Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp đại học chuyên ngành Văn học Việt Nam với đề tài Kết cấu chữ Nôm và chữ Nôm vay mượn trong thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương được thực hiện bởi sinh viên Nguyễn Thị Bích Thúy (Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội 2, năm 2018), dưới sự hướng dẫn khoa học của TS. Nguyễn Thị Thanh Vân.

Văn học Việt Nam giai đoạn thế kỷ XVIII - nửa đầu thế kỷ XIX được định danh là "giai đoạn hoàng kim" của văn học trung đại với sự nở rộ của văn học chữ Nôm qua các thể loại: thơ Nôm Đường luật, khúc ngâm song thất lục bát, truyện Nôm lục bát và thơ hát nói. Trong dòng chảy đó, Hồ Xuân Hương là tác giả tiêu biểu có đóng góp nổi bật trong việc đưa thể loại thơ Nôm Đường luật phát triển đến đỉnh cao thông qua quá trình dân tộc hóa và dân chủ hóa sâu sắc cả về nội dung tư tưởng lẫn hình thức biểu đạt. Bên cạnh giá trị tư tưởng nhân đạo hướng về số phận và tiếng nói của người phụ nữ, tác phẩm của bà còn thể hiện nghệ thuật sử dụng văn tự chữ Nôm điêu luyện. Chữ Nôm là hệ thống văn tự do người Việt sáng tạo trên cơ sở chữ Hán, bao gồm hai phương thức cấu tạo cơ bản: chữ Nôm vay mượn và chữ Nôm tự tạo. Việc khảo sát các quy luật cấu tạo chữ Nôm, đặc biệt là nhóm chữ Nôm vay mượn trong thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương, là một hướng tiếp cận kết hợp giữa văn bản học Hán Nôm, ngôn ngữ học lịch sử và thi pháp học trung đại.

Nhiệm vụ và mục tiêu nghiên cứu của khóa luận được xác định cụ thể:

  1. Tổng thuật bối cảnh lịch sử, xã hội, thân thế và diện mạo sự nghiệp sáng tác của Hồ Xuân Hương; làm rõ vị trí của thể thơ Nôm Đường luật trong tiến trình văn học dân tộc.
  2. Khái quát lịch sử hình thành, phát triển và hệ thống phân loại kết cấu chữ Nôm trong văn hiến cổ điển Việt Nam.
  3. Khảo sát, thống kê và phân tích cấu tạo nhóm chữ Nôm vay mượn trong hệ thống 48 bài thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương theo ba bình diện ngữ âm: âm Tiền Hán Việt, âm Hán Việt Việt hóa và âm Hán Việt.
  4. Đánh giá thực trạng dạy học và đề xuất phương hướng tiếp cận tác phẩm Tự tình (II) của Hồ Xuân Hương trong chương trình Ngữ văn lớp 11 cấp Trung học phổ thông dựa trên đặc trưng thể loại thất ngôn bát cú Đường luật.

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các bài thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương. Phạm vi ngữ liệu được khảo sát gồm 48 bài thơ Nôm truyền tụng in trong cuốn Hồ Xuân Hương - tác phẩm và lời bình (Tuấn Thành - Anh Vũ, NXB Văn học, tái bản lần 3, 2017) và đối chiếu với cuốn Thơ Nôm Hồ Xuân Hương (Hội Nhà văn, 2008), cùng trọng tâm nghiên cứu ứng dụng là bài thơ Tự tình (II) trong sách giáo khoa Ngữ văn 11 hiện hành.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận vận dụng hệ thống cơ sở lý luận về văn tự học Hán Nôm và thi pháp học văn học trung đại. Về mặt văn tự học, tác giả kế thừa các công trình nghiên cứu nền tảng:

  • Công trình Chữ Nôm nguồn gốc - cấu tạo - diễn biến (1975) của Đào Duy Anh về nguồn gốc thời Lý - Trần và các phương thức tạo chữ.
  • Công trình Lý thuyết chữ Nôm văn Nôm (2003) của Nguyễn Ngọc San về hệ thống kết cấu chữ Nôm tự tạo và chữ Nôm vay mượn.
  • Lý thuyết về các giai tầng ngữ âm lịch sử tiếng Hán du nhập vào tiếng Việt, bao gồm: âm Hán Thượng cổ (thời Tiên Tần, Lưỡng Hán đến Ngụy Tấn) tạo nên tầng âm Tiền Hán Việt (Hán Việt cổ); âm Hán Trung cổ (thời Tùy, Đường, Tống) tạo nên hệ thống âm Hán Việt chuẩn hóa; và tầng âm Hán Việt Việt hóa do các quy luật biến âm nội tại của tiếng Việt tác động sau quá trình Hán Việt hóa.

Hệ thống phương pháp nghiên cứu bao gồm:

  • Phương pháp văn bản văn học Hán Nôm: Khảo sát tự dạng, dị bản, cách ghi âm và xác định tư cách văn bản của các bài thơ Nôm truyền tụng.
  • Phương pháp phân tích văn học: Làm rõ nội dung hiện thực, tư tưởng nhân đạo, nghệ thuật trào phúng và giá trị thẩm mỹ của tác phẩm.
  • Phương pháp phân tích lịch sử: Đặt hiện tượng thơ Hồ Xuân Hương và sự phát triển của văn tự Nôm vào bối cảnh lịch sử - xã hội thời Lê mạt - Tây Sơn - Nguyễn sơ.
  • Phương pháp thống kê: Tập hợp, phân loại và lập danh mục các cứ liệu chữ Nôm vay mượn trong 48 văn bản thơ Nôm khảo sát.
  • Phương pháp kết cấu - hệ thống: Khảo sát mối liên hệ giữa các yếu tố ngữ âm, tự dạng và ngữ nghĩa của chữ Nôm trong toàn bộ chỉnh thể hệ thống thơ truyền tụng.
  • Các thao tác bổ trợ: So sánh, đối chiếu các hiện tượng ngữ âm học lịch sử giữa âm Hán Việt, Tiền Hán Việt và âm Việt hóa.

Nguồn dữ liệu của khóa luận dựa trên 48 bài thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương, các thư tịch văn bia Hán Nôm thời trung đại, cùng các tài liệu nghiên cứu chuyên khảo của Xuân Diệu, Đào Thái Tôn, Đỗ Lai Thúy, Lã Nhâm Thìn, Trần Thanh Mại và Hoàng Xuân Hãn.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Nét chính về cuộc đời và sự nghiệp của Hồ Xuân Hương

Chương 1 tái hiện hoàn cảnh lịch sử đầy biến động của xã hội phong kiến Việt Nam cuối thế kỷ XVIII - đầu thế kỷ XIX với sự suy tàn của chế độ phong kiến Lê - Trịnh, phong trào nông dân Tây Sơn bùng nổ làm sụp đổ các tập đoàn phong kiến cát cứ, tạo điều kiện cho trào lưu dân chủ và nhân văn phát triển mạnh mẽ. Về thân thế, tác giả điểm lại các giả thuyết nghiên cứu từ Nguyễn Hữu Tiến, Dương Quảng Hàm (cho rằng bà là con ông Hồ Phi Diễn, sinh năm 1704, quê làng Quỳnh Đôi, huyện Quỳnh Lưu, Nghệ An, mẹ là thiếp người Bắc Ninh) đến tư liệu của GS. Trần Thanh Mại công bố năm 1964 (cho rằng bà là con ông Hồ Sĩ Danh, 1706-1783, em cùng cha khác mẹ với Hồ Sĩ Đống). Nữ sĩ từng sống ở phường Khán Xuân, thôn Tiên Thị (huyện Thọ Xương), dựng Cổ Nguyệt đường gần Hồ Tây để ngâm vịnh và giao lưu văn hữu (như Chiêu Hổ). Cuộc đời tình duyên của bà gặp nhiều trắc trở khi trải qua hai lần làm lẽ (Tổng Cóc và Tri phủ Vĩnh Tường) rồi đều sớm chịu cảnh góa bụa, sau đó đi du ngoạn nhiều danh lam thắng cảnh và để lại các bài thơ đề vịnh.

Về sự nghiệp sáng tác, chương này phân tích diện mạo các bộ phận trước tác:

  • Xuân Hương thi tập (bản in Phúc Văn Đường, 1930) gồm khoảng 60 bài thơ Nôm truyền tụng.
  • Tập thơ Lưu hương ký (Trần Thanh Mại phát hiện năm 1964) gồm 24 bài thơ chữ Hán và 28 bài thơ chữ Nôm mang phong cách trữ tình, hiền hòa, dùng nhiều từ Hán Việt.
  • Bộ phận thơ chữ Hán gồm 5 bài do học giả Trần Văn Giáp công bố năm 1962 và Hoàng Xuân Hãn dịch nghĩa năm 1984: Hải ốc trù, Nhãn phóng thanh, Độ hoa phong, Trạo ca thanh, Thủy vân hương.
  • Vị trí của Hồ Xuân Hương đối với thể thơ Nôm Đường luật: Khẳng định đóng góp cốt lõi của bà là "dân chủ hóa" thể loại, đưa đời sống thường nhật, khẩu ngữ dân gian, hình ảnh phong phìu tục - thanh vào một cấu trúc thi pháp nghiêm ngặt, chấm dứt việc dùng câu thơ lục ngôn xen kẽ để xác lập đỉnh cao cho thơ Nôm Đường luật hoàn chỉnh.

Chương 2: Kết cấu chữ Nôm và chữ Nôm vay mượn trong thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương

Chương 2 trình bày toàn diện lý thuyết về văn tự Nôm và đi sâu vào phân tích ngữ liệu chữ Nôm vay mượn trong 48 bài thơ khảo sát. Văn bản chữ Nôm xuất hiện sớm qua các cứ liệu khảo cổ như chuông chùa Vân Bản (Đồ Sơn, đúc năm 1076 thời Lý Nhân Tông có hai chữ "Ông Hà") hay bia chùa Tháp Miếu (Yên Lãng, năm 1210 thời Lý Cao Tông có hơn 20 chữ Nôm). Trải qua các thế kỷ, văn học Nôm phát triển rực rỡ với các tác phẩm lớn: Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi (254 bài), Hồng Đức quốc âm thi tập (328 bài), Bạch Vân quốc ngữ thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm (khoảng 170 bài), Lâm tuyền kỳ ngộ (146 bài bát cú và 1 bài tứ tuyệt), Thiên Nam ngữ lục (8.136 câu lục bát), cho đến kiệt tác Truyện Kiều của Nguyễn Du.

Khóa luận tổng kết hệ thống phân loại kết cấu chữ Nôm thành hai nhóm chính:

  • Chữ Nôm vay mượn (6 tiểu loại): ghi tiếng Hán Việt (學 - học); ghi âm Hán cổ (房 - buồng); ghi âm Việt cổ (馬 - mựa); mượn nghĩa (而 - mà); mượn âm chính xác (半 - bán); mượn âm đọc chệch (固 - có).
  • Chữ Nôm tự tạo (5 tiểu loại): mượn chữ Hán thêm dấu phụ (乃 - nảy); ghép hai âm chữ Hán (禥 - sang, ghép từ cự + lang); ghép hai chữ biểu nghĩa (mệt, ghép từ 亡 vong + 力 lực); ghép một chữ biểu âm và một chữ biểu nghĩa (禥 - mở, ghép từ 美 mỹ + 開 khai); chữ viết giản thể đọc theo nghĩa (乄 - làm, từ chữ 為 vi).

Trong 48 bài thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương, tác giả phân tích chi tiết ba tầng ngữ âm của chữ Nôm vay mượn:

Tầng ngữ âm chữ Nôm vay mượn Quy luật biến đổi ngữ âm tiêu biểu Cứ liệu chữ Nôm minh họa trong thơ Hồ Xuân Hương
Âm Tiền Hán Việt (Nguồn gốc từ âm Hán Thượng cổ thời Tiên Tần - Ngụy Tấn) - Bảo lưu phụ âm đầu và cấu trúc vần cổ
- Tiêu biến bán âm /i/
- Chuyển hóa nguyên âm /ưa/ > /ư/
- Vần /o/ chuyển sang /uo/
- Thanh mẫu /r/ cổ chuyển thành âm đầu /l/
- 放 (buông - phóng), 房 (buồng - phòng), 煩 (buồn - phiền), 舞 (múa - vũ), 晚 (muộn - vãn), 望 (mong - vọng), 霧 (mù - vụ), 誇 (khoe - khoa), 盞 (chén - trản), 斬 (chém - trảm), 限 (hẹn - hạn), 察 (xét - sát)
- 主 (chúa - chủ), 注 (chua - chú), 須 (tua - tu), 重 (chuộng - trọng), 驅 (khua - khu), 鍾 (chuông - chung)
- 驢 (lừa - lư), 御 (ngừa - ngự), 貯 (chứa - trữ), 似 (tựa - tự)
- 皮/碑 (bia - bì/bi), 惜 (tiếc - tích), 隻 (chiếc - chích), 碧 (biếc - bích), 丸 (hòn/yon - hoàn/yuon)
- 簾 (rèm - liêm), 梁 (rường - lương), 龍 (rồng - long); 叫 (kêu - khiếu), 梗 (cành - ngạnh)
Âm Hán Việt Việt hóa (Âm Hán Việt biến đổi theo quy luật ngữ âm tiếng Việt) - Hữu thanh hóa (/k/ > /g/, /ch/ > /gi/)
- Xát hóa (/đ/ > /d/, /b/ > /v/, /hw/ > /v/)
- Mũi hóa (/d/ > /n/, /b/ > /m/, /gi/ > /nh/)
- Biến đổi âm đầu lẻ tẻ (/k/ > /kh/, /t/ > /th/, /s/ > /th/, /s/ > /t/, /th/ > /s/)
- Biến đổi phần vần (giữ nguyên âm dòng giữa/sau và âm cuối; chỉ giữ âm cuối)
- Biến thể dân gian
- 肝 (gan - can), 几 (ghế - kỷ), 寄 (gửi - kí), 寡 (góa - quả), 筋 (gân - cân); 紙 (giấy - chỉ), 正 (giêng - chính), 種 (giống/giồng - chủng), 争 (giành - tranh)
- 停 (dừng - đình), 篤 (dốc - đốc), 帶 (dải - đái), 刀 (dao - đao); 本 (vốn - bản), 板 (ván - bản), 壁 (vách - bích), 補 (vá - bổ); 劃 (vẽ - họa), 回 (về - hồi), 丸 (viên - hoàn), 完 (vẹn - hoàn)
- 毒 (nọc - độc), 盤 (mâm - bàn), 家 (nhà - gia)
- 巾 (khan - cân), 錫 (thiếc - tích), 粟 (thóc - túc), 繡 (thêu - tú), 所 (thửa - sở), 紗 (the - sa), 灑 (tưới - sái), 鐵 (sắt - thiết)
- 初 (xưa - sơ), 事 (thờ - sự), 爐 (lò - lô), 庫 (kho - khố), 共 (cùng - cộng), 桶 (thùng - thống), 散 (tan/tản - tán), 銀 (ngần - ngân); 源 (nguồn - nguyên), 嘲/棹 (chèo - trào/trạo), 説 (thốt - thuyết), 生 (sống - sinh)
- 夷 (rợ - di), 卜 (bói - bốc), 瓦 (ngói - ngõa), 仰 (ngửa - ngưỡng)
Âm Hán Việt (Đọc theo âm Hán Trung cổ chuẩn hóa) - Tuân thủ nguyên tắc một chữ Hán hạn chế tối đa việc dùng nhiều âm đọc trong chữ Nôm
- Ưu tiên lựa chọn các âm Hán Việt quen thuộc để biểu đạt chính xác âm tiếng Việt
- 台 (đài, hai, di, thai), 司 (tư, ti, tứ), 合 (hợp, cáp), 呼 (hô, há), 唇 (thần, chân), 圜 (hoàn, viên), 土 (thổ, đỗ), 塗 (đồ, trà)
- Phân biệt mặt chữ: dùng 度 cho âm "độ", dùng 鐸 cho âm "đạc"; âm "phiết" dùng 丿, âm "ảnh" dùng 影, âm "đỗ" dùng 杜

Chương 3: Hướng tiếp cận tác phẩm Tự tình II của Hồ Xuân Hương trong nhà trường phổ thông

Chương 3 khảo sát thực trạng giảng dạy tác phẩm văn học trung đại nói chung và bài thơ Tự tình (II) của Hồ Xuân Hương trong chương trình Ngữ văn 11 (Tập 1) cấp THPT. Thực tế cho thấy đa số giáo viên tập trung khai thác nội dung chủ đề mà chưa chú trọng khai thác đặc trưng thi pháp thể loại thất ngôn bát cú Đường luật. Đồng thời, học sinh lớp 11 (độ tuổi 16-17) gặp phải "khoảng cách tiếp nhận" lớn do các rào cản về bối cảnh lịch sử - văn hóa phong kiến, thân phận người phụ nữ chịu áp bức bởi đạo "tam tòng", cũng như hệ thống từ ngữ cổ, thi liệu và điển cố.

Tác giả đề xuất phương hướng tiếp cận bài thơ Tự tình (II) theo đúng đặc trưng thi pháp thể loại:

  • Khai thác quy luật bằng trắc, niêm luật, vần, phép đối và cấu trúc bốn phần chuẩn mực của thể thơ thất ngôn bát cú Đường luật (Đề - Thực - Luận - Kết).
  • Phân tích sự sáng tạo phá cách của Hồ Xuân Hương trong việc đưa ngôn ngữ đời sống, các động từ mạnh mang tính cựa quậy, bứt phá (xiên ngang, đâm toạc) và các từ láy tạo hình, biểu cảm vào trong khuôn khổ nghiêm ngặt của thể luật Đường.
  • Hướng dẫn học sinh giải mã văn bản từ cấu trúc thể loại để thấu hiểu bi kịch duyên phận và bản lĩnh phản kháng của nhân vật trữ tình.

Kết quả và đóng góp

  1. Về kết quả khảo sát ngữ liệu: Khóa luận đã hệ thống hóa và phân loại toàn bộ hệ thống chữ Nôm vay mượn trong 48 văn bản thơ Nôm truyền tụng Hồ Xuân Hương, chứng minh rằng cấu tạo chữ Nôm trong thơ bà gồm đầy đủ ba tầng ngữ âm học lịch sử: âm Tiền Hán Việt, âm Hán Việt Việt hóa (qua các cơ chế hữu thanh hóa, xát hóa, mũi hóa và biến đổi ngữ âm dòng vần) và âm Hán Việt chuẩn hóa. Khóa luận bác bỏ quan niệm sai lầm coi các âm Hán Việt Việt hóa là chữ Nôm đọc theo nghĩa.
  2. Đóng góp về mặt học thuật và văn bản học: Khóa luận cung cấp cứ liệu khoa học khẳng định sự điêu luyện của Hồ Xuân Hương trong việc vận dụng tối đa các khả năng ngữ âm của chữ Hán để ghi lại phong phú vốn từ vựng thuần Việt, lời ăn tiếng nói dân gian; làm rõ nguyên tắc tiết kiệm tự dạng và chuẩn hóa âm đọc của chữ Nôm trung đại.
  3. Đóng góp về mặt phương pháp sư phạm: Khóa luận xây dựng quy trình tiếp cận thi phẩm Tự tình (II) từ góc độ thể loại thất ngôn bát cú Đường luật kết hợp giải mã ngôn ngữ văn bản, giúp giáo viên và học sinh phổ thông khắc phục khoảng cách tiếp nhận đối với văn học trung đại.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế: Do nguồn tư liệu lịch sử và văn bản học về Hồ Xuân Hương còn nhiều điểm tồn nghi, khóa luận giới hạn phạm vi khảo sát trong 48 bài thơ Nôm truyền tụng được tuyển chọn từ các ấn phẩm hiện đại (năm 2008 và 2017) mà chưa bao quát toàn bộ 139 bài thơ truyền tụng theo thống kê của Đào Thái Tôn hay toàn bộ tập thơ Lưu hương ký.
  • Hướng mở rộng: Khóa luận định hướng mở rộng khảo sát đối chiếu cấu tạo chữ Nôm giữa bộ phận thơ Nôm truyền tụng và tập thơ Lưu hương ký; đồng thời so sánh đặc điểm sử dụng chữ Nôm vay mượn của Hồ Xuân Hương với các tác gia thơ Nôm Đường luật cùng thời kỳ (như Bà Huyện Thanh Quan) và các tác phẩm truyện Nôm trung đại.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là tài liệu tham khảo cho sinh viên, học viên cao học và giảng viên chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn, Văn học Việt Nam và Hán Nôm học. Phần thống kê, phân loại ngữ âm học chữ Nôm ở Chương 2 có giá trị thiết thực đối với việc nghiên cứu lịch sử tiếng Việt và phương pháp đọc dịch văn bản Nôm. Phần thiết kế tiến trình tiếp cận tác phẩm Tự tình (II) ở Chương 3 là tài liệu tham khảo bổ ích cho giáo viên THPT trong việc đổi mới phương pháp dạy học tác phẩm văn học trung đại theo đặc trưng thể loại.

Câu hỏi thường gặp

  1. Khóa luận khảo sát bao nhiêu bài thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương và lấy từ nguồn tài liệu nào?
    Khóa luận khảo sát hệ thống gồm 48 bài thơ Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương, được thu thập chủ yếu từ cuốn Hồ Xuân Hương - tác phẩm và lời bình (Tuấn Thành - Anh Vũ, NXB Văn học, tái bản lần 3 năm 2017) và đối chiếu với tập Thơ Nôm Hồ Xuân Hương (NXB Hội Nhà văn, 2008).

  2. Chữ Nôm được phân loại thành những kiểu kết cấu cơ bản nào theo khóa luận?
    Chữ Nôm được chia thành hai nhóm chính: nhóm chữ Nôm vay mượn (gồm 6 tiểu loại: ghi tiếng Hán Việt, ghi âm Hán cổ, ghi âm Việt cổ, mượn nghĩa, mượn âm chính xác, mượn âm đọc chệch) và nhóm chữ Nôm tự tạo (gồm 5 tiểu loại: mượn chữ Hán thêm dấu phụ, ghép hai âm chữ Hán, ghép hai chữ biểu nghĩa, ghép chữ biểu âm với chữ biểu nghĩa, và chữ Hán giản thể đọc theo nghĩa).

  3. Âm Tiền Hán Việt trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương có nguồn gốc từ đâu và biểu hiện qua những ví dụ cụ thể nào?
    Âm Tiền Hán Việt xuất phát điểm từ hệ thống âm Hán Thượng cổ tồn tại từ thời Tiên Tần - Lưỡng Hán đến Ngụy Tấn. Trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương, tầng âm này biểu hiện qua các chữ như: 放 (buông / phóng), 房 (buồng / phòng), 煩 (buồn / phiền), 舞 (múa / vũ), 晚 (muộn / vãn), 望 (mong / vọng), 霧 (mù / vụ), 盞 (chén / trản), 簾 (rèm / liêm), 梁 (rường / lương), 叫 (kêu / khiếu), 梗 (cành / ngạnh).

  4. Quá trình Hán Việt Việt hóa diễn ra theo những xu hướng ngữ âm chủ yếu nào trong thơ của bà?
    Quá trình Hán Việt Việt hóa trong thơ Nôm Hồ Xuân Hương diễn ra qua các quy luật: hữu thanh hóa (/k/ > /g/, /ch/ > /gi/), xát hóa (/đ/ > /d/, /b/ > /v/, /hw/ > /v/), mũi hóa (/d/ > /n/, /b/ > /m/, /gi/ > /nh/), một số biến đổi âm đầu riêng lẻ (/k/ > /kh/, /t/ > /th/, /s/ > /th/...) và các biến đổi về mặt nguyên âm dòng giữa/dòng sau.

  5. Giải pháp sư phạm nào được đề xuất để nâng cao hiệu quả giảng dạy bài thơ Tự tình (II) ở trường THPT?
    Khóa luận đề xuất khắc phục rào cản "khoảng cách tiếp nhận" của học sinh bằng cách tiếp cận bài thơ dựa trên thi pháp thể loại thất ngôn bát cú Đường luật (luật bằng trắc, niêm, vần, đối, kết cấu bốn phần Đề - Thực - Luận - Kết) kết hợp với việc phân tích nghệ thuật dùng từ ngữ Nôm độc đáo, giàu sức biểu cảm của tác giả.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Nguyễn Thị Bích Thúy đã giải quyết một cách có hệ thống vấn đề kết cấu chữ Nôm và chữ Nôm vay mượn trong 48 thi phẩm Nôm truyền tụng của Hồ Xuân Hương. Bằng các phương pháp văn bản học Hán Nôm và phân tích ngữ âm học lịch sử, công trình đã làm sáng tỏ cơ chế mượn âm Hán Thượng cổ, âm Hán Việt chuẩn và âm Hán Việt Việt hóa trong sáng tác của nữ sĩ họ Hồ. Đồng thời, khóa luận đã liên hệ thực tiễn giảng dạy khi đề xuất quy trình tiếp cận tác phẩm Tự tình (II) theo đặc trưng thể loại thi luật Đường, mang lại giá trị thiết thực cho nghiên cứu học thuật và phương pháp dạy học Ngữ văn.