượng nghiên cứu

0.5. Phạm vi nghiên cứu

0.6. Phương pháp nghiên cứu

0.7. Đóng góp của khóa luận

0.8. Bố cục của khóa luận

1. CHƯƠNG 1: NÉT CHÍNH VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG

1.1. Nét chính về cuộc đời Hồ Xuân Hương

1.2. Hoàn cảnh lịch sử, xã hội và tư tưởng văn hóa

1.3. Sự nghiệp sáng tác của Hồ Xuân Hương

1.3.1. Xuân Hương thi tập

1.3.2. Tập thơ Lưu hương ký

1.3.3. Thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương

1.3.4. Hồ Xuân Hương với Thơ Nôm Đường luật

1.3.5. Đóng góp của Hồ Xuân Hương với văn học dân tộc

1.4. Tiểu kết chương 1

2. CHƯƠNG 2: KẾT CẤU CHỮ NÔM VÀ CHỮ NÔM VAY MƯỢN TRONG THƠ NÔM TRUYỀN TỤNG HỒ XUÂN HƯƠNG

2.1. Kết cấu chữ Nôm

2.1.1. Khái niệm chữ Nôm

2.1.2. Quá trình hình thành và phát triển của chữ Nôm

2.1.3. Nguồn gốc chữ Nôm xuất hiện

2.1.4. Chữ Nôm trong văn chương

2.1.5. Chữ Nôm trong các văn bản hành chính

2.1.6. Kết cấu chữ Nôm

2.1.7. Khảo sát chữ Nôm vay mượn trong thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương

2.1.7.1. Âm Tiền Hán Việt
2.1.7.2. Âm Hán Việt Việt hóa
2.1.7.3. Những sự biến đổi âm đầu khác không thành xu hướng rõ rệt

2.2. Tiểu kết chương 2

3. CHƯƠNG 3: HƯỚNG TIẾP CẬN TÁC PHẨM TỰ TÌNH II CỦA HỒ XUÂN HƯƠNG TRONG NHÀ TRƯỜNG PHỔ THÔNG

3.1. Thực trạng giảng dạy tác phẩm trong nhà trường phổ thông

3.2. Tiếp cận tác phẩm từ đặc trưng thể loại

3.2.1. Đặc điểm thể loại thất ngôn bát cú Đường luật

3.2.2. Phương hướng tiếp cận tác phẩm Tự Tình (II) theo đặc trưng thể loại

3.3. Xác định nội dung và cách thức tiếp cận

3.3.1. Xác định kiến thức cơ bản

3.4. Tiểu kết chương 3

TÀI LIỆU THAM KHẢO

PHỤ LỤC

Tóm tắt

I. Giọng điệu thơ Nguyễn Bính

Giọng điệu thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng Tháng Tám 1945 mang đậm chất trữ tình, thể hiện tâm hồn nhạy cảm và tình yêu quê hương sâu sắc. Thơ ông thường sử dụng ngôn ngữ giản dị, gần gũi với đời sống dân dã, tạo nên sự đồng cảm lớn với độc giả. Thơ ca trước Cách mạng Tháng Tám 1945 là giai đoạn mà Nguyễn Bính thể hiện rõ nét phong cách riêng, kết hợp giữa truyền thống và hiện đại. Những bài thơ như 'Lỡ bước sang ngang', 'Chân quê' đã trở thành biểu tượng của tình yêu và nỗi nhớ quê hương.

1.1. Nghệ thuật thơ Nguyễn Bính

Nghệ thuật thơ Nguyễn Bính được đánh giá cao nhờ sự kết hợp tinh tế giữa ngôn ngữ dân gian và chất trữ tình lãng mạn. Ông sử dụng thể thơ lục bát một cách điêu luyện, tạo nên nhịp điệu mượt mà, dễ đi vào lòng người. Tác phẩm thơ Nguyễn Bính không chỉ phản ánh tâm tư của cá nhân mà còn là tiếng nói đại diện cho những người dân quê, những con người bình dị trong xã hội.

1.2. Phân tích giọng điệu thơ

Phân tích giọng điệu thơ của Nguyễn Bính cho thấy sự đa dạng trong cách thể hiện cảm xúc. Từ những lời thơ nhẹ nhàng, tha thiết đến những câu thơ đầy day dứt, ông đã khắc họa rõ nét tâm trạng của con người trong thời kỳ đầy biến động. Ngữ nghĩa trong thơ của ông thường mang tính biểu tượng, gợi mở nhiều tầng ý nghĩa sâu sắc.

II. Cảm xúc trong thơ Nguyễn Bính

Cảm xúc trong thơ Nguyễn Bính là yếu tố then chốt tạo nên sức hấp dẫn của tác phẩm. Ông thường thể hiện nỗi nhớ quê hương, tình yêu đôi lứa và những trăn trở về thân phận con người. Thơ ca Việt Nam trước 1945 chịu ảnh hưởng lớn từ những biến động lịch sử, và Nguyễn Bính đã khéo léo lồng ghép những cảm xúc cá nhân vào bối cảnh xã hội rộng lớn. Văn học Việt Nam trước 1945 ghi nhận ông là một trong những nhà thơ tiêu biểu của phong trào Thơ Mới.

2.1. Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính

Tình yêu trong thơ Nguyễn Bính được thể hiện qua những câu thơ đầy lãng mạn và chân thành. Ông thường viết về tình yêu đôi lứa với những nỗi niềm day dứt, khắc khoải. Những bài thơ như 'Tương tư', 'Người hàng xóm' đã trở thành biểu tượng của tình yêu trong thơ ca Việt Nam. Cảm xúc trong thơ Nguyễn Bính luôn chân thật, gần gũi, tạo nên sự đồng cảm sâu sắc với độc giả.

2.2. Bối cảnh xã hội và văn hóa

Văn hóa Việt Nam trước 1945 là bối cảnh quan trọng ảnh hưởng đến sáng tác của Nguyễn Bính. Ông sống trong thời kỳ đất nước chịu nhiều biến động, và điều này được phản ánh rõ nét trong thơ ông. Thơ ca trước Cách mạng Tháng Tám 1945 không chỉ là tiếng nói cá nhân mà còn là tiếng nói của cả một thế hệ, một dân tộc đang đứng trước những thử thách lớn lao.

III. Giá trị và ứng dụng thực tiễn

Khóa luận tốt nghiệp: Giọng điệu thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng Tháng Tám 1945 không chỉ có giá trị học thuật mà còn mang ý nghĩa thực tiễn sâu sắc. Nghiên cứu này giúp độc giả hiểu rõ hơn về phong cách và tư tưởng của Nguyễn Bính, đồng thời góp phần bảo tồn và phát huy giá trị của thơ ca Việt Nam. Văn học Việt Nam trước 1945 là giai đoạn quan trọng trong lịch sử văn học, và việc nghiên cứu sâu về các tác giả như Nguyễn Bính sẽ giúp chúng ta có cái nhìn toàn diện hơn về giai đoạn này.

3.1. Ý nghĩa học thuật

Khóa luận tốt nghiệp này đóng góp vào việc nghiên cứu và phân tích sâu hơn về giọng điệu thơ Nguyễn Bính. Nó cung cấp cái nhìn toàn diện về phong cách sáng tác của ông, từ đó giúp độc giả và các nhà nghiên cứu hiểu rõ hơn về giá trị của thơ ca Việt Nam trong giai đoạn trước 1945.

3.2. Ứng dụng thực tiễn

Nghiên cứu này có thể được ứng dụng trong việc giảng dạy và phổ biến thơ ca Việt Nam trong các trường học. Nó giúp học sinh và sinh viên hiểu rõ hơn về tác giả Nguyễn Bính và những đóng góp của ông đối với nền văn học dân tộc. Văn học Việt Nam trước 1945 là một phần quan trọng trong chương trình giáo dục, và nghiên cứu này sẽ góp phần làm phong phú thêm nội dung giảng dạy.

12/02/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Nét chính về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Xuân Hương Chương 2: Kết cấu của chữ Nôm và chữ Nôm vay mượn trong thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương Chương 3: Hướng tiếp cận tác phẩm Tự tình (II) của Hồ Xuân Hương trong trường phổ thông 9 NỘI DUNG Chƣơng 1. NÉT CHÍNH VỀ CUỘC ĐỜI VÀ SỰ NGHIỆP CỦA HỒ XUÂN HƢƠNG 1. Nét chính về cuộc đời Hồ Xuân Hƣơng 1. Hoàn cảnh lịch sử, xã hội và tư tưởng văn hóa Hồ Xuân Hương một nhà thơ nữ nổi tiếng của nền văn học dân tộc Việt Nam.

Tên tuổi của bà được lưu truyền rộng rãi trong dân gian và cả sau này người đời vẫn nhớ đến bà. Hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương là một hiện tượng đặc biệt, ở đây đặc biệt không chỉ là những cách tân trong nội dung và hình thức sáng tác trong thơ của bà mà còn đặc biệt về cuộc đời riêng tư của mình. Cho đến nay chưa có một tài liệu nghiên cứu nào chính xác về cuộc đời và sự nghiệp của bà. Đến cả năm sinh, năm mất cũng chưa một ai nắm rõ được, chỉ biết bà sống vào khoảng cuối triều nhà Lê đầu triều nhà Nguyễn, ở cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX.

Xã hội Việt Nam thời kì này có nhiều những biến động, để lại một dấu chấm lớn trong lịch sử. Cuối thế kỉ XVIII đầu thế kỉ XIX, cuộc chiến tranh giữa chúa Nguyễn và chúa Trịnh kéo dài suốt nửa thế kỉ khiến cho nhân dân Đàng trong cũng như Đàng ngoài rơi vào tình trạng khổ cực và điêu đứng. Kéo theo đó là sự suy tàn của xã hội phong kiến, giai cấp thống trị ngày càng xuống dốc, tha hóa khiến cho xã hội phong kiến lâm vào khủng hoảng trầm trọng. Mâu thuẫn giữa các giai cấp ngày càng trở nên sâu sắc, quyết liệt.

Từ những mâu thuẫn trong xã hội một cách sâu sắc như vậy thì cuộc khởi nghĩa của nhân dân được nổi lên đấu tranh một cách mạnh mẽ. Tiêu biểu là cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, cuộc khởi nghĩa này đã đập tan mọi xiềng xích của chế độ Lê - Trịnh - Nguyễn và hơn nữa đã lột trần bộ mặt xấu xa của những lễ giáo và đạo đức từng tồn tại trong chế độ phong kiến mục rỗng ấy. 10 Với cuộc khởi nghĩa bão táp này đã làm lay động nền tảng tư tưởng xã hội và ý thức hệ phong kiến bị đổ vỡ. Từ đó ảnh hưởng đến tư tưởng và nhận thức của nhiều người, theo Lã Nhâm Thìn “Trào lưu tư tưởng dân chủ, nhân văn phát triển mạnh mẽ, tác động đến ý thức con người thời đại, đặc biệt là tầng lớp nho sĩ tiến bộ, dẫn đến sự chuyển biến mạnh mẽ trong thế giới quan, thái độ chính trị và quan niệm đạo đức xã hội của các tác gia văn học” [8, t20].

Thời kì này, văn học phát triển một cách mạnh mẽ và nở rộ để lại một khối lượng tác phẩm đồ sộ cả về hình thức cũng như nội dung và thể loại. Chính yếu tố thời đại đã ảnh hưởng sâu sắc tới việc nhận thức và quan niệm sáng tác các tác phẩm văn chương của nhiều tác giả. Lúc này, văn học làm một nhiệm vụ tất yếu của nó đó là phản ánh sức mạnh của con người, của thời đại, của dân tộc, phơi bày cái mặt trái của xã hội; phản ánh số phận con người - đặc biệt là người phụ nữ với những nỗi khổ đau, vất vả, sự lam lũ, cam chịu cũng như khát vọng mãnh liệt về tình cảm, hạnh phúc, tự do, công lí… Văn học nửa cuối thế kỉ XVIII nửa đầu thế kỉ XIX là một giai đoạn văn học phát triển đỉnh cao của chữ Nôm. Với nhiều thể loại như: Thơ Nôm Đường luật, Khúc ngâm song thất lục bát, Truyện Nôm lục bát và thơ hát nói.

Đóng góp to lớn đó phải kể đến những tác giả tiêu biểu là “Bà chúa thơ Nôm” Hồ Xuân Hương, Nguyễn Du, Đoàn Thị Điểm… Như vậy, ta có thể thấy thời đại là yếu tố tất yếu ảnh hưởng đến cuộc đời cũng như những sáng tác của Hồ Xuân Hương. Thân thế Hồ Xuân Hương - một cái tên quen thuộc trong nền văn học dân tộc, nữ tác giả nổi tiếng trong nền lịch sử văn học dân tộc của Việt Nam. Nhưng rất ít ai biết chắc chắn về cuộc đời của bà. Bằng những tư liệu văn học và qua những nguồn thông tin từ những nghiên cứu trước đó (tuy chưa có cơ sở chắc chắn), nhưng các nhà nghiên cứu của nhiều thế hệ đã cố gắng vẽ nên hình 11 dáng cuộc đời của nhà thơ, mặc dù giữa họ còn những dị biệt, nhưng cũng đã có nhiều điểm tương đồng: Theo các nhà nghiên cứu đầu tiên về Hồ Xuân Hương như Nguyễn Hữu Tiến, Dương Quảng Hàm, Hồ Xuân Hương bà là con ông Hồ Phi Diễn (sinh 1704) ở làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An.

Ông thi đậu tú tài năm 24 tuổi dưới triều Lê Bảo Thái. Nhà nghèo không thể tiếp tục học, ông ra dạy học ở Hải Hưng, Hà Bắc, để kiếm sống. Tại đây ông đã lấy cô gái Bắc Ninh, họ Hà, làm vợ lẽ - Hồ Xuân Hương ra đời là kết quả của mối tình duyên đó. Nhưng theo một tài liệu mới được công bố (trên Tạp chí Văn học, số 10-1964) của nhà nghiên cứu văn học cố giáo sư Trần Thanh Mại, thì Hồ Xuân Hương có cùng quê quán, nhưng là con ông Hồ Sĩ Danh (1706-1783), em cùng cha với Hồ Sĩ Đống (1738-1786).

Có giai thoại cho rằng trước khi Hồ Xuân Hương ra đời gia đình thầy đồ Diễn dọn về ở phường Khán Xuân, huyện Vĩnh Thuận (gần Hồ Tây - Hà Nội bây giờ). Lúc Hồ Xuân Hương đã lớn, gia đình về thôn Tiên Thị, Tổng Tiên Túc, huyện Thọ Xương (nay là phố Lý Quốc Sư - Hà Nội). Ở tuổi thành niên, nữ sĩ có một ngôi nhà riêng dựng gần Hồ Tây, lấy tên là Cổ Nguyệt đường. Cổ Nguyệt đường: có thể là phòng văn, cũng có thể là nơi dạy học.

Điều chắc chắn đó là nơi diễn ra các cuộc bình thơ, tiếp bạn bè [6,t22]. Vì không có một tài liệu chính xác nào nói về cuộc đời Hồ Xuân Hương, nên các đoạn đời của Hồ Xuân Hương không thể sắp xếp một cách hợp lí được. Nhiều tài liệu cho biết, sau khi cha của bà mất Hồ Xuân Hương ở với mẹ, có đi học, sáng dạ, thông minh, nhưng không được học nhiều, thích làm thơ. Bà có một bạn thơ rất đỗi tri âm, tri kỉ là Chiêu Hổ.

Nhưng Chiêu Hổ là ai? Vẫn còn là một ẩn số? Hồ Xuân Hương cũng như bao người con gái cùng thời khác, khi đã trưởng thành thì lấy chồng. Nhưng cuộc đời của nữ sĩ ấy bất hạnh, có thuyết 12 nói rằng người chồng đầu tiên của bà đó là Tổng Cóc- một người cai tổng góa vợ. Sau khi ông tổng Cóc chết Hồ Xuân Hương đã làm thơ: Khóc Tổng Cóc. Người chồng thứ hai của bà là một ông thủ khoa làm quan tri phủ Vĩnh Tường, lấy bà làm vợ lẽ.

Nhưng hạnh phúc không được bao lâu thì ông phủ Vĩnh Tường mất, bà lại làm thơ để khóc chồng nhưng khóc khác với Tổng Cóc. Với bài thơ: Khóc ông phủ Vĩnh Tường bà đã khóc với biết bao suy nghĩ, bài thơ có sự tiếc thương nhưng lại không rõ sự yêu mến. Ngoài ra, nhiều tài liệu ghi chép giai thoại về Hồ Xuân Hương và Chiêu Hổ, nhưng cũng không rõ hai người làm bạn xướng họa với nhau vào thời gian nào. Ta có thể thấy được Hồ Xuân Hương lấy chồng nhưng đều chịu cảnh làm vợ lẽ, đây cũng là một yếu tố tác động đến những sáng tác của bà.

Ở một số cuốn sách nói rằng sau khi hai người chồng của mình qua đời thì Hồ Xuân Hương không vướng mắc gì nữa và thời gian tiếp đến Xuân Hương hay đi đó đây, du ngoạn cảnh đẹp ở khắp mọi nơi và bà đi đến đâu đều có thơ viết về những nơi bà đã đến như Vịnh Thăng Long hoài cổ, Trạo thanh ca, Hải ốc trù… Qua những vấn đề vừa nêu trên ta thấy Hồ Xuân Hương với một cuộc đời gặp nhiều trắc trở nhất trong chuyện tình duyên của bà. Sống trong hoàn cảnh xã hội phong kiến suy tàn, Hồ Xuân Hương đã mạnh dạn lên tiếng phê phán sâu sắc cái xã hội mục rỗng ấy và bà cảm thông cho số phận của người phụ nữ thời kì ấy. Từ những điều kiện trên nó chi phối ảnh hưởng sâu sắc tới những sáng tác thơ của Hồ Xuân Hương. Sự nghiệp sáng tác của Hồ Xuân Hƣơng Hồ Xuân Hương là nhà thơ Nôm nổi tiếng.

Bà đã để lại nhiều bài thơ độc đáo với phong cách thơ vừa thanh vừa tục và được mệnh danh là Bà chúa thơ Nôm (Xuân Diệu). Hồ Xuân Hương được coi là một trong những nhà thơ tiêu biểu của văn học Việt Nam, người ta nói đến hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương một phần cho ta thấy được nét độc đáo trong thơ ca của bà. Hồ Xuân 13 Hương có nhiều đóng góp đối với nền văn học dân tộc với các tác phẩm chữ Hán và chữ Nôm. Nhưng đến nay các tác phẩm của Hồ Xuân Hương vẫn còn nhiều tranh cãi rằng đó có phải thơ do chính bà sáng tác hay của ai khác? Các tác phẩm của bà đã bị mất nhiều, đến nay còn lưu truyền chủ yếu là những bài thơ chữ Nôm truyền miệng.

Xuân Hương thi tập Hầu hết di tác của nữ sĩ họ Hồ được gom trong cuốn Xuân Hương thi tập, Phúc Văn Đường tàng bản ấn hành tại Hà Nội năm 1930. Trong sách có khoảng 60 bài nhưng lẫn cả thơ của nhiều tác giả khác, nay chưa truy nguyên được tất cả. Tuy nhiên xuất xứ của tập thơ và một số bài thơ trong đó hiện nay vẫn còn là một ẩn số. Xuân Hương Thi Tập nói chung là tập thơ Nôm Đường luật, Xuân Diệu đã nhận xét rằng: “Xuân Hương chỉ chuyên dùng thể thơ thất ngôn luật Đường, thế mà không phút nào ta nghĩ nó là một điệu thơ nhập nội, thơ Xuân Hương cứ nôm na, bình dân, tự nhiên; lời cứ trong veo không gợn, đọc cứ thoải mái dễ thuộc; những câu đối nhau thì căn chỉnh già giặn đến ai cũng phải sợ mà vẫn như lời nói thường” [11,t157].

Điểm nổi bật của tập thơ là thơ của người phụ nữ viết về người phụ nữ phong kiến Việt Nam. Bên cạnh những chùm thơ than thân thân còn có những chùm thơ phản kháng lại lễ giáo phong kiến, bày tỏ quan điểm về vai trò của cuả người phụ nữ. Hồ Xuân Hương bày tỏ thái độ cảm thông đối với số phận người phụ nữ thời xưa.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Khóa luận tốt nghiệp: Giọng điệu thơ Nguyễn Bính trước Cách mạng Tháng Tám 1945 là một nghiên cứu chuyên sâu về phong cách và giọng điệu thơ của nhà thơ Nguyễn Bính trong giai đoạn trước Cách mạng Tháng Tám. Bài viết phân tích cách Nguyễn Bính sử dụng ngôn ngữ, hình ảnh và cảm xúc để phản ánh tâm trạng của con người và xã hội thời kỳ đó. Độc giả sẽ hiểu rõ hơn về sự độc đáo trong thơ Nguyễn Bính, cũng như cách ông gắn kết với bối cảnh lịch sử và văn hóa đương thời.

Nếu bạn quan tâm đến các nghiên cứu tương tự về văn học Việt Nam, hãy khám phá Luận án toàn văn hồi ký tự truyện hiện đại Việt Nam từ góc nhìn diễn ngôn thể loại để hiểu sâu hơn về diễn ngôn trong văn học. Bên cạnh đó, Luận văn tính chất triết luận trong văn xuôi Nguyễn Khải thời kì đổi mới cung cấp cái nhìn chi tiết về yếu tố triết lý trong tác phẩm của một nhà văn nổi tiếng khác. Cuối cùng, Luận văn thế giới nghệ thuật trong truyện ngắn Đỗ Chu sẽ mở rộng hiểu biết của bạn về nghệ thuật kể chuyện trong văn học hiện đại. Mỗi liên kết là cơ hội để bạn khám phá thêm những góc nhìn phong phú và sâu sắc về văn học Việt Nam.